Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

GIÁO DỤC PHÁP-- VIỆT Ở NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX. *

                                                                                                        Đặng Thị Vân Chi

                    Từ cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp và xã hội Việt Nam nhanh chóng nằm trong quỹ đạo của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các chương trình khai thác thuộc địa, Pháp cũng sớm chú ý đến việc thay đổi hệ thống giáo dục tại Việt Nam. Việc thay đổi hệ thống giáo dục mà Pháp thực hiện ở Việt Nam được chia thành nhiều đợt và diễn ra từ từ.

           Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, nơi nền giáo dục Hán học và truyền thống khoa cử vẫn đang tồn tại vững chắc với hệ thống các trường học có mặt khắp các tỉnh thành, phố huyện cho tới các xã, thôn với số lượng học sinh cũng như các sĩ tử đăng ký tham dự các kỳ thi Hương có xu hướng ngày càng tăng thì từ năm 1897, sau khi dập tắt về cơ bản các cuộc phản kháng do tầng lớp văn thân sĩ phu lãnh đạo, cùng với việc triển khai chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Pháp bắt đầu can thiệp vào các kỳ thi Hương. Cùng với đó, Pháp cho lập trường Hậu bổ ở Hà Nội để dạy tiếng Pháp và quốc ngữ cho những người đã đậu kỳ thi hương muốn được tuyển dụng vào ngạch quan trường và đến năm 1900 Pháp chính thức quy định bổ sung bài thi tiếng Pháp và quốc ngữ vào các kỳ thi hương.

          Đầu thế kỷ XX, để đẩy mạnh việc cải tổ nền giáo dục Nho học theo mục đích, chương trình và phương pháp của các trường Pháp -Việt, đồng thời nhanh chóng mở rộng hệ thống trường Pháp -Việt ra toàn cõi Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau ra Nghị định về việc thành lập Nha học chính Đông Dương ngày 14-11-1905 và Nghị định thành lập Hội đồng Cải lương học chính bản xứ ngày 8-3-1906.

         Cùng với việc triển khai chương trình cải cách này Pháp cũng tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp và quốc ngữ.

         Bên cạnh hệ thống trường học, chính quyền thực dân còn cho thành lập một số viện nghiên cứu như: Viện Vi trùng học Sài Gòn (1891), Nha Trang (1896), Hà Nội (năm 1900) và Viện Viễn Đông Bác cổ (1898) Nha khí tượng (1898), sở Địa chất (1899)...Đầu thế kỷ XX, Pháp cho thành lập một số trường Đại học và cao đẳng, trường dậy nghề như Đại học Đông Dương, Khoa Pháp Lý thuộc đại học Đông Dương,  Trường Đại học Y dược, Thú y, Luật khoa, Sư phạm, Nông nghiệp  và Lâm nghiệp, trường Công chính, trường Thương mại...

         Ở Nam Định, cho đến năm 1900 mới có 4 trường Pháp – Việt.

        Trường tiểu học Pháp – Việt ở phủ Xuân Trường được thành lập từ khá sớm, vào năm 1897. Trường được xây theo đúng kiểu kiến trúc mà Sở học chính quy định, giống như các trường tiểu học khác ở Bắc Kỳ gồm 3 phòng học, (sau này được xây thêm 2 phòng nữa), mái lợp ngói, tường gạch có cửa kính, hành lang và sân trường rộng rãi. Tuy nhiên, từ khi thành lập cho đến năm 1924, trường chỉ dạy ở bậc sơ học. Chương trình sơ học (Ấu học) gồm 3 năm, chủ yếu học chữ Hán và chữ quốc ngữ, nếu có nhu cầu học thêm tiếng Pháp thì sẽ có giáo viên dạy các trường tiều học Pháp - Việt về dạy thêm một số giờ. Học xong chương trình, học sinh qua một kỳ thi tuyển sinh để lấy bằng tuyển sinh, có giá trị tương đương bằng Sơ học yếu lược sau này.

          Thời kỳ đầu trường chỉ thu hút được học sinh từ các làng công giáo trong Phủ như Ngọc Cục, Lục Thủy, Liên Thủy, Bùi Chu, Phú Nhai, Trung Linh theo học, còn làng có truyền thống khoa cử như làng Hành Thiện thì không một gia đình nào cho con em mình đến trường (vì không muốn học chữ của Tây), mặc dù để khuyến khích, công sứ Nam Định còn cấp phát sách vở, cấp học bổng cho học sinh. Học xong bậc sơ học muốn học tiếp chương trình tiểu học, học sinh phải lên Nam Định học tiểu học 3 năm để lấy bằng Khóa sinh, tương đương với bằng Tiểu học Pháp -Việt. Nội dung học cũng gồm cả Hán văn, Quốc ngữ và tiếng Pháp. Các môn sử, địa, toán, cách trí, khoa học thường thức học bằng Quốc ngữ khoảng 30 giờ 1 tuần, còn Hán văn học khoảng 10 giờ /1 tuần với các sách Tứ thư (trừ Trung dung không học) nhưng đã được biên soạn lại và các sách khác như Chính biên toát yếu, Luật lệ toát yếu, Việt sử tổng vịnh, An Nam sơ học sử lược, Nam quốc địa dư, Đông Dương chính trị …Tiếng Pháp học khoảng 10giờ /1 tuần cho tập đọc, tập làm văn, hội thoại. Cuối khóa thi lấy bằng khóa sinh và được miễn sưu dịch 3 năm. Ở bậc trung học, học sinh vẫn học với cả 3 ngôn ngữ, Quốc ngữ, Hán văn và tiếng Pháp, học xong có thể thi lấy bằng Thí sinh và được tham dự kỳ thi Hương. Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thế kỷ XX, đa số học sinh vẫn học tại các trường Hán học của các đại khoa trong vùng, nên sau này nhiều người bỏ không tham dự các kỳ thi hương đòi hỏi phải làm bài bằng Quốc ngữ và tiếng Pháp.

         Từ trước khi có trường theo kiểu trường tiểu học Pháp -Việt, những người muốn học Quốc ngữ và tiếng Pháp phải tự tìm chỗ học như ông Đặng Hữu Nữu người làng Hành Thiện, ông đã đậu cử nhân và là người đầu tiên của làng Hành Thiện học Quốc ngữ và tiếng Pháp vì vậy ngay từ năm 1989, ông đã thi đậu kỳ thi tuyển Ký lục và đến năm 1903 ông được bổ làm Tri huyện. Cũng có người xin học dự bị trường Hậu Bổ như ông Đặng Đức Tô (đậu cử nhân khoa 1906), ông được tuyển làm thừa phái, nhưng sau đó ông nghỉ việc về Hà Nội mở hiệu sách, dịch các sách Kinh thi, Đại học sang quốc ngữ. 

           Mãi tới năm 1908, do ảnh hưởng của phong trào Đông Kinh nghĩa thục, hô hào thanh niên theo học chữ quốc ngữ, học sinh làng Hành Thiện mới bắt đầu theo học trường tiểu học này. Những học trò đầu tiên từ các gia đình có truyền thống Nho học của làng Hành Thiện tới học trường này là con cháu của Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn là Nguyễn Thế Phu và Nguyễn Thế Tắc…Dần dần, trong khi những người tốt nghiệp từ các trường tiểu học biết tiếng Pháp và sử dụng tốt quốc ngữ có nhiều cơ hội được bổ nhiệm vào các công sở của Pháp với những điều kiện mà chính quyền thực dân đặt ra đối với các nho sỹ muốn tham gia quan trường là phải đỗ kỳ thi quốc ngữ và tiếng Pháp bắt đầu được thực hiện từ năm 1909, thì các nho sĩ  khó  có cơ hội tìm kiếm được việc làm trong ngạch quan trường cũng như các công việc khác. Các Nho sĩ thức thời bắt đầu chuyển hướng tự tìm trường học quốc ngữ và tiếng Pháp. Năm 1911 ông tú tài Đặng Vũ Túc ở làng Hành Thiện đã cho đón hai thầy giáo về làng dậy chữ Pháp, quốc ngữ, toán và khoa học thường thức cho những người muốn dự kỳ thi hương và dự bị lấy bằng tiểu học trong làng.

         Khoa thi Hương năm 1915 ở Nam Định là khoa thi cuối cùng của nền giáo dục Khoa cử Hán học, cũng là khoa thi đánh dấu sự chấm dứt nền giáo dục Hán học truyền thống ở Việt Nam, thì đến ngày 21-12-1917, toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ra nghị định ban hành Học Chánh Tổng Qui ở Đông Dương (Règlement Général de l'Instruction Publique en Indochine) nhằm mục đích thực hiện một cách qui mô chính sách của Pháp ở Đông Dương. Sau đó, Qui Chế Tổng Quát về Giáo Dục Cao Đẳng ở Đông Dương (Règlement Général de l'Enseignement Supérieur en Indochine) được toàn quyền Đông Dương ban hành bằng nghị định ngày 25-12-1918.

           Theo Quy chế Tổng quát về Giáo dục Cao đẳng ở Đông Dương, hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam được điều chỉnh cho phù hợp với các mục đích cũng như tình hình thực tế, ở Việt Nam thường được gọi là Giáo dục Pháp-Việt. Đây là hệ thống giáo dục Pháp cho người bản xứ" (Enseignement Franco-Indigène). Trong nền giáo dục này tiếng Pháp được dùng để trao đổi trong lớp học (giảng bài, làm bài, sách giáo khoa viết bằng tiếng Pháp).  Riêng ba lớp đầu tiểu học là được dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, sau đó tiếng Việt chỉ được học như một ngoại ngữ. Ngoại ngữ thứ hai thường là tiếng Anh ở bậc Tú Tài. Chữ Hán được học như một môn học tự chọn, một tuần một giờ ở các lớp trên của bậc tiểu học nếu có thày dạy.

          Hệ thống giáo dục Pháp-Việt gồm 2 phần: giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp, đại học.

            Nhìn chung, hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt có 3 bậc với thời gian là 13 năm. Bậc Tiểu học có 6 năm bắt đầu từ lớp Đồng ấu (Cours Enfantin) và kết thúc ở lớp Nhất (Cours Supérieur). Bậc Cao đẳng Tiểu học (Primaire) gồm 4 năm, học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d'Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) còn gọi là bằng Thành chung. Sau khi có bằng Thành chung học sinh có thể dự thi vào bậc Trung học tức bậc Tú tài gồm chương trình Tú tài phần thứ nhất (học xong 2 năm đầu). Sau khi đỗ Tú tài phần một có thể học tiếp năm thứ ba để lấy bằng Tú tài. Năm thứ 3 có 2 ban: ban Triết và ban Toán.   

          Sau khi có Quy chế Tổng quy về học chính Đông Dương, từ năm 1920, nhiều trường học được thành lập ở Nam Định và giáo dục Pháp- Việt ở Nam Định phát triển nhanh và ổn định hơn.       

        Trường Tiểu học Xuân Trường, sau nhiểu năm chỉ dạy ở bậc sơ học thì đến năm 1924 được chuyển thành trường Tiểu học kiêm bị Xuân Trường với đầy đủ 6 lớp của bậc tiểu học: từ lớp Đồng ấu đến lớp Nhất. Cũng theo quy định của chương trình Học chính tổng quy, các trường tiểu học ở cấp xã cũng nhận cả học sinh nữ. Hai hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông Nguyễn Văn Ninh (từ năm 1924-1928) và ông Lê Thận (từ năm 1928- 1943). Cả hai vị hiệu trưởng này đều tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học và nổi tiếng về đức độ cũng như phương pháp dậy học.

         Năm 1922, trường Sơ học Hành Thiện được thành lập theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ký ngày 19-9-1922 theo đề nghị của Cụ Tổng đốc Đặng Đức Cường. Trường được xây dựng hoàn toàn bằng công quỹ của làng kể cả mua sắm trang thiết bị và trả lương cho giáo viên.

         Trường nữ Sơ học Xuân Trường được thành lập theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ngày 8-12-1924 từ đề nghị của cụ Tri phủ Xuân Trường Bùi Bằng Đoàn. Trường còn có tên là trường Henri Geshin, tên của Công sứ Nam Định. Tiền xây dựng và sắm trang thiết bị của trường do nhân dân địa phương đóng góp, lương của giáo viên lấy từ ngân sách Bắc Kỳ.

         Năm 1924, trường tư thục Saint Thomas được thành lập theo sáng kiến của Cha xứ địa phận giáo xứ Bùi Chu Munagori. Mục đích ban đầu là dạy chương trình Cao đẳng Tiểu học để đào tạo giáo viên dạy cho các trường công giáo. Vì vậy còn gọi là trường tư thục sư phạm Saint Thomas. Trường được đặt ở gần trung tâm thành phố Nam Định.  Kinh phí xây dựng trường cũng như học bổng và chi phí cho học sinh theo học lấy từ sự quyên góp của các giáo xứ ttrong vùng. Điều kiện là sau khi học xong, các giáo viên này phải dậy 10 năm cho các trường công giáo. Đến năm 1931, trường bắt đầu thu nhận cả học trò bên lương.

              Năm 1932, cả Nam Định có 5 trường Kiêm bị Tiểu học Pháp- Việt:

            - Trường Cửa Bắc có 19 lớp, 836 học sinh, nay là phố Cửa Bắc)

            -Trường Henri Geshin (còn gọi là trường Vườn Dâu, có 6 lớp, 259 học sinh, nay ở đường Vị Xuyên.)

            - Trường Maurice Graffeuil (còn gọi là trường Bến Củi, có 9 lớp 414 học sinh; nay ở phố Bến Ngự)

             - Trường Con gái (có 9 lớp, 335 học sinh, ở khu vực nay là đường Trần Quốc Toản)

              - Trường Brière de L’ Jsle (còn gọi là trường Gốc Ngải, có 6 lớp, 279 học sinh,khu vực nay là phố Phạm Hồng Thái)

             Thời gian này, thành phố Nam Định đã có một số trường bậc tiểu học như Trung Trí, Tri Nam Khê, Minh Tân, Hồng Đức, Huệ Đức...

              Đến năm 1938, Nam Định đã có một số trường tư thục bậc Cao đẳng tiểu học (tương đương cấp II) như các trường: L Avenir, Charlemagne, Collêgium Paul Doumer. Các trường công, tư này tồn tại cho đến năm 1945.

             Trường Thành chung Nam Định được thành lập theo Nghị định ngày 27-4 -1904 của toàn quyền Đông Dương là Jean Baptiste Paul Beau có tên là trường Jules Ferry Nam Định (Collège Jules Ferry). Trường hoạt động được 4 năm thì ngày 9-12-1908, Toàn quyền Đông Dương A. Klobukowski ký Nghị định hợp nhất 2 trường: Trường Thông ngôn Hà Nội (được thành lập từ năm 1886, đến năm 1904 trường đổi tên là trường Thành chung Hà Nội (Ecole Complémentaire de Hanoi) và trường Julies Ferry Nam Định thành trường Trung học Bảo hộ Hà Nội (Collège du Protectorat Ha Noi). Học sinh học trường Thành chung Nam Định từ năm 1908 phải lên Hà Nội học. Trường Thành chung Nam Định cũng như sau này là trường Trung học Bảo hộ từ khi thành lập đến niên học 1924-1925 chỉ dạy 2 bậc học là Tiểu học (Petit Collège) và Cao đẳng tiểu học (Grand Collège). Bậc tiểu học học 4 năm và bậc Cao đẳng tiểu học 5 năm.  Từ năm 1918, bậc cao đẳng tiểu học chỉ còn học 4 năm.

             Năm 1920, Toàn quyền Đông Dương Maurice Long ra Nghị định ngày 24-8-1920 tái lập trường Thành chung Nam Định lấy tên là Cours Complémentaire de Nam Định. ( Lớp thành chung Nam Định)[1]. Năm 1928, Trường Thành chung Nam Định được đổi thành trường Cao đẳng tiểu học Nam Định. (Ecole primaire supérieure de Nam Định).

           Trường Thành chung Nam Định học chương trình Cao đẳng tiểu học gồm 4 năm. Các môn học toán, lý, hóa, sinh, Pháp văn, lịch sử Pháp, lịch sử Việt Nam… đều học bằng tiếng Pháp, Quốc ngữ và Hán văn chỉ học mỗi tuần 1 giờ. Sau khi tốt nghiệp, học sinh có bằng Cao đẳng Tiếu học. Năm học 1922-1923, Học sinh học bậc Cao đẳng Tiểu học ở trường Thành chung Nam định là 80 học sinh, chiếm hơn 25% so với tổng số học sinh  Cao đẳng tiểu học trên toàn quốc.[2]

          Học phí để theo học trường Thành Chung mỗi tháng là 4 $, là khá cao so với thu nhập của đông đảo nhân dân, chưa kể lệ phí cho mỗi kỳ thi là 8$. Vì cả Nam Định chỉ có một trường Thành chung Nam Định đào tạo bậc Cao đẳng tiểu học, nên tất cả học sinh ở các phủ huyện, làng xã, sau khi tốt nghiệp tiểu học, muốn tiếp tục học lên đều phải lên Nam Định để học, hoặc sang các trường Thành chung Thái Bình, Thành chung Ninh Bình hoặc Hà Nội để học. Chi phí cho mỗi học sinh gồm cả tiền học và tiền sinh hoạt, thuê nhà trọ, mỗi tháng hết 12$. Số tiền chi cho mỗi một học sinh hàng năm bằng thu nhập từ hoa lợi hàng năm của 10 mẫu ta ruộng cho cấy rẽ. Nếu muốn tiếp tục theo học bậc Trung học, phải lên Hà Nội học thì chi phí cho mỗi học sinh 1 năm phải ngang với số thu nhập  hoa lợi của 20 mẫu ta cho cấy rẽ.[3]  Vì vậy khá nhiều học trò học giỏi nhưng gia đình không đủ điều kiện cho học lên đã phải rẽ ngang sang học các trường dạy nghề được cấp học bổng. Ví dụ như Đặng Xuân Đĩnh, con cụ Đặng Xuân Viện, cháu nội cụ nghè Đặng Xuân Bảng nhưng gia đình cũng không lo đủ kinh phí cho ông lên học ở trường Thành chung Nam Định, vì vậy, sau khi học xong tiểu học ở Xuân Trường, ông phải sang Hải Phòng học trường nghề, là trường có cấp học bổng cho học sinh[4].

         Khóa học đầu tiên của trường Thành chung Nam Định sau khi tái lập mới chỉ có một lớp với 45 học sinh và phải đi mượn một phòng học ở gần nhà Bưu điện hiện nay. Trong thời gian đầu, vì chưa có cơ sở cố định, trường phải chuyển địa điểm nhiều lần cùng với sự phát triển của trường. Năm học 1926-1927, trường có 7 lớp với gần 300 học sinh. Vì vậy lúc này Pháp đã cho xây dựng (tại khu vực nay là trường tiểu học Phạm Hồng Thái) hai dãy nhà, mỗi dãy có bốn lớp học bằng tường gạch, mái ngói. Sân trường rộng rãi có cây xanh. Năm 1937-1938, trường có địa điểm mới ở khu vực đầu đường Cổng Hậu hiện nay với các phòng học, phòng thí nghiệm khang trang cho khoảng 8 lớp học với 400 học sinh. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là Charles Patris, một Giáo sư văn học từng viết nhiều sách về Việt Nam. Ngay từ năm 1925, trường đã có nhiều giáo viên người Việt Nam như Trần Văn Hòa, Dương Quảng Hàm, Phan Thế Roanh, Ngô Duy Cừ, Đào Văn Định, Nguyễn Văn Chính, Vũ Tam Thám, Đỗ Hữu Phúc…

           Là trường Cao đẳng Tiểu học duy nhất của Nam Định trong những năm đầu thế kỷ XX, trường Thành chung Nam Định là một trung tâm đào tạo nhân tài. Nhiều trí thức lớn có nhiều đóng góp cho đất nước đã trưởng thành từ mái trường này như Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Nhà cách mạng Nguyễn Đức Cảnh, Đặng Châu Tuệ, Nguyễn Văn Hoan,  Nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, ), GS.TS Bác sĩ, anh hùng quân đội Phạm Gia Triệu, GS. Bác sĩ Nguyễn Sĩ Quốc, nhà văn Nam Cao, Trần Lê Văn, Đặng Thế Phong….

         Học trò trường Thành chung Nam Định cũng hăng hái tham gia vào các cuộc vận động yêu nước đầu thế kỷ XX. Năm 1925-1926, nhiều học sinh trường Thành Chung đã tham gia phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, bãi khóa đòi tổ chức Lễ truy điệu Phan Châu Trinh, nhiều người tích cực tham gia vào các phong trào yêu nước và các tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng cộng sản Việt Nam

 

Tài liệu tham khảo

- Bối cảnh xã hội dẫn đến sự ra đời của trường Thành Chung Nam Định năm 1920 http://thpt-lehongphong-nd.edu.vn/lich-su-truong-555/ky-1-bo%CC%81i-ca%CC%89nh-xa%CC%83-ho%CC%A3i-da%CC%83n-de%CC%81n-su%CC%A3-ra-do%CC%80i-cu%CC%89a-truo%CC%80ng-tha%CC%80nh-chung-nam-di%CC%A3nh-nam-1920-3334.html

- Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng, Tác giả tự xuất bản Melun. In tại Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chateau- 400 Liège- Belgique 

- Địa chí Nam Định (2002), NXB Chính trị quốc gia

-Nguyễn Anh (1967) “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến

chiến tranh thế giới lần thứ nhất”, T/C NCLS số 98

- Nguyễn Anh (1967) “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất đến cách mạng tháng Tám”, T/C NCLS số102

- Trần Thị Phương Hoa (1912), Giáo dục Pháp Việt ở Bắc Kỳ (1884-1945), NXB KHXH

-Trịnh Văn Thảo (1995), Trường học Pháp ở Đông Dương, bản dịch NXB Carthala, Paris

 

Từ khóa: Giáo dục Pháp- Việt



[1] Lớp thành chung  (Cours Complémentaire) hay trường Thành chung ( Ecole  complémentaire) đều dạy theo chương trình Cao đẳng tiểu học, chỉ khác nhau về quy mô, Trường thành chung mỗi năm tuyển 2 lớp đệ nhất ( khoảng 80 học sinh), còn Lớp Thành chung thường chỉ tuyển một lớp đệ nhất 40 học sinh. Theo ĐặngHữu Thụ, sdd

[2] Trịnh Văn Thảo (1995) Nhà trường Pháp ở Đông Dương, ( Bản dịch ), NXB Carthala, Paris, tr130

[3] Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng (Melun, tr192-193

[4] Đặng Xuân Đĩnh (2012) Thân thương cuộc đời , Ký, NXB Văn học 

* Bài đã được đăng trong  Địa chí Nam Định tập 2 ( 2025), NXB Hồng Đức



[1] Lớp thành chung  (Cours Complémentaire) hay trường Thành chung ( Ecole  complémentaire) đều dạy theo chương trình Cao đẳng tiểu học, chỉ khác nhau về quy mô, Trường thành chung mỗi năm tuyển 2 lớp đệ nhất ( khoảng 80 học sinh), còn Lớp Thành chung thường chỉ tuyển một lớp đệ nhất 40 học sinh. Theo ĐặngHữu Thụ, sdd

[2] Trịnh Văn Thảo (1995) Nhà trường Pháp ở Đông Dương, ( Bản dịch ), NXB Carthala, Paris, tr130

[3] Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng (Melun, tr192-193

[4] Đặng Xuân Đĩnh (2012) Thân thương cuộc đời , Ký, NXB Văn học

Đặng Xuân Bảng ( 1828-1910)

                                                                                                   Đặng Thị Vân Chi *

Đặng Xuân Bảng sinh năm 1828 (mất năm 1910)), tự là Hy Long, hiệu là Thiện Đình. Ông là người làng Hành Thiện, thuộc Tổng Hành Thiện, huyện Giao Thủy, Phủ Xuân Trường, nay là xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.


        Năm 1846, tại khoa thi Bính Ngọ ông đỗ tú tài khi mới 18 tuổi. Đến năm Mậu Thân (1848), ông đỗ Tú tài lần thứ 2 khi chưa đầy 20 tuổi. Năm 22 tuổi, tại khoa thi Canh Tuất (1850) ông đỗ Cử nhân. Sau khi đỗ Cử nhân, ông được bổ làm Giáo thụ Phủ Ninh Giang (Hải Dương). Vừa làm việc vừa học, đến năm 1856, tại khoa thi Bính Thìn ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuẩt thân (Tiến sĩ) khi mới 28 tuổi. Tại cuộc thi Hội này, khi nhà vua được biết ông là người chỉ học duy nhất một người thầy là cha mình, cụ Đặng Viết Hòe (người đã đậu cử nhân lần thứ 3 cũng trong khoa thi năm đó) mà đỗ Tiến sĩ, nhà vua đã tặng cho hai cha con ông 4 chữ “Giáo tử đăng khoa”. Ngay sau khi thi đỗ Tiến sĩ, năm 1857, ông được giao làm Bí thư văn phòng nội các, có nhiệm vụ hiệu đính bộ Khâm Định nhân sự kim giám. Trong thời gian này ông còn được bổ nhiệm làm quyền Tri phủ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1860, ông giữ chức Tri phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang. Năm 1861, ông về Huế giữ chức Giám sát Ngự sử.

Năm 1863 ông được thăng chức Chưởng ấn ở Lại khoa. Năm sau, năm 1864 ông nhận chức Án sát sứ Quảng Yên. Năm 1867, ông nhận chức Bố chánh tỉnh Thanh Hóa. Năm 1868 ông được bổ nhiệm Bố chánh Tuyên Quang. Năm 1870 ông lại được cử làm Bố chánh Thanh Hóa lần thứ hai. Không lâu sau, tháng 6 năm 1871, ông được điều về làm bố chánh sứ Hà Nội, rồi Bố chánh Sơn Tây trong một thời gian ngắn. Đến tháng 10 năm 1871 ông được thăng chức Tuần phủ Hưng Yên, và vào năm 1872 ông được giao làm Tuần phủ Hải Dương.

Tháng 3 năm 1874, khi Pháp đánh thành Hải Dương trong cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873-1874), dù ông đã hết sức đốc thúc quân đội chiến đấu, nhưng quân đội của ông không thể chống lại vũ khí và hỏa lực của Pháp, ông phải bỏ thành để bảo toàn lực lượng. Hải Dương và một số tỉnh thành ở Bắc Kỳ bị thất thủ, vua Tự Đức không thể trách ông về việc không cố sức giữ thành, nhưng ông có một phần trách nhiệm về việc để Hải Dương bị Pháp chiếm, nên tháng 6 năm 1874, ông phải trở về Huế để “hậu cứu”. Năm 1876 ông được cử đi Hưng Hóa khai hoang như một hình thức bị phạt vì để mất tỉnh thành Hải Dương ở khu vực Đồn Vàng. Ở Đồn Vàng được hơn 2 năm, năm 1879, ông xin về hưu để chăm sóc mẹ già yếu. Đến năm 1885, dưới triều vua Hàm Nghi, quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết đề nghị triệu ông vào Huế làm quan, ông lấy cớ già yếu, hay bệnh tật để từ chối. Đến năm 1886, dưới triều vua Đồng Khánh, ông được triều đình gọi lại làm việc. Lúc này quốc gia Đại Nam đã hoàn toàn rơi vào tay Pháp, ông không muốn hồi quan, nhưng vì nể Cao Xuân Dục là bạn thân đang làm Tổng Đốc Nam Định đề nghị, ông đành nhận chức Đốc học Nam Định. Nhưng chỉ 2 năm sau, đến năm 1888, khi vừa tròn 60 tuổi ông xin về nghỉ hưu tại quê nhà.

-                 Trong suốt gần 40 năm, từ khi ra làm quan năm 24 tuổi cho đến khi nghỉ hưu ở tuổi 60 (trong thời gian đó có 8 năm ông xin nghỉ hưu lần 1), dù ở cương vị nào, ông cũng thể hiện là một vị quan thanh liêm, thẳng thắn hết lòng vì nước, vì dân, đặt lợi ích của dân của nước lên trên hết. Ông luôn cố gắng làm sao cho người dân không bị phiền hà, sách nhiễu khi có việc ở cửa quan. Ông cũng chủ động phát thóc cho dân để cứu đói khi đê ở Hưng Yên bị vỡ lúc ông làm Tuần phủ Hưng Yên. Trong thời gian làm bố chánh các tỉnh Thanh Hóa, Tuyên Quang… ông nhiều lần đề nghị miễn thuế cho dân cũng như báo cáo về việc xét xử các quan lại tham ô, nhũng nhiễu dân chúng. Khi làm quan Giám sát Ngự sử ở Huế năm 1863, ông đã có lời can gián vua không nên phái Phan Thanh Giản đem nhiều vàng bạc sang Pháp để chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, dù lời can gián của ông không được chấp nhận, nhưng cũng phản ánh khí phách và tinh thần trách nhiệm của một người làm quan trong triều đình trước vận mệnh đất nước. Cũng trong thời gian làm Giám sát Ngự sử ông đã ba lần dâng sớ đề nghị những việc có ý nghĩa đối với việc phú quốc, dân cường như: về tài chính thì không nên dùng hàng xa xỉ mua ở nước ngoài  mà khuyến khích sản xuất và dùng hàng trong nước, vừa tiết kiệm vừa kích thích sản xuất hàng hóa trong nước… Về dân chính thì cần tăng cường quản lý dân đinh, tránh được nạn tham nhũng của quan lại trong việc lạm thu cũng như biển thủ công quỹ trong việc thu thuế và sách nhiễu dân chúng…; Với việc quân sự, ông đề nghị tăng cường luyện tập cho binh lính, tránh tình trạng quan chức khai khống số binh lính để tham nhũng lương bổng chi cho quân lính. Ông cũng sớm đề nghị xây dựng lực lượng gồm quân chính quy và dân quân ở địa phương, chú ý tăng cường về hậu cần và trang bị vũ khí, sao cho đất nước có một đội quân mạnh, đủ sức bảo vệ độc lập dân tộc. Là một quan văn, nhưng khi được giao giữ chức Án sát sứ Quảng Yên (1864) và Bố chánh Tuyên Quang (1868) ông đã tìm hiểu đọc binh pháp để làm tròn trọng trách cầm quân tiễu trừ giặc cướp, mang lại bình yên cho dân… Tháng 11 năm 1870, ông được vua Tự Đức phong làm Quang Lộc tự khanh tuyên dương công trạng chống cướp phỉ ở Tuyên Quang. Khi làm tuần phủ Hải Dương, năm 1872 trước việc Jean Dupuis đòi mở cửa sông Hồng để buôn bán, ông đã đề nghị vua Tự Đức mở cửa thông thương, lập hội buôn ở khu vực cửa Cấm, kêu gọi các nước đến buôn bán với chủ đích “tự mình phát thư thì mình làm chủ”, nhưng tiếc là đã không được vua Tự Đức chấp nhận. Về việc để mất thành Hải Dương vào tay Pháp tháng 3 năm 1874, ông bộc bạch: “Kẻ hạ thần xin thề trước Hoàng thượng rằng: Hạ thần và con cháu không bao giờ chịu đầu hàng giặc Tây. Muốn đánh Tây và chống ngoại xâm, thì xin củng cố quân ngũ, luyện tập thường xuyên, chuẩn bị quân lương vũ khí cho tót, dựa vào thế dân. Có thế thì mới mong đánh thắng giặc được”. Tại những địa phương ông nhậm chức, bên cạnh việc quan, ông dành nhiều thời gian quan sát, để ý tìm hiểu phong tục, tập quán, cuộc sống của người dân, đọc sách và nghiên cứu. Đến đời Thành Thái, năm 1888, ông xin được nghỉ hưu tại quê nhà.

-                 Ông là người ham học hỏi, đọc nhiều, học rộng, ham thích nghiên cứu nên mặc dù về quê nhà nghỉ hưu, không còn làm việc quan nữa, nhưng ông vẫn cống hiến cho quê hương đất nước bằng việc đào tạo nhân tài, nâng cao dân trí qua việc mở lớp dạy học. Trường học của ông thu hút nhiều học trò từ các tỉnh xa đến theo học. Theo thống kê, có tới trên một nghìn học sinh đến học ông, có nhiều học trò đỗ tú tài và cử nhân, có người đỗ thủ khoa. Ngoài dậy học ông còn sưu tầm, mua rất nhiều sách và lập một tủ sách lớn, tủ sách Hy Long, gồm nhiều sách vở quý, kể cả các sách khoa học của phương Tây. Ông cho rằng: “Người Pháp sang xâm chiếm nước ta, là kẻ thù của ta, nhưng ta nên tìm sách của họ mà đọc để học lấy điều hay của họ. Không nhưng thế, cũng cần tìm đọc những sách của các nước Thái Tây khác”. Vì vậy tủ sách Hy Long của ông được đánh giá là tủ sách lớn nhất Bắc kỳ. Cùng với ngôi nhà 5 gian dùng cho việc lưu giữ sách, ông còn tổ chức nhiều buổi thuyết trình không chỉ về các vấn đề của cuộc sống làng xã như vấn đề hôn thú, tế tự, yến lão, khao vọng, đương tuần, hương ước… mà còn bàn cả những vấn đề về thương mại, công nghệ… học hỏi từ kinh nghiệm và kiến thức của các nước phương Tây. Nội dung các buổi thuyết trình đều hướng tới sự đổi mới, tiết kiệm, khoa học, vì vậy thu hút được nhiều trí thức nho học và môn sinh tới dự. Bên cạnh việc sưu tầm sách vở, ông còn cho nhân bản, tự biên soạn sách và cho khắc gỗ xuất bản.... Vì vậy, tủ sách Hy Long và ngôi nhà của ông có thể coi là một thư viện, một trung tâm hội tụ và lan tỏa tri thức lớn trong vùng.

         Ngoài việc dậy học, xây dựng tủ sách, trong thời gian nghỉ hưu, do có kiến thức về địa lý và thủy văn, ông đứng ra tập hợp người thân và dân làng đi khai hoang vùng bãi bồi vùng Tiền Hải (Thái Bình) và Giao Thủy (Nam Định) Hàng trăm mẫu đất được thuần hóa và trở thành những làng ấp mới cho dân đến sinh sống. Sau mấy chục năm làm quan thanh liêm, khi về già, ông xin được tự khẩn hoang đất bãi bồi ven sông Hồng khu vực thuộc xã Văn Lâm, huyện Vũ Tiên, nay là thôn Tả Hành, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình để lấy đất đai cho con cháu sinh sống.

       Cả một đời học hỏi, nghiên cứu không ngừng nghỉ, di sản các trước tác của ông để lại khá đồ sộ gồm nhiều lĩnh vực: Sử học, Triết học, Văn học, Ngôn ngữ học, Địa lý học, Khu vực học, Giáo dục học, Thực vật học, Y học… Có thể kể:

       Về sử họcSử học bị khảo, Việt sử cương mục tiết yếu, Việt sử chính biên tiết yếu, Độc sử bị khảo, Bắc sử thông giám tập lãm tiện độc sử, Nam sử tiện lãm, Thánh tổ hành thực diễn ca (1898).

      Về văn học có các tác phẩm Thiện Đình khiêm trai văn tập, Khâm định tập vận trích yếu, Như Tuyên thi tập (1868), Tiên nghiêm Hội Đình thi văn,  Đối trướng tạp sao… Ngoài những tác phẩm văn học kể trên hiện còn được lưu giữ trong thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gia đình còn sưu tầm thêm được 57 bài thơ , phú Hán Nôm khác đăng trong Tuyển tập thơ Đặng Xuấn Bảng (1828-1910).

      Về giáo dục học Cổ nhân ngôn hạnh lục, Cư gia khuyến giới tắc, Huấn tục quốc âm ca, Cổ huấn nữ ca, Cổ kim thiện ác kinh.

     Về Khu vực học Tuyên Quang tỉnh Phú, Nam phương danh vật bị khảo, Nam quốc địa dư

      Ngoài 20 tác phẩm còn được lưu giữ, trong kho tàng sách Hán Nôm còn ghi nhận tác phẩm Nhị Độ Mai truyện là tác phẩm Đặng Xuân Bảng dịch và cuốn Khâm Định Nhân sự kim giám (hay còn có tên là Nhân sự kim giám) là công trình tập thể có sự đóng góp của Đặng Xuân Bẳng trong phần biên soạn và hiệu đính.

       Nổi bật nhất trong các tác phẩm của ông để lại là những tác phẩm thuộc lĩnh vực sử học và giáo dục học, hai lĩnh vực được các nhà nghiên cứu nhất trí cho rằng có nhiều đóng góp mới và có nhiều giá trị hữu ích cho đến tận ngày nay. Đặc biệt trong lĩnh vực sử học, hai tác phẩm sử học tiêu biểu của ông là Sử học bị khảoViệt sử cương mục tiết yếu.

        Sử học bị khảo, có nghĩa là khảo cứu bổ sung toàn diện cho sử học. Trong công trình này, ông đã khảo cứu kỹ lưỡng về địa lý, thiên văn, quan chế để làm rõ nhiều vấn đề trong sử học dưới cách tiếp cận liên ngành, vì thế nhận thức lịch sử trở nên toàn diện hơn. Ở mỗi mục, ông đều tìm hiểu kỹ các sách của Trung Quốc, so sánh đối chiếu, vận dụng vào Việt Nam để làm rõ hơn những chỗ chưa rõ, chưa chính xác trong các sách sử thời trước. Đóng góp của ông trong bộ sách này được ông thể hiện trong phần lời dẫn ở mục Địa lý khảo; “Về các châu huyện ở nước ta, tên có thay đổi khác nhau, đất cũng có sự hợp phân khác nhau… các sử gia Nam Bắc (Việt Nam và Trung Quốc) ghi chép không giống nhau, Thế đại lâu xa, cố nhiên không thể hiện rõ được hết. Song châu, huyện, đời… tuy có sự thay đổi, còn núi sông, đường sá phần lớn vẫn y nguyên. Nhân mạch núi sông mà xét đường sá xa gần, từ đó truy tìm châu huyện cổ nhân, như thế thì cũng có thể biết được một số. Nay bằng vào các điều chép trong sử sách, các điều nào có thể biết được thì hãy phụ chép lời bàn. Còn các điều mà không thể biết được thì hãy đợi sự bổ khuyết của các bác nhã sau này”.  

       Cuốn Việt sử cương mục tiết yếu được đánh giá là cuốn sử tiêu biểu nhất trong những cuốn sử cùng thời vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây là bộ sử được hoàn thành vào năm 1905, gồm 8 quyển, trình bày toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước đến hết nhà Tây Sơn. Về cơ bản Việt sử cương mục tiết yếu được biên soạn chủ yếu dựa trên khung biên niên sự kiện lịch sử của bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục biên soạn dưới thời Tự Đức, nhưng được bổ sung cho đầy đủ, chú giải cặn kẽ theo quan điểm của tác giả. Đóng góp của ông trong bộ sách này được thể hiện qua phần bình ngắn gọn, súc tích trên cơ sở phê bình, khảo cứu, so sánh, đối chiếu với nhiều nguồn tư liệu khác từ tên đất, tên người, các sự kiện, các khái niệm về điển chế, văn hóa… đã góp phần bổ sung thêm sự hiểu biết, đính chính những nhầm lẫn và thiếu sót của các tác giả đi trước trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục. 

       Nhìn chung lại có thể nói, về mặt sử học, Đặng Xuân Bảng đã vượt lên trên các nhà sử học cùng thời.  Bên cạnh thái độ khách quan, tôn trọng sự thật, khảo cứu đến ngọn nguồn các chứng cứ lịch sử, đối chiếu với nhiều nguồn tài liệu khác nhau, các tác phẩm sử học của ông được trình bày với một phương pháp hiện đại, tiếp cận hệ thống và liên ngành, đã đem lại nhiều nhận thức mới về lịch sử thể hiện tính khách quan, khoa học, và toàn diện. Đặng Xuân Bảng “là một nhà Sử học có phương pháp gần với Phương Tây hiện đại”, và ông thực sự “là một nhà Sử học đi trước thời đại”[1].                        

         Mảng đóng góp nổi bật thứ hai trong các tác phẩm của của Đặng Xuân Bảng là các công trình về giáo dục học, đặc biệt là giáo dục đạo đức. Từ những bài học đạo đức của các bậc đế vương (trong Khâm định nhân sự kim giám) đến các thành phần dân cư trong xã hội (Huấn tục quốc âm ca), các thành viên trong gia đình (Cổ nhân ngôn hạnh lục, Cư gia khuyến giới tắc, Huấn nữ ca), các bài học của ông đều tập trung đề cao việc tu dưỡng và thực hành đạo đức theo tinh thần Nho giáo, đức từ bi nhân ái của đạo Phật, (đặc biệt trong những lời dạy dành cho phụ nữ), chú trọng việc củng cố gia đình, dòng họ cũng như đề cao tinh thần cộng đồng, xây dựng một môi trường sống nhân ái hòa thuận

          Có thể nói, các tác phẩm về giáo dục gia đình của Đặng Xuân Bảng luôn thấm đẫm giá trị nhân bản, tinh thần thân dân và có tính khoa học cao và những bài học này, theo triết lý giáo dục được đề cao hiện nay, lấy con người làm trung tâm, giáo dục nhân cách là những mục tiêu cốt lõi trong giáo dục hiện đại thì những tác phẩm về giáo dục của Đặng Xuân Bảng vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn.

           Ngoài lĩnh vực sử học và giáo dục học, cuốn Tuyên Quang tỉnh phú của ông cũng được đánh giá là một công trình nghiên cứu địa phương xuất sắc và được dịch sang tiếng Pháp[2].

           Ngoài ra cũng cần nhắc đến các tác phẩm khảo cứu và đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp cũng như khảo cứu về học thuật của Đặng Xuân Bảng. Từ rất sớm, ngay từ năm 1897 đã có cuốn Hành Thiện Đặng công hành trạng của Nguyễn Xuân Chức biên soạn, Hy Long di thặng của Đặng Nguyên Khu (Đặng Xuân Viện) xuất bản năm 1929, Nhà sử học Đặng Xuân Bảng và bộ Việt sử cương mục tiết yếu của Hoàng Văn Lâu, xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2000, Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng Việt sử cương mục tiết yếu, trên tạp chí Dân tộc và Thời đại số 69 năm 2004 của Nguyễn Hữu Dư…Đặc biệt năm 2010, kỷ niệm 100 năm ngày mất của TS Đặng Xuân Bảng, Hội Sử học Hà Nội đã tổ chức cuộc hội thảo: Đặng Xuân Bảng (1828-1910): Con người và sự nghiệp, tập hợp nhiều nhà khoa học nghiên cứu về cuộc đời và những công trình khoa học của ông. Các bài viết đã được tập hợp trong cuốn Kỷ yếu hội thảo. Ngoài các công trình kể trên, Đặng Xuân Bảng còn được ghi nhận như một tác gia tiêu biểu trong nhiều cuốn sách về các tác gia Việt Nam…

         Hiện nay ở huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định có ngã ba Xuân Bảng; các thành phố Nam Định, Đà Nẵng và Thủ đô Hà Nội đều có đường phố mang tên Đặng Xuân Bảng /’ư để tưởng nhớ và vinh danh Ông - Một nhà Bác học, nhà Sử học, nhà Giáo dục học; một Trí thức mẫu mực; một vị Quan thanh liêm trọn đời yêu nước, thương dân.

(  Bản thảo hoan thành tháng 10-2023, hoàn thiện tháng 5-2024)

Tài liệu tham khảo:

- Đại Nam thực lục chính biên, (2007-2008) tập 7 và 8, NXB giáo dục

- Đặng Xuân Bảng (1997), Sử học bị khảo, Viện Sử học - NXB Văn hóa thông tin.

- Đặng Xuân Bảng (2000), Việt sử cương mục tiết yếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

- Hội sử học Hà Nội (2010), Đặng Xuân Bảng (1828-1910) Con người và sự nghiệp, Hà  Nội.

- Tư liệu gia đình cung cấp

Từ khóa: Đặng Xuân Bảng



[1] Các nhận xét của GS Hà Văn Tấn và GS Nguyễn Quang Ngọc

[2] Đại tá Bonifacy dịch ra tiếng Pháp, nhan đề: La province de Tuyen Quang, composition littéraire de M. Đặng Xuân Bảng traduite et annotée par M. le colonel Bonifacy”. Viên đại tá này sau khi đọc cuốn sách của cụ đã phải thốt lên rằng: Từ sau khi đọc cuốn sách này tôi đã không dám coi thường các quan lại An Nam nữa.”

*. Bài đã đăng trong  :

1. Nhà báo Quốc Phong ( chủ biên) ( 2024)" Hành Thiện ngôi làng hình cá chép- Lịch sử và huyền thoại", tập 2, NXB Thanh niên, tr 28-37)

2. Địa chí Nam Định, tập 5 Nhân vật chí (,có chỉnh sửa.  ) ( 2025),  NXB Hồng Đức, tr 313-319)

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2024

PHONG TRÀO TẨY CHAY HOA KIỀU Ở VIỆT NAM NĂM 1919 (qua nguồn tư liệu báo chí đầu thế kỷ 20)*

                                                                                                          Đặng Thị Vân Chi *


Đặt vấn đề

Từ trước tới nay, Phong trào tẩy chay Hoa kiều năm 1919 được nhắc đến như là một trong những phản ứng của tầng lớp tư sản Việt Nam đối với tư sản Hoa kiều. Vì nhiều lý do, chủ quan, cũng như khách quan, phong trào này chưa được giới sử học Việt Nam quan tâm đi sâu nghiên cứu. Cũng chính vì vậy, những thông tin và tư liệu về phong trào này trong các sách lịch sử rất mờ nhạt. Cho đến thời điểm này, chúng tôi chưa tìm thấy bất cứ một bài nghiên cứu nào ở trong nước khả dĩ đưa ra những thông tin đủ để hình dung một cách rõ ràng nhất về phong trào này. Còn các học giả phương Tây tuy đặt nó trong tầm nhìn của mối quan hệ thuộc địa có tính toàn cầu. nhưng cũng không đề cập mọt cách chi tiết. Christopher E. Goscha trong bài “Tái cấu trúc các mối quan hệ thời kỳ thuộc địa: Quan hệ liên Á ở Đông Dương thuộc Pháp giai đoạn giữa 2 cuộc thế chiến” [1] đã chọn sự kiện Tẩy chay Hoa kiều ở Việt Nam năm 1919  như minh chứng cho nhận định “những mâu thuẫn trong thời kỳ thực dân đã tạo động lực hình thành một mạng lưới quan hệ liên Á hoàn toàn mới giữa các nước thuộc địa. Chính điều đó đã tác động trực tiếp đến tính chất của “quan hệ thuộc địa” lúc bấy giờ và sự hình thành các quốc gia hậu thuộc địa sau kể từ năm 1945”. Từ Phong trào tẩy chay Hoa kiều, Christopher E. Goscha cho rằng “chính người Hoa – chứ không phải thực dân Pháp – đã trở thành một động lực quan trọng kích thích chủ nghĩa dân tộc đối với các nhà tư sản Việt Nam hay ít nhất cũng là một yếu tố ngoại lai cần thiết. Những nhà dân tộc chủ nghĩa Việt Nam không chỉ quyết tâm đối đầu với người Hoa trên mặt trận kinh tế, mà họ còn nhất trí rằng nếu muốn thành công phải tự thay đổi chính mình” (Christopher, 2009, tr 1).

Với mong muốn có thể lấp dần những khoảng trống trong lịch sử Việt Nam, chúng tôi quyết định tìm lại trong tư liệu báo chí đương thời, một kênh thông tin quan trọng khả dĩ có thể dựng lại diễn biến của phong trào, đặt nó trong chuỗi các hoạt động của tư sản Việt Nam, với mong muốn có thể làm rõ thêm về vai trò và vị trí của tầng lớp tư sản Việt Nam trong lịch sử cũng như  đưa đến những góc nhìn đa chiều về lịch sử cận đại Việt Nam.

1.     Bối cảnh chung

Đầu thế kỷ XX, đặc biệt từ sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, do tác động của cuộc khai thác thuộc địa của Pháp lần thứ nhất (từ 1897 đến 1914), và nhu cầu phục vụ chiến tranh, tầng lớp tư sản Việt Nam ngày càng trở thành một lực lượng kinh tế quan trọng trong xã hội Việt Nam. Sự phát triển của tư sản Việt Nam thời kỳ này là kết quả của các chính sách kinh tế của Pháp đối với thuộc địa trong điều kiện Pháp là một nước tham chiến và nhờ cuộc vận động của các sĩ phu yêu nước trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX. Mặc dù, tầng lớp tư sản Việt Nam đã tham gia kinh doanh trong hầu hết các ngành nghề: từ xay xát, dệt, nhuộm, sửa chữa cơ khí, vận tải thủy, sản xuất sơn, xà phòng, đồ gốm, nước mắm, đường, dầu ăn… kể cả in ấn… và cũng có nhiều nhà tư sản kinh doanh lớn, cạnh tranh với cả tư sản Hoa kiều và tư sản Pháp như Bạch Thái Bưởi[2], Nguyễn Sơn Hà[3], Trương Văn Bền[4], Lê Phát Vĩnh[5], Nguyễn Hữu Thu[6]… nhưng cho đến cuối thập niên 1920, tầng lớp tư sản Việt Nam mới chỉ chiếm 1 % dân số với khoảng 20.000 người với tổng số vốn chỉ bằng khoảng 5% số vốn của tư bản Pháp (Đinh Xuân Lâm, 2012, tr304 )

 Để nâng cao địa vị của mình trên thương trường, tư sản Việt Nam bắt đầu có ý thức tập hợp nhau trong những tổ chức có thể giúp đỡ nhau trong kinh doanh như Nam Kỳ thương mại kỹ nghệ xã hội thành lập năm 1918… Sự vươn lên của giới doanh nhân trong những năm trong và sau Chiến tranh Thế giới I đã vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nhân và doanh nghiệp Hoa kiều, một cộng đồng dân cư có một lịch di trú lâu dài và phức tạp ở Việt Nam.

Lịch sử di dân của người Hoa cho thấy, người Hoa đến Việt Nam qua nhiều đợt, có những nhóm đến từ thời Bắc thuộc (từ thế kỷ I đến thế kỷ X), những nhóm này chủ yếu ở khu vực miền Bắc, lâu dần đã trở thành một bộ phận của cộng đồng quốc gia Việt Nam, cũng có nhóm đến Việt Nam trong khoảng vài trăm năm trở lại đây. Cho đến trước khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, người Hoa đã có vai trò quan trọng trong hoạt động thương nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt ở Nam Kỳ [7].

Trong bối cảnh khu vực cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi Trung Quốc bị xâu xé bởi các cường quốc tư bản lớn như Anh, Pháp, Mỹ, … làn sóng di dân của người Trung Hoa càng mở rộng. Ở Việt Nam, rất nhiều lớp người Hoa đã đến làm ăn trong thời kỳ này.

Toàn Bắc Kỳ năm 1887 có 7.467 người Hoa ( Charles Fourniau , 1991, tr68) và người Hoa ở Bắc Kỳ “phần lớn là thương nhân đến cư trú ở vùng đồng bằng” (Charles Fourniau , 1991, tr69).

Ở Nam Kỳ, trong các năm từ 1912 đến 1922, có 158.048 người Trung Hoa trên 17 tuổi đến Việt Nam làm việc và sinh sống, trung bình mỗi năm là 14.368 người nhập cảnh qua cảng Sài Gòn trên các chuyến tàu đến từ Thượng Hải và Hương Cảng ( Đào Trinh Nhất ,1924, tr19).

Trong cuốn Thế lực Khách trú và vấn đề di đân vào Nam Kỳ xuất bản năm 1924, Đào Trinh Nhất đã mô tả về hoạt động kinh tế của người Hoa ở Nam Kỳ như sau:

“Có vào đến xứ Nam Kỳ mới biết người Tầu ở trong xứ mình là đông, mà cơ sở của họ là lớn. Bước lên thành phố Sài Gòn, đi quanh những phó chợ Mới, chợ Cũ là những phó rộng lớn và rộn rịp bằng mấy Hàng Ngang, Hàng Buồm ở ngoài mình, đã thấy lúc nhúc những các chú, tính phỏng chừng cũng đến ba, bốn vạn người rồi, tuy vậy cũng còn là ít. Đi gần 6 kilomet nữa vào đến Chợ Lớn ( Người Tàu gọi là Đề Ngạn) là một thành phố các Chú cả, chưa kể đến nội dung thế nào, nhưng mới trông bề ngoài đủ khiến cho mình phải ghê sợ, xa xa đã trông thấy ống khói nhà máy nọ, nhà máy kia, tua tủa lên ngang giời như hàng rào, nào tầu bè, ghe, nốc đậu tri trít ở mặt nước như mắc lưới đã đủ giật mình về cái cảnh tượng ấy rồi, lại vào đến phố, thì phố xá rộng rãi, nhà cửa nguy nga… không nhà nào không buôn bán lớn, thôi thì lo liệu tiệm lớn các chú, vác gạo, kéo xe các chú, chủ hãng, chủ nhà máy các chú,  mà cho đến vót đũa đan rổ rá, gánh nước bán quà cũng các chú, nói tóm lại, việc gì làm mà nảy ra to từng hàng vạn, nhỏ đến đồng xu thì cũng mấy chú “ thiên triều” làm hết. Thành phố Chợ Lớn đất rộng hơn nghìn mẫu thì các chú ở quá ba phần tư,  dân số 13 vạn người thì phần các chú già một nửa ( 7 vạn người ở trên bộ và 1 vạn nguời ở dưới nước…Còn như số người các chú rải rác ra làm ăn buôn bán ở lục tỉnh thì cũng đông hết sức…(Đào Trinh Nhất, 1924, tr 17, 18)

Ngoài ra, Đào Trinh Nhất cũng mô tả kỹ về thế lực tài chính của Hoa Kiều ở Nam Kỳ. những Vua tiền bạc, vua nhà cửa như Hoàng Trọng Tân, Tạ Mã Điền…phất lên nhờ bất động sản…và nhờ “ thế lực kim tiền” này mà các tư sản người Hoa có thể lũng đoạn nền kinh tế. “ Họ vốn sẵn có cái trí xem xét lợi hại rất sáng suốt, cho nên họ thấy có có việc lợi cho họ, mà tài tranh không lại, sức tranh không lại thì vận động ngay bằng kim tiền. Việc của cá nhân thì vận động bằng kim tiền cá nhân, việc của đoàn thể thì vận động bằng kim tiền của đoàn thể. Họ biết rằng việc làm có lợi cho mình thì không gì bằng quăng tiền ra mà vận động, vận động hết mấy cũng không tiếc gì vì họ lại biết rằng, mất đi ít mà thu lại nhiều vậy!“ (Đào Trinh Nhất, 1924, tr32)

Cho đến đầu thế kỷ XX thì người Hoa đã có mặt khá đông đảo ở Việt Nam và chủ yếu tập trung trong các thành phố lớn.

 

    Số người Hoa ở các thành phố lớn của Việt Nam vào năm 1919 (Phạm Quỳnh ,1918, tr271)

Thánh phố

Dân số (Người)

Người Hoa (Người)

Hà Nội

90.303

3.377 (825 người Minh Hương)

Hải Phòng

50.902

8.991

Sài Gòn

65.000

22.079 (677 người Minh Hương)

Chợ Lớn

191.630

75.000 (4872 người Minh Hương)

 

Thực trạng kinh tế cũng như hoạt động thương mại của người Hoa trong những năm đầu thế kỷ 20 trở thành mối lo ngại đối với tầng lớp tư sản Việt Nam.

2. Cuộc vận động dư luận trên báo chí

Sự phát triển của tư sản Việt Nam sau chiến tranh thế giới 1 đã vấp phải sự cạnh tranh của tư sản Hoa Kiều. Bạch Thái Bưởi là một ví dụ điển hình về cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thương trường của tư sản Việt Nam với tư sản Hoa Kiều. Báo Nam Phong đã mô tả sự việc này như sau: “ Năm 1909, Bạch Thái Bưởi thuê ba cái tầu Phi Phượng ( Phenix), Phi Long ( Dragon) và Khoái tử Long ( Fai-tsi- Long) của A.R . Marty là 1 chủ hãng tàu chuyên chạy thư tín cho chính phủ Pháp khi hết hạn hợp đồng với chính phủ Pháp) để chạy tuyến Nam Định- Hà Nội; Nam Định- Bến Thủy là hai tuyến đường quan trọng mà Khách vẫn độc quyền từ trước đến lúc đó.

Một cuộc cạnh tranh khốc liệt đã diễn ra. “Ông hạ giá một, thời họ hạ giá hai, ông hạ giá hai thời họ hạ giá ba, ông mời khách uống nước, thời họ mời khách ăn bánh ngọt, tranh nhau từng bước mà cố gắng phần hơn thậm chí giá hành khách từ Nam Định đi Hà Nội trước là 0,30$, 0,40$ mà rút tới 5 xu, 3 xu; cước đồ hàng thời 1 tấn gạo lấy chỉ bằng giá 1 bì gạo trước”. Cuối cùng để tránh vỡ nợ, Bạch Thái Bưởi đã dùng đến cách vận động nhân tâm, đứng ra “diễn thuyết trên bến, trong tàu kể đường hơn lẽ thiệt trong việc buôn bán cho hành khách nghe, khuyên người mình nên giúp đỡ lẫn nhau thời mới có thể cạnh tranh với người Khách được. Những lời khuyến khích ấy xem ra nhiều người cảm, khách đi tàu ông mỗi ngày nhiều hơn…dần dần hành khách bỏ các tàu Khách mà đi tàu ông” (Thượng Chi, 1919 B, tr 383)

Lo ngại trước các thế lực kinh tế của người Hoa, tư sản Việt Nam bắt đầu lên tiếng. Báo chí bắt đầu đăng nhiều bài cảnh tỉnh về mối đe dọa của người Hoa trong các hoạt động kinh tế của người Việt… Trong ngôn ngữ hàng ngày, cũng như trên báo chí, người Hoa được gọi bằng những từ như Chệc, người Khách, Khách trú, … với ý thiếu thiện cảm.

 Trong chuyến du hành Nam Kỳ vào tháng 8 năm 1918, Phạm Quỳnh cũng đã lên tiếng lưu ý về tình hình của người Hoa trong nền kinh tế Việt Nam.  Tỉnh Sa Đéc ở chạy dài hai bên bờ sông coi phồn thịnh đông đúc lắm. Nhưng phố xã buôn bán cũng chỉ thuần là người Khách (Hoa kiều), không có một người An Nam nào. Và không ở một Sa Đéc, tỉnh nào cũng vậy, nơi chợ phố toàn thị là Khánh với Chà, lại không những ở các tỉnh thành, đến chốn nhà quê, có ý nhận, phàm nơi nào coi ra hơi có người ở đông đúc, tất có một vài tiệm Chệc (Hoa kiều) bán đồ ăn và đồ tạp hóa…”

 Nhìn vào những hoạt động buôn bán của Hoa kiều trong suốt chuyến đi từ Hà Nội tới Hải Phòng và khắp các tỉnh ở Nam Kỳ, Phạm Quỳnh đã phải thốt lên: “Làm đôi guốc gỗ người mình cũng không làm được, thì trách sao không phải chịu cái quyền áp chế trong sự buôn bán của nó? Tôi thường trông thấy Khách gánh nước, Khách bán củi, còn nghề gì nữa là nó không tranh hết của mình?” (Phạm Quỳnh, 1919, tr 135). Để bảo vệ quyền lợi cho giới điền chủ chống lại thế lực của Hoa kiều, từ năm 1912 các nhà điền chủ lớn ở tỉnh Mỹ Tho đã họp nhau lập một hội gọi là “Nông nghiệp tương tế hội” nhằm xây nhà máy xay xát gạo, tự định giá gạo và bán thẳng ra ngoài, không qua môi giới Hoa Kiều nữa. Đồng thời họ cũng kêu gọi góp cổ phần đề lập “Nông nghiệp ngân hàng” cho các điền chủ vay vốn, gửi thóc để tránh bị ép giá mua rẻ cũng như phải đi vay nợ lãi của các hiệu cầm đồ và cho vay nặng lãi của người Hoa. Tuy nhiên, mặc dù việc cổ động, tuyên truyền được chú ý như cho in thành sách bài diễn thuyết của ông Trần Nguyên Lượng, phó chủ tịch Hội Nông Nghiệp tương tế ở Mỹ Tho kêu gọi lập các Hội nông nghiệp tương tế để phổ biến… kế hoạch này cũng không thành hiện thực vì chưa được chuẩn bị đầy đủ…Phạm Quỳnh cũng cho biết: “Hiện nay trong Lục tỉnh mới nhóm lên cái phong trào phản đối Khách. Cái phong trào ấy rất là chánh đáng lắm. Nhưng phần nhiều là phản đối ở lời nói cả, chưa từng thấy thi thố ra việc làm. Không kể có lắm lúc phản đối sai lầm, cái nên phản đối thì không phản đối, mà phản đối cái không cần phản đối. Có kẻ tạ sự ghét người Tầu mà chỉ ghét riêng 1 thứ chữ Tầu là cái văn tự cổ không có quan hệ gì đến việc cạnh tranh về đường buôn bán cả. Thiết tưởng cái cách phản đối ấy chưa đủ cướp lại được lợi quyền ở tay bọn Chệt vậy” (Phạm Quỳnh, 1919, tr 139) ….

Từ năm 1918, trên các trang báo tiếng Việt bắt đầu xuất hiện những bài phân tích về “thế lực của người Trung Hoa” trong nền kinh tế Đông Dương và bên cạnh việc kêu gọi người Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động công thương nghiệp, các bài viết bắt đầu chỉ trích người Hoa là những người “sang ăn gửi nằm nhờ” nhưng đã chiếm hầu hết những mối lợi về kinh tế của người Việt. Việc phát triển kinh tế công thương nghiệp phải được coi là “sinh tử vấn đề ” (Thượng Chi, 1919 A, tr228) đối với tương lai của dân tộc. Sự cố gắng vươn lên của tư sản Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là một nước thuộc địa thì mục tiêu đầu tiên của họ là tranh lại mối lợi trong thương trường từ tay tư sản Hoa kiều.

3. Sự bùng nổ Phong trào “Tẩy chay Hoa kiều”[8]

Đầu tháng 8 năm 1919, một sự kiện đã làm bùng nổ phong trào phản đối Hoa kiều mà báo chí thời đó mô tả là phong trào “Để chế đồ hàng Khách” hay “Tẩy chay Khách trú”. Đó là khi các tiệm cà phê của Hoa kiều ở đường Hamelin[9] đồng loạt tự ý tăng giá một ly cà phê từ 2 xu lên 4 xu (Thượng Chi ,1919 A, tr 281) đã gây bất bình cho những viên chức các công sở của chính quyền thực dân cũng như của tư nhân vẫn thường uống cà phê và ăn điểm tâm ở đây. [10] Vì đây là khu vực có các công sở của Pháp (như Ngân hàng Đông Dương, Nha Thuế vụ, Sở công chính Sài Gòn, ty Thiết lộ…), có trường Bá nghệ Sài Gòn[11]… nên trên những con đường này có rất nhiều cửa hàng, tiệm cà phê và điểm tâm của Hoa Kiều và viên chức của các cơ quan của chính quyền thuộc địa cũng như các nhân viên làm việc cho các cửa hàng, học sinh trường Bá Nghệ… thường đến uống cà phê, ăn điểm tâm buổi sáng. Việc các cửa hàng cà phê và điểm tâm của người Hoa đồng loạt tăng giá cà phê đột ngột không có lý do và thái độ khinh người của họ khiến những người Việt này bất bình[12].

Tin tức về sự kiện các tiệm cà phê của người Hoa đồng lòng tăng giá  được đăng trên báo Lục tỉnh tân văn và báo Công Luận ngày 5/8/1919 và cho đó là một hành động coi thường người Việt. Bài báo bình luận rằng sở dĩ họ dám làm điều ấy vì họ dựa vào sự cố kết cộng đồng chặt chẽ trong các nhóm người Hoa[13], cũng như sức mạnh mà họ có được nhờ sự độc quyền trong kinh doanh của họ.

Ngày 11 tháng 8 năm 1919, một nhà báo đã phân tích sự kiện tăng giá cà phê đột ngột như hành động coi thường người Việt của Hoa kiều trong bài “Khách trú khi ta” trên trang nhất báo Lục tỉnh tân văn và kêu gọi: “cần nhất giờ đây hãy tẩy chay cà phê của Chệc như mấy thầy làm việc ty Thiết lộ đã làm ...” , đồng thời bài báo cũng cho biết: “Từ hôm 1er Aoùte (ngày 1 tháng 8) đến nay chẳng có một người đến tiệm cà phê của Chệc”.

Đỉnh điểm là ngày 13 tháng 8 năm 1919, báo Lục tỉnh tân văn nhắc lại việc người Hoa đã khinh thường người Việt,  xúc phạm đến lòng tự tôn dân tộc của người Việt [14] và đăng trên trang nhất lời hiệu triệu: “Khách trú thị nhục ta, đồng bang mau thức dậy” và kêu gọi từ “quan hàm chức sắc”, “chức việc, công nghệ thương gia”, “lính tập, ma tà, nào là mạch lô, lính thủy,” “ nào là thầy, nào là thợ, Ba Son, Sở mộ, trại xưởng các nơi, nào là Vạn xe, xe mui, xe kéo, xe kiến, xe hơi”…. “hễ nhìn biết là giống dòng mình là An Nam” thì “Hãy thức dậy mau! ”, “mau khá tẩy chai (tẩy chay) Khách trú! Tẩy chai (tẩy chay) nó đi…”.  

Tin tức về phong trào tẩy chay cũng liên tục được cập nhật trên báo chí. Ngày 14/8/1919 báo Công Luận cho biết “đầu tiên là mấy tiệm ở đường Hamelin tẩy chay, sau đó mấy tiệm ở đường Pellerin[15] cũng tẩy chay”.

Cuộc vận động tẩy chay không chỉ dừng lại ở việc tẩy chay các quán cà phê của người Hoa, mà ngay sau đó, họ kêu gọi “hễ món nào người An Nam có bán, người An Nam có làm thì Hãy tẩy chai Khách trú đi đồng bang…”( Lục tỉnh tân văn, 13/8/1919, tr1). Bên cạnh việc kêu gọi tẩy chay hàng quán của người Hoa, họ còn kêu gọi người Việt hãy đồng lòng chống lại sự độc quyền trong kinh doanh của người Hoa bằng cách vận động người Việt đứng ra kinh doanh để cạnh tranh với người Hoa.

Ngày 18/8/1919, báo Lục tỉnh tân văn đưa tin ở Thủ Dầu Một, quan phủ Tân Hàm Ninh và bạn bè ủng hộ phong trào Tẩy chay bằng cách cùng nhau lập một nhà hàng bán đủ các đồ đáp ứng nhu cầu của người dân để họ không cần mua của Hoa Kiều nữa.

Phong trào tẩy chay Hoa kiều lan nhanh, doanh nhân Hoa kiều cũng lập tức phản ứng, họ cũng dùng báo chí để chống lại phong trào. Tờ  Huê kiều Nhật báo đăng những lời lẽ coi thường, thách thức người Việt[16], viết thư chửi bới, hạ nhục người Việt trên báo chí với những lời lẽ mà báo Lục tỉnh tân văn phải thốt lên “Lời lẽ trong thơ thô tục lắm” không đáng đăng lại trên báo chí (Lục tỉnh tân văn,  20/8/1919, tr.1)

Ngày 22/8/1919, trên Thời Báo, Nguyễn Dạ Thanh đưa ra một lộ trình cho việc cạnh tranh với người Hoa trong thương mại. Đó là thực hiện từ từ, từ thấp đến cao, phải dựa vào luật pháp không quá khích …và trên hết phải “phải đồng một lòng”.

           Tư sản Hoa kiều đối phó với cuộc tẩy chay không chỉ bằng cách dọa đuổi những người Việt đang làm công cho họ, tăng giá thuê nhà ở các phố lớn để người Việt không thể thuê được nhà của họ mà sinh sống và kinh doanh, mà còn thẳng tay đuổi nhiều người Việt đang làm công trong các nhà máy xay xát gạo của người Hoa … Họ đến biểu tình trước trụ sở tờ báo Tribune Indigène và đỉnh điểm là ngày 25 tháng 8 có 7 người Hoa đã “vác gạch lượm vô quán Thời Báo” (Công Luận báo,  9/9/1919, tr2)

Vì vậy, ngày 26-8-1919, 40 người gồm các nhà báo, đại thương gia, và trí thức đã họp nhau tại trụ sở của hội Khuyến học Sài Gòn tại đường Aviateur Garros[17] do Nguyễn Phú Khai, Tổng lý báo La Tribune Indigène làm chủ tọa nhằm bàn cách đối phó với phản ứng của doanh nhân Hoa kiều trước cuộc tẩy chay Hoa kiều của người Việt. Cuộc họp đã bầu ra 11 người tham gia ban “Tạm thời phái viên” do Nguyễn Phú Khai làm hội trưởng và Nguyễn Chánh Sắt, Trần Quang Nghiêm làm Hội phó để soạn thảo điều lệ Hội cũng như dự thảo chương trình của Hội. và đề xuất lập hội An Nam thương cuộc công ty nhằm “cổ động, khuyến khích đồng bang ta”  tẩy chay Hoa Kiều đồng thời cũng cần “lập tiệm cho nhiều, bán cho đủ đồ cho đồng bang ta dùng” (Công Luận báo,  9/9/1919, tr2).

Đến ngày 30-8-1919, gần 200 điền chủ, doanh nhân và giới báo chí họp nhau để chính thức thành lập An Nam thương cuộc công ty và cũng là để cùng bàn bạc nhằm đề ra một chương trình đấu tranh chống lại thế lực của người Trung Hoa về mặt kinh tế, giành lại các quyền lợi của người Việt. Trong cuộc họp này, Nguyễn Chánh Sắt, chủ bút báo Nông Cổ Mín đàm, phó chủ tịch Hội sau khi bày tỏ quan điểm “hết sức vui mừng mà được thấy người An Nam ta ngày nay biết trọng “tình đoàn thể, thương nghĩa đồng bào”, đồng lòng tẩy chay các tiệm của người Hoa và đã kêu gọi doanh nhân Việt hãy làm mấy việc sau:

-  Trước hết là cùng nhau tẩy chay mấy quán cà phê của người Hoa.

-  Theo gương những người như ông Nguyễn Văn Hội, mở nhiều quán cà phê để cạnh tranh với Hoa Kiều, “trước là để tẩy hận cho đồng bào, sau là giựt lại chút đỉnh quyền lợi cho quê hương”.

-  Mỗi tỉnh lo lập một nhà máy xay xát gạo để thu mua thóc gạo, trực tiếp bán cho các đại lý của Pháp, không để mối lợi này cho Hoa Kiều nữa.

-  Lập An Nam thương cuộc công ty làm đại diện mua bán trực tiếp với các đại lý của người Pháp, “không cần qua trung gian Hoa kiều nữa và lập ngân hàng để có vốn cạnh tranh…” [18].

Bài diễn văn của Nguyễn Chánh Sắt được các báo như Nông Cổ Mín Đàm, Công luận báo, Thời báo, Nam Phong… đăng tải như một cách tuyên truyền, vận động cho cuộc Tẩy chay Hoa kiều.

 Cuộc vận động tẩy chay Hoa kiều đã nhanh chóng lan nhanh từ Nam ra Bắc và được hưởng ứng mạnh mẽ. Báo Nam Phong cho biết: “Ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định cũng thi nhau cổ động “Tẩy chay” (“Để chế”). Nhất là ở Hà Nội, trong mấy ngày những phố Hàng Buồm, Hàng Ngang là nơi Khách buôn bán ở nhiều, người ta đi lại như nước chảy, ai nấy khuyên nhau không mua đồ hàng Khách, đừng nên ăn ở các cửa hàng cao lâu Khách, hiệu Khách trong mấy ngày phải đóng cửa buổi tối; Thành phố bầy ra trong một cảnh tượng rất mới lạ…” (Nam Phong, 9/1919, tr 281-282). Cuộc đấu tranh có lúc quá khích đã dẫn đến sự xung đột của học sinh với cảnh sát (Nam Phong 9/1919, tr 281-282).

           Đến ngày 15/9/1919 Chánh tham biện chủ tỉnh thành phố Chợ Lớn đã đăng yết thị  “ngăn cấm những việc hung bạo và các sự húng hiếp, ép buộc làm cho người người mất sự tự do trong việc làm ăn của mình” (Lục tỉnh tân văn , 22/9/1919, tr.2)

Sau khi bị cấm, phong trào không còn rầm rộ như trước mà đi vào chiều sâu, quan trọng hơn, các doanh nhân và trí thức Việt Nam nhận thức được rằng, muốn cạnh tranh với Người Hoa và nắm các ngành kinh tế, người Việt trước hết phải biết đoàn kết và phát triển công thương nghiệp.

Về nguyên nhân của cuộc Tẩy chay Khách trú này, Phạm Quỳnh cho rằng việc bùng nổ phong trào “Để chế đồ hàng Khách” này là kết quả của tình trạng bất bình với sự độc quyền của người Hoa trong hoạt động buôn bán, kinh doanh ở Việt Nam. Việc tiệm cà phê ở đường Hamelin chỉ là cái cớ cho sự bất bình của người Việt đối với người Hoa bùng phát, nó giống như: “Rơm đã khô chỉ đợi có hơi lửa là bốc, dẫu không cháy nay rồi cũng cháy mai, dẫu không có vị chén cà phê thời cũng vì đôi guốc gỗ hay bát cháo mì…” Và cái nguyên nhân sâu xa của phong trào này “là ở cái thế lực to tát quá chừng của người Tầu đã chiếm được trong trường kinh tế nước ta” (Thượng Chi , 1919 A, tr.227-228).

Báo cáo cuối năm của Toàn quyền Đông Dương năm 1919 đã nhận định; “Phong trào tẩy chay ở Sài Gòn tuy quá trớn, nó cũng có ý nghĩa rằng tư tưởng đã đổi mới; mới đây ít năm thì người Nam Kỳ chẳng những không thích mà lại còn sợ cái việc buôn bán: Bây giờ họ thấy thương mại là quan trọng cho họ và họ cần phải cố gắng trên cái hướng này(dẫn theo Trần Văn Giàu,1961, tr167)”.

Sau yết thị của chính quyền thực dân Pháp về việc cấm tụ tập đông người và hành động quá khích khi vận động tẩy chay Hoa kiều, cuộc cạnh tranh trên thương trường chuyển sang giai đoạn mới. Qua báo chí, giới tư sản và trí thức Việt Nam đi vào tổng kết, đánh giá cuộc vận động tẩy chay này và có một kế hoạch bài bản hơn trong cuộc giành các nguồn lợi kinh tế cho tư sản Việt Nam.

4. Vĩ thanh

Sự thay đỏi về nhận thức

Cuộc Tẩy chay Hoa Kiều đã khiến các nhà tư sản Việt Nam nhận thức rõ hơn về sức mạnh của sự đoàn kết, hỗ trợ nhau trong buôn bán. Phong trào tẩy chay Hoa kiều cũng cho thấy có hàng loạt vấn đề mà các nhà tư sản Việt Nam phải quan tâm. Đó là muốn “Để chế hàng Tàu” thì người Việt phải đẩy mạnh phát triển công thương nghiệp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và việc này cũng phải được tiến hành song song với việc kêu gọi tinh thần dân tộc trong việc dùng hàng nội hóa. Cũng từ cuộc vận động Tẩy chay này, trên báo chí đã xuất hiện những từ “Tình đoàn thể”, “tình đồng bang” để nhắc nhở đến vai trò của tình đoàn kết và tinh thần dân tộc trong cuộc đấu tranh chung vì sự thịnh vượng của đất nước.

Họ cũng nhận thức rõ vai trò của báo chí trong việc khuếch trương doanh nghiệp của mình và cổ vũ phát triển công thương nghiệp, coi báo chí là một phương tiện để tranh đấu, cất lên tiếng nói bảo vệ quyền lợi của mình trong xã hội.

Sự thay đổi trong phương thức hành động

 Sau cuộc tẩy chay Hoa kiều, liên tiếp trong các năm 1920, 1921, 1922…một số tổ chức và các tờ báo của các nhà tư sản Việt Nam ra đời.

Ngày 17/10/1920, Hội Bắc Kỳ công thương đồng nghiệp được thành lập theo quyết định ngày 31/7/1920 của Thống sứ Bắc Kỳ đã trở thành nơi tập hợp các doanh nhân nhằm đoàn kết hỗ trợ nhau trong việc phát triển công thương nghiệp và bảo vệ quyền lợi cho tư sản Việt Nam ở Bắc Kỳ do Nguyễn Huy Hợi làm Hội trưởng (Thực nghiệp dân báo, 7/8/1920, tr1) . Tôn chỉ của hội là: “Lấy hữu ái làm chủ nghĩa, anh em trong bạn công thương cùng họp nhau lại làm thành một đoàn thể, cùng vì quyền lợi chúng tôi ở buổi đời cạnh tranh này mà phải tương hợp với nhau để cùng nương tựa” (Hữu Thanh tạp chí, 15/1/1922, tr.91)

Sau khi thành lập, Hội đã có khoảng 100 hội viên và số hội viên không ngừng tăng lên nhanh chóng. Chỉ một năm sau ngày thành lập, số Hội viên là hơn 1000 người và đến năm 1922 số Hội viên đã tăng gấp đôi là khoảng hơn 2000 người. Trụ sở của Hội là số nhà 58 phố Hàng Bông (sau là 18 phố Mã Vĩ và 59 phố Hàng Gai), Hà Nội. Hội Bắc Kỳ công thương đồng nghiệp đã giành được nhiều sự quan tâm của tầng lớp doanh nhân Việt Nam  và sự ủng hộ nhất định của chính quyền thuộc địa.

Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Hữu Thu, một nhà tư sản lớn ở Bắc Kỳ, hoạt động trong lĩnh vực vận tải thủy[19] cùng với Bùi Huy Tín đã cho xuất bản tờ Thực nghiệp dân báo ra số đầu tiên vào ngày 8/7/1920.

Tháng 7 năm 1921, Bạch Thái Bưởi cũng cho phát hành tờ Khai hóa Nhật báo ra số đầu tiên ngày 15/7/1921.

Ngày 1 tháng 8 năm 1921, sau 8 tháng xin cấp phép Hữu Thanh tạp chí, phát hành số đầu tiên với tư cách là cơ quan ngôn luận của Hội Bắc Kỳ công thương đồng nghiệp [20].

Như vậy chỉ trong vòng 3 năm sau phong phong trào Tẩy chay Hoa Kiều, tư sản Việt Nam đã liên tiếp cho ra ba tờ báo với nội dung chủ yếu là:

-Cổ động cho tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong kinh doanh và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của nền kinh tế, đồng thời cũngrút ra những bài học trong quá trình đấu tranh, đưa ra các giải pháp khắc phục;

-Nhìn nhận, đánh giá lại kết quả và tác động của phong trào Tẩy chay Hoa kiều đối với nền kinh tế Việt Nam.

-Khuếch trương và quảng cáo cho các doanh nghiệp và các sản phẩm của người Việt

 Trong số 7 ngày 31/7/1920, Thực nghiệp dân báo đã cho thấy một thực tế: Ngay cả trong lúc phong trào Tẩy chay Hoa kiều đang diễn ra sôi nổi thì “chẳng những người mình vẫn uống chè Tàu, vẫn mua hàng Tàu mà mọi cuộc buôn bán lớn vẫn ở dưới quyền người Tầu cả, thậm chí vẫn người Tàu định giá gạo hàng ngày cho ta ở chợ Hàng Gạo, vẫn người Tàu buôn sơn của ta để bán ra ngoài, vẫn người Tàu tải bông của ta cho Nhật Bản dùng bông đó kéo sợi, rồi lại nhờ người Tàu tải sợi về đây mà bán cho ta, vẫn người Tàu định giá cau, giá bắp, giá nâu cùng biết bao các thứ sản vật khác hiện nay ta vẫn bán sang Hương Cảng. Nói tóm lại thì các thứ hàng của ta xuất cảng đều vẫn về tay người Tàu”, “hàng hóa mà ta nhập cảng của người ngoại quốc tất cũng về tay người Tàu cả” (Thực nghiệp dân báo, 31/7/1920, tr1).

Một vấn đề nhức nhối của giới doanh nhân Việt Nam là làm sao người Việt phải là lực lượng chính trong các hoạt đông kinh tế ở Việt Nam…Thực nghiệp dân báo cũng đặt ra câu hỏi: “Bao giờ An Nam ta mới thoát nỗi đem vàng đi đổ sông Ngô ?” (Thực nghiệp dân báo , 31/7/1920, tr1) Tuy nhiên, điều mà các nhà báo phải thừa nhận là phong trào Tẩy chay Hoa Kiều “về phương diện quốc dân, ít ra cũng được 1 điều là nhắc đồng bào lấy tấm lòng yêu chuộng nội hóa. Mấy hiệu cao lâu vì cuộc tẩy chay mà thành, đồ sứ Thanh Trì đã nhiều nhà dùng, chè bạt ướp hương sen đã nhiều nhà uống. Sau cuộc Tẩy chay, những nhà có lương tâm, dùng đồ ngoại hóa nghe mình vẫn thấy có chút thẹn thùng. Những cái đó muốn không cho là cái kết quả hay của cuộc Tẩy chay tưởng cũng không được”… “Cuộc Tẩy chay còn được một điểm nữa là nhiệt thành đối với đồng bang” (Mai Đăng Đệ ,1921, tr.1)

Đánh giá lại tiềm lực kinh tế của người Hoa để rút ra những bài học cũng là vấn đề mà các nhà tư sản Việt Nam quan tâm. Báo chí có nhiều bài phân tích “Thế lực người Trung Hoa ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ khác nhau thế nào? (Thực nghiệp dân báo từ ngày 4-12 dến 28-12 năm 1920); “Thế lực người Trung Hoa ở Nam Kỳ” ( Thực nghiệp dân báo, 11/7/1922, tr1) …và từ đó nhìn nhận lại những ưu điểm của người Hoa trong kinh doanh “như là kiên nhẫn, mạo hiểm, lưu lạc… và nhờ có những đức tính ấy dù có sự khó khăn đến đâu trong thương trường họ cũng có thể bảo thủ được quyền lợi của họ chu toàn….”; Cũng như nhìn thẳng vào sự thật để tìm ra nguyên nhân thất bại của người Việt trong buôn bán như chưa hiểu tình hình của nhà công nghệ ngoài Bắc, chưa có mối quan hệ chặt chẽ cũng như thiếu kinh nghiệm và sự khôn ngoan trong buôn bán… (Thực nghiệp dân báo,  24/7/1922, tr.1)

 

 

Kết luận

Phong trào Tẩy chay Hoa Kiều năm 1919 là sự phản ứng của giới tư sản Việt Nam trong xu thế đang lên sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đối với tư sản Hoa kiều và những hoạt động buôn bán của người Hoa ở Việt Nam. Cuộc đấu tranh này đã được sự ủng hộ của tầng lớp thượng lưu và báo giới Việt Nam. Chính báo chí cả tiếng Pháp và tiếng Việt đã chuẩn bị dư luận và khơi mào cho cuộc vận động tẩy chay Hoa kiều này. Trong suốt quá trình diễn ra phong trào, báo chí luôn đồng hành, cổ vũ cho phong trào, đưa ra lời kêu gọi, khích lệ cũng như dẫn dắt phong trào. Có thể nói phong trào Tẩy chay Hoa Kiều là sự mở đầu cho những hoạt động có tính gắn kết các doanh nghiệp Việt Nam trong một mục tiêu chung là phát triển công thương nghiệp ở Việt Nam.

Điều đáng lưu ý là chỉ trong vài ba năm sau cuộc Tẩy chay Hoa Kiều, giới doanh nghiệp Việt Nam đã có một tổ chức nhằm bảo vệ quyền lợi cho giới mình và 3 tờ báo tiếng Việt chuyên cổ động phát triển công thương nghiệp, thay đổi nhận thức của xã hội về vai trò và vị trí của nghề buôn, của công thương nghiệp trong nền kinh tế quốc gia và sự phát triển của xã hội, đồng thời giới thiệu các tri thức về phát triển công thương nghiệp và kinh doanh cũng như giới thiệu sản phẩm của mình…

Các nhà tư sản Việt Nam, thông qua báo chí và tổ chức Hội của mình cũng đấu tranh đòi được bảo vệ quyền lợi trong giao thương khi yêu cầu chính quyền thuộc địa lập ra một “bộ thương vụ để chủ trương về đường thương giới và bảo trợ cho thương dân”, chỉ nhập khẩu những mặt hàng trong nước không sản xuất được. Họ cũng yêu cầu được nghỉ ngày chủ nhật và ngày lễ, đươc có quyền bầu cử và được thi hành luật lao động cho giới công thương, lên tiếng ủng hộ cho người Việt được có đại diện trong các phòng thương mại và từ đó có cơ hội lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản Việt Nam. Đây chính là cách mà giới tư sản Việt Nam khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế và trong xã hội Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo và trích dẫn

1.      “ Bao giờ An Nam ta mới thoát nỗi đem vàng đi đổ sông Ngô”, Thực nghiệp dân báo số 7 ngày 31/7/1920

2.      Nguyễn Công Bình. (1959). Tìm hiểu về Giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc. Hà Nội: Văn sử địa, Hà Nội

3.      Cái nhược điểm ở thực nghiệp nước ta, Thực nghiệp dân báo ngày 10/11/1925

4.      Thượng Chi ( 1919 A) “Bàn về việc tranh thương với người Khách- Bắc Kỳ nên lập một Thương Hội lớn”, Nam Phong tạp chí, tập 27,  tháng 9 năm 1919

5.      Thượng Chi (1919, B)“ Chán chỉnh thương trường-Một cái gương cho báo giới nước ta- Ông Bạch Thái Bưởi”, Nam Phong tạp chí tập 29 tháng 11 năm 1919

6.      Charles Fourniau, (1991) “Người Hoa ở Bắc Kỳ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất”, T/C NCLS, số 2

7.      Christopher E. Goscha (2009),“Widening the Colonial Encounter: AsianConnections Inside French Indochina During the Interwar Period,”  Modern Asian Studies, Vol., No. 05, September (Đông Hiếu dịch trên Talawas số mùa Thu 2009)\

8.      Chương trình của bản báo”, Thực nghiệp dân báo, số 1 ngày 8/7/1920

9.      Công Luận ngày 5 tháng 8 năm 1919

10.   Công Luận ngày 12 tháng 8 năm 1919

11.   Công Luận ngày 14 tháng 8 năm 1919

12.   “Công việc hội Bắc Kỳ công thương đồng nghiệp”, Hữu Thanh tạp chí số 12 ngày 15/1/1922

13.   Mai Đăng Đệ “ Công kích nhau hoài” Thực nghiệp dân báo ngày 6/4/1921

14.   Trần Văn Giàu (1961), Giai cấp công nhân Việt Nam, sự hình thành và sự phát triển của nó từ giai cấp cho mình đến giai cấp tự mình, ( tái bản lần thứ ba có sửa chữa), Nxb. Sự thật, Hà Nội

15.    “ Khách trú khi ta” trên báo Lục tỉnh Tân văn số 658 ngày 11/8/1919

16.    Khách trú thị nhục ta, đồng bang mau thức dậy, Báo Lục tỉnh tân văn ngày 13/8/1919.

17.   Khai hóa nhật báo số 1 ngày 15/7/1921.

18.   “Làm thế nào cho sinh kế của dân được thư thái”, Khai Hóa nhật báo số 961 ngày 3/10/1924

19.   Đinh Xuân Lâm (CB) ( 2012) Lịch sử Việt Nam tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội

20.   Lời diễn thuyết của ông Nguyễn Chánh sắt đọc ở kỳ Hội đồng Hội An Nam thương cuộc công ty” ngày 30/8/1919, Nam Phong tạp chí số 27 tháng 9 năm 1919

21.   Lục tỉnh tân văn ngày 5 tháng 8 năm 1919

22.    Lục tỉnh tân văn số 658 ngày 11/8/1919

23.   Lục tỉnh tân văn ngày 13/8/1919

24.   Lục tỉnh tân văn ngày 18/8/1919

25.   Lục tỉnh tân văn ngày 22/9/1919

26.    Nam Phong tạp chí số 17 tháng 11 năm 1918

27.   Nam Phong tạp chí số 18, tháng 12 năm 1918,

28.   Nam Phong tạp chí số 27 tháng 9 năm 1919,

29.   Nam Phong tạp chí số 30 tháng 12 năm 1919,

30.   Đào Trinh Nhất, (1924) Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ, Nhà in Thụy Ký, Hà Nội,

31.   Người Nam buôn hàng Bắc đối với Hoa Kiều”, Thực nghiệp dân báo ngày 24/7/1922

32.   Nông cổ mín đàm tháng 9 năm 1919

33.   “ Nông nghiệp ngân hàng” Khai hóa Nhật báo số 1384 ngày 11/3/1926

34.   Phạm Quỳnh (1918), Một tháng ở Nam Kỳ trong Nam Phong tạp chí số 17 tháng 11 năm 1918

35.   Phạm Quỳnh, (1919), “Một tháng ở Nam Kỳ” Nam Phong tạp chí, số 20 tháng 2 năm 1919

36.   “Thế lực người trung Hoa ở Trung kỳ”, Thực nghiệp dân báo ngày 3/5/1922

37.   Thế lực người Trung Hoa ở Nam kỳ và Bắc kỳ khác nhau thế nào?” Thực nghiệp dân báo ngày 4/12/1920

38.   “Thơ Chệc gởi Mộng Huê Lầu”, Lục tỉnh tân văn, ngày 20 tháng 8 năm 1919,

39.   Thời Báo ngày 22 tháng 8 năm 1919,

40.    “Việc để chế đồ hàng Khách” Nam phong tạp chí số 27 tháng 9 năm 1919

38. “Việt Nam đoàn thể hội”, Công Luận báo, ngày 9/91919

39.  Phạm Xanh, Nguyễn Thị Dịu Hương ((2008), Hội Bắc kỳ công thương đồng nghiệp và Hữu Thanh tạp chí với vấn đề bảo vệ quyền lợi của giới tư sản Việt Nam, T/c NCLS. Số 1

 

 

Các tờ báo đều được lưu trữ tại Thư Viện quốc gia Việt Nam

 



* Bài đã đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ tư, Những vấn đề Giảng dạy tiếng Việt và Nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay, tập 2, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, ISBN 978-604-73-7135-8,  Tr 1103-1116 

 và trên https://thanhdiavietnamhoc.com/phong-trao-tay-chay-hoa-kieu-o-viet-nam-nam-1919-qua-nguon-tu-lieu-bao-chi-dau-the-ky

[1] Bài viết này do tác giả gửi cho talawas, tóm tắt lại nội dung chính của tiểu luận nghiên cứu, “Widening the Colonial Encounter: AsianConnections Inside French Indochina During the Interwar Period,” đăng trên Modern Asian Studies, Vol., No. 05, September 2009

[2] Bạch Thái Bưởi, kinh doanh ngành vận tải thủy, vào thập niên 1920, ông đã có khoảng 40 tàu và sà Lan chạy hầu hết các tuyến đường sông ở Bắc Kỳ, chạy đường ven biển, thậm chí đội tàu thuyền của ông còn vươn tới các nước trong khu vực như Hồng Kông, Trung quốc, Philippin, Singapo…Công ty của ông có khoảng 1400 nhân viên, và có đại lý ở nhiều tỉnh thành. Ông là nhà tư sản phải cạnh tranh với tư sản người Hoa gay gắt nhất.

[3] Nguyễn Sơn Hà là chủ hãng Sơn Résistanco ở Hải Phòng, hãng sơn của ông đã đánh bạt các hãng sơn của Pháp và làm chủ thị trường Sơn ở Việt Nam

[4]  Bài “Thực nghiệp Nam Kỳ tại hội chợ “đăng trên Thực nghiệp dân báo ngày 9/12/1920 giới thiệu:” Dầu dừa để sản xuất xà phòng của Trương Văn Bền không khác gì dầu Pháp. Trong mười mấy năm từ vốn liếng ban đầu là 3000 bạc, nay tăng lên 15 vạn bạc. Nhà máy của ông có tới 4 bộ máy ép có công suất 5 tấn/24 giờ, có 2 cối bóc lạc và vừng… với khoảng 100 công nhân” .

[5] Lê Phát Vĩnh có xưởng dệt ở cầu kho ( Sài Gòn) chuyên dệt các  loại the, lụa, sa tanh, ngoài, xưởng dệt có khoảng 100 công nhân làm việc ông còn  có nhà nuôi tằm, ươm tơ phục vụ cho sản xuất….

[6] Nguyễn Hữu Thu sở hữu hàng chục chiếc tàu và sà lan có chiếc có trọng tải 615 tấn; còn loại 250 tấn, 140 tấn thì có gần chục chiếc chủ yếu để chạy các tuyến đường từ Hải Phòng đi Nam Hải, Bắc Hải, Hồng Kông, Nam Định, Hải Dương, Hòn Gai, Bến Thuỷ, v.v...

[7]. Dù nhiều người đã kết hôn với người Việt và ở Việt Nam lâu đời, nhưng họ vẫn giữ tiếng nói, phong tục tập quán riêng của họ và tạo thành một cộng đồng cư dân riêng, phân biệt với những người Việt bản địa. Đặc biệt ở Nam Kỳ, nhiều nhóm người Hoa đến Việt Nam vào các thế kỷ 17-18, đã có nhiều đóng góp vào công cuộc mở cõi của các Chúa Nguyễn cũng như góp phần vào sự phát triển kinh tế ở khu vực này. Do điều kiện Nam Kỳ đất đai rộng, cư dân còn thưa thớt, các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn đã có chính sách coi những người Hoa này là những người Minh Hương (gồm cả những người lai bố Hoa, mẹ Việt) thuộc cộng đồng cư dân Việt.

[8] “Tẩy chay” là tiếng Khách Quảng Đông đọc hai từ Để chế. Để chế nghĩa là kháng cự, ngăn cầm, kháng cự ngăn cầm kẻ nghịch, kẻ thù mình nghĩa là tuyệt giao với người mình không ưa, nhất là đường giao dịch buôn bán. Đó là nghĩa chung, thời cái nghĩa riêng là mình đồng lòng nhau không mua đồ hàng của người mình ghét”, (Thượng Chi, 1919 A, tr227)

[9] Đây là con đường nối liền bùng binh Sài Gòn (nay là Quảng trường Quách Thị Trang), khu chợ Mới (chợ Bến Thành) với khu chợ cũ (Chợ Vải) nơi giao nhau giữa đường Hamelin với kinh Chợ Vải mà sau này được lấp đi để trở thành đại lộ Sambre (nay là đại lộ Lê Lợi), đại lộ được coi là lớn nhất và sầm uất nhất Sài Gòn. Năm 1917, đường này tách ra 1 đoạn và được đặt tên là đường Đỗ Hữu Vị, nay là đường Huỳnh Thúc Kháng)

[10] Con đường Hamelin nằm trong khu vực được quy hoạch là trung tâm Sài Gòn, chạy dọc từ quảng trường lớn khu chợ Mới (Chợ Bến Thành) bắt đầu từ ngã 3 đường Boulevard Bonard (Nay là đường Lê Lợi ) tới Boulevard Charner (Nay là đường Nguyễn Huệ), hai đại lộ sầm uất nhất ở trung tâm Sài Gòn. Con đường này cắt ngang qua các đường Mac Mahon (Nay là đường Nam Kỳ khởi nghĩa ), Adran (Nay là đường Hồ Tùng Mậu ), Chaigneau (Nay là đường Tôn Thất Đạm), Pellerin (Nay là đường Pasteur ). 

[11] Nay là trường Kỹ thuật Cao Thắng

[12] Bài Khách trú khi ta trong báo Lục tỉnh Tân văn số 658 ngày 11/8/1919 cho biết, từ ngày 1/8, các nhân viên sở Lục lộ ở Sài Gòn đã đồng nhau kêu gọi tẩy chay các cửa hàng cà phê của Hoa kiều “cần nhất giờ đây hãy tẩy chay cà phê của Chệc như mấy thầy làm việc ty Thiết lộ đã làm rồi đó. Từ hôm 1er Aoute đến nay chẳng có một người đến tiệm cà phê của Chệc”

[13] Báo chí gọi sự cố kết cộng đồng trong những người Hoa ở Việt Nam là “Tình đoàn thể”

[14] Bài báo của tác giả giả đã trích dẫn những câu được cho là miệt thị, coi thường người Việt và cuộc tẩy chay hàng hóa người Hoa của người Việt: “An Nam tẩy chai Shi noa, gây thương chiến với shi noa chả khác nào đoàn trẻ con, hiệp chơi với nhau, chia làm 2 phe mà đánh giặc với nhau vậy”

[15] Đường Pellerin xưa nay là đường Pasteur, nằm cắt ngang đường Hamelin, (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng)  

[16] Theo Thượng Chi trong Bàn về việc tham thương với người Khách Bắc Kỳ nên lập một thương hội lớn trên Nam Phong số 27, tháng 9 năm 1919, tr. 282 thì: “Việc để chế khách sở dĩ khởi lên mau lẹ vậy bởi một cái thơ tên Khách ký là Lý Thiên, gửi cho các nhà báo ta, nói xỉ mạ người An Nam nhiều lắm thơ đó chẳng hay thực hư thế nào mà cũng vì đó nên dân ta mới công phẫn như vậy ”…

[17] Nay là đường Thủ Khoa Huân

[18] “Lời diễn thuyết của ông Nguyễn Chánh Sắt đọc ở kỳ Hội đồng Hội An Nam thương cuộc công ty ngày 30-8-1919”- Nam Phong tạp chí số 27 tháng 9-1919 (đăng lại bài của Nông cổ mín đàm, tháng 9-1919), tr 284

[19] Nguyễn Hữu Thu sở hữu hàng chục chiếc tàu và sà lan có chiếc có trọng tải 615 tấn; còn loại 250 tấn, 140 tấn thì có gần chục chiếc chủ yếu để chạy các tuyến đường từ Hải Phòng đi Nam Hải, Bắc Hải, Hồng Kông, Nam Định, Hải Dương, Hòn Gai, Bến Thuỷ, v.v...

[20] Ngày 5/1/1921 Hội trưởng Nguyễn Huy Hợi đã làm đơn xin Thống sứ bắc Kỳ cho phép ra một tập chí của hội. Lúc đầu, dự kiến tạp chí có tên là “Doanh nghiệp tùng đàm”, sau khi thảo luận, tất cả tất cả hội nhất trí tên tạp chí sẽ là Hữu Thanh.

GIÁO DỤC PHÁP-- VIỆT Ở NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX. *

                                                                                                         Đặng Thị Vân Chi                   ...