Đặng Thị Vân Chi
Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu, sinh năm 1901 trong một
gia đình nhà nho nghèo yêu nước tại làng Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản Nam
Định (nay là xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình). Cha ông là Trần Huy Trình, một nhà Nho theo
đuổi nghiệp khoa cử, đi thi nhiều lần nhưng không đậu nên chủ yếu ở nhà dạy học.
Từ 6 tuổi, Trần Huy Liệu đã được cha dạy
khai tâm chữ Hán và cho theo học chữ Hán để thực hiện giấc mơ khoa bảng của
cha. Dưới sự kèm cặp nghiêm khắc của cha, Trần Huy Liệu sớm thể hiện sự thông
minh, và uyên bác. Ông đã vượt qua các kỳ Tuyển sinh,
Khóa sinh. Kỳ Thí sinh sau đó Trần Huy Liệu đã trúng tuyển nhưng
kết quả bị hủy bỏ vì phát hiện lộ đề,
khi kỳ thi được tổ chức lại thì ông bị ốm, không thể tham dự được. Không may đó lại
là kỳ thi hương cuối cùng của nền giáo dục Nho học truyền thống ở trường
Hà Nam. Giấc mộng khoa bảng không thành, gia cảnh khó khăn khi anh trai, cha, rồi
mẹ lần lượt qua đời khiến ông phải sớm vào đời kiếm sống ở tuổi 15.
Vào đời và trưởng thành
trong những năm đầu thế kỷ XX, là lúc các phong trào yêu nước của nhân dân
Việt Nam như phong trào Đông
Du, Duy Tân, Đông kinh Nghĩa thục, Việt Nam Quang Phục hội của
văn thân sĩ phu yêu nước đang diễn ra sôi nổi, ông đã sớm ý thức sâu sắc về thân phận của người
dân mất nước, cũng như nuôi dưỡng ý chí phản kháng và không chịu khuất phục
chính quyền đô hộ.
Cũng trong thời kỳ này, các tư tưởng dân chủ mới ở Phương Tây qua Tân
thư
từ Trung Quốc cũng đã du nhập vào Việt Nam và đã
ảnh hưởng tới tư tưởng và hành động của Trần Huy Liệu. Mang tinh thần yêu nước của cha, anh, Trần Huy Liệu đã sớm tiếp cận những tư
tưởng dân chủ và cách mạng của J.J. Rút xô (Rousseau), Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn). Lúc này, báo chí đã xuất hiện ở Việt Nam và nhanh chóng trở thành nơi gửi gắm tâm tư, lan tỏa tinh thần yêu nước và tư tưởng phản kháng chính
quyền thực dân của nhiều trí thức Việt Nam. Và từ rất sớm, tình yêu của ông đối với gia đình,
quê hương và đất nước được bày tỏ qua những bài thơ. Ông viết “từ thuở nhỏ, vào
khoảng mười một, mười hai tuổi, sống trong không khí cách mạng của gia đình,
tôi đã thuộc làu những bài ca yêu nước của những phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục do cha dạy cho.
Từ đó tôi tập làm thơ yêu nước với giọng cảm khái, lâm li, …những thơ ca làm từ
hồi nhỏ, mới đầu tôi trao đổi ngâm nga với một vài người bạn thân trong vùng
cùng tuổi và cùng thích làm thơ như tôi. Sau đó tôi mạnh dạn gửi đăng báo...”[1] Những bài thơ của ông ở tuổi
đôi mươi luôn mang nặng một tình yêu đối với quê hương, đất nước và nỗi trăn trở
về trách nhiệm của người dân đối với đất nước.
“ Lòng son cố giữ cho tròn đạo
Chí lớn mà sao chửa gặp thời…
(Nhắn trời, 1921) [2]
1.Bước
đầu đến với báo chí
Thơ của ông xuất hiện lần đầu
tiên trên báo chí là chùm bài Tự thuật, Dạ Hoài, Triệu Ẩu đăng trên Nam
Phong, (một tờ tạp chí có ảnh hưởng lớn ở miền Bắc và trong cả nước những
năm đầu thế kỷ XX) trong số tháng 4 năm 1923 dưới tên Trần Huy Liệu. Trước khi
quyết định vào Nam tháng 9 năm 1923, ông đã gửi cho Nam Phong bài Cảm
tác (đăng trên Nam Phong số 75 tháng 9 năm 1923). Trong suốt những
năm 1924-1925, dù đang
ở trong Nam, bên cạnh làm báo ông vẫn tiếp tục gửi thơ
cho báo Nam Phong với tên thật của mình là Trần Huy Liệu, có số ghi Nam
Kiều Trần Huy Liệu. Những bài thơ của ông thời kỳ này dù thể hiện sự cô độc “tìm đâu cho thấy người tri kỷ”, mong mỏi có
người đồng chí hướng, để “than thở cùng nhau
cái cõi đời”…, vẫn luôn đau đáu một nỗi niềm với nước non:
“Nợ đời chưa trả, dạ chưa ngơi”,…
“Non nước biết chăng lòng cảm
khái,
Gió
mưa quen mãi mặt phong trần,…
Nước nhà chung gánh vai
còn nặng…”[3].
Hai chữ Trung-Hiếu
luôn trăn trở trong ông: “Thân còn mang nặng Hiếu cùng Trung”[4], “Trung-Hiếu đôi vai nặng
gánh gồng”[5]... “Nợ nần chưa trả dân
cùng nước”[6], “Trung-Hiếu dồn vào một tấm thân, mới ló đầu ra hăm mốt tuổi; đã kề vai gánh nặng muôn
phần”[7]
Tháng 9 năm 1923
ông vào Sài Gòn cùng người thày Bùi Trình Khiêm, rồi tới Sa Đéc, nơi có Hội Nam Kỳ khuyến học của hội trưởng Trần
Quang Nghiêm. Sau những tháng ngày lạ nước lạ cái đầu tiên nơi đất
khách, tháng 6 năm 1924 ông được giới
thiệu với báo Nông Cổ Mín đàm thì ngay số báo ngày 1 tháng 7 năm
1924, ông xuất hiện trên tờ Nông cổ mín đàm với
bài viết bàn về “Bịnh Háo danh” dưới bút
danh Đẩu Nam Trần Huy Liệu. Bài báo đã phê phán thói háo danh của người
Việt và nhắn nhủ: Cái danh cần phải là cái danh do thực hành mà có như
Christophe Colombo khi tìm ra châu Mỹ, như
Washinton khi lập nên nước Mỹ, như Khổng
Tử muốn giúp đời lập ngôn mà trở thành Thánh sư, Rousseau muốn cứu nước “nên
rút ruột phơi gan, đời sau còn để lại cái danh ông Tổ Cách mạng...” Và ông kêu
gọi: “Một nhà đại nông phố, một nhà đại thương mại, một nhà đại công nghệ đối với quốc dân không bổ ích hay sao? Đối với
quốc quốc dân đã có bổ ích thì tự nhiên không có cái “danh” chân chính hay sao? Cứ gì phải chăm chăm mua chuộc những
cái hư danh
mà quên cả sự thiệt để cho nước ngày (một) hèn, dân ngày một
yếu! Bịnh háo danh nay đã trầm trọng, nên sớm chừa đi! Nên sớm chừa đi!”[8]
Trong tháng 7 năm 1924, trên tất cả các số báo của Nông
Cổ Mín đàm các bài của ông đều xuất hiện trên trang nhất và nhiều số các
bài của ông chiếm cả trang báo.
Một chàng trai 23 tuổi,
lần đầu viết báo với tư cách là một cây bút viết chính luận, ngay từ lần xuất hiện thứ
hai trên Nông Cổ Mín đàm ông đã có tuyên ngôn về vai trò, trách nhiệm của
một tờ báo và của nhà báo đối với xã hội, với đất nước và nhân dân. Ông viết: “Tờ
báo là gì? Tờ báo là cơ quan của quốc dân khi dân trí hãy còn bán khai, tờ báo
có một mãnh lực cảm hóa người dân rất lanh, rất mạnh” và ở một nước văn minh
thì “những người thượng lưu trí thức hăm hở trên đàn ngôn luận, mượn tờ báo mà
tỉnh quốc dân khi trong mê ngủ, mở mang
dân trí khi hãy còn u mê, đem ba tấc lưỡi cùng tấm lòng son mà cống hiến cho quốc
dân” và trách nhiệm của nhà báo khi đã
“bước trên đàn ngôn luận mà làm bạn với đồng bào, thì một lời nói ra, một
chữ viết ra đều là phơi ruột móc gan, kẻ dở học người hay, anh lớn dạy em bé
thì những bài mới có tâm sự có giá trị ảnh hưởng, có bổ ích với quốc dân”[9].
Thời gian này các bài báo của
ông được ký tên là Đẩu Nam Trần Huy Liệu, rồi dần chuyển sang Đẩu Nam. Các bài
báo của ông về chính trị, tin tức và đặc biệt bài của ông bình luận về sự kiện Toàn quyền Merlin bị ném bom ở Quảng Châu khiến độc giả chú
ý, nhưng lại bị chính quyền thực dân cảnh giác. Bài
của Đẩu Nam Trần Huy Liệu luôn là những tiếng kêu than, vạch rõ sự thật,
hiện trạng xã hội khi mà thanh niên bàng quan với vận mệnh đất nước. Ông viết:
“Than ôi! Vận mạng trong nước trông cậy vào bọn thiếu niên! Thiếu niên như thế
thì trông cậy gì?[10] Các bài của ông vì thế bắt đầu bị kiểm duyệt,
cắt bỏ. Ông chuyển sang bút danh Đẩu Nam, rồi Côi Vị. Ông cho biết: “Côi Vị
thay Đẩu Nam chẳng phải trái ý, trái tư tưởng Đẩu Nam:;Côi Vị cùng Đẩu Nam vẫn cũng tâm đầu ý hợp lắm, thường
hay luận thế với nhau thì chí biết chí, lòng biết lòng, hai người mến nhau như
một”[11].
2. Trở thành chủ bút báo Đông Pháp thời báo
Vào giữa tháng 8/1924, khi Lê Thành Tường tiếp quản tờ báo, bài của ông không còn xuất hiện trên
Nông cổ mín đàm nữa. Sau khi không còn đăng được bài ở Nông cổ mín đàm, ông
ra mắt tờ Ngòi bút sắt dưới hình thức
sách để dễ lọt qua hàng rào kiểm duyệt gắt gao của
chính quyền thực dân. Vừa xuất bản Ngòi bút sắt,
ông vừa hợp tác với Đông Pháp thời báo do Nguyễn Kim Đính
làm tổng lý kiêm chủ bút. Trong
thời kỳ đầu, ông thường dùng bút danh Đẩu Nam.
Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên Đông Pháp thời báo vào đầu tháng 9 năm
1924, bài thơ “Họa bài thơ “Hóa vi quới” của ông Lão Ngạt
trong báo Trung Lập”, ông thực hiện sứ mệnh
nhà báo của mình là kêu gọi đoàn kết, chấm dứt việc chia rẽ Nam-Bắc trước trào lưu phân
biệt vùng miền Nam-Bắc, vì “cái vấn đề Nam-Bắc này quan hệ đến
vận mang Tổ quốc tương lai”[12]. Và thức tỉnh người dân:
“ Dặm Nam Bắc đó tuy xa cách
Cùng tổ tiên xưa chớ để hoài
Gắng sức bén cầm dây hữu ái
Ra tay rộng mở hội tương
lai...”[13]
Thời gian đầu, trên Đông
Pháp thời báo ông thường đăng thơ trên mục Văn uyển. Bắt đầu từ cuối
năm 1924, Trần Huy Liệu trở thành cây bút chính của tờ báo, ông viết chính luận
trên trang nhất, xuất hiện thường xuyên trên mục Văn uyển và phụ trách mục
Phê bình báo giới dưới bút danh Nam Kiều. Ông đề cao trách nhiệm của người
cầm bút, đặc biệt là nhà báo: “mỗi khi ta cầm bút viết một chữ gì, một câu gì,
một bài gì, tức là một giọt máu của ta rỏ xuống đó, một bầu tâm sự của ta nhả
ra đó, tư cách của ta trông vào đó, danh vọng của ta hệ vào đó... viết ra có
tâm sự thì người đọc mới sanh cảm mà câu văn mới không đến nỗi nước lã ao bèo,
như tro tàn trong bếp, ngòi bút ta phải viết ra có chí khí, có chí khí thì câu văn mới có giá trị, không đến nỗi phát ra
những giọng bợ đỡ, phỉnh phờ ... ngòi bút ta viết ra phải cho quảng bác, có quảng
bác thì mới xuất hiện những áng văn chương phóng khoáng, tư tưởng ly kỳ... ngòi
bút ta viết ra phải có độ lượng, việc gì nên nói thì nói, việc gì không nên nói
thì không nói...ngòi bút ta viết ra phải nghiêm chính... phải có đởm lực... thì
dẫu nguy hiểm cũng không từ, hăm dọa cũng không sợ... Ta phải tự để ta làm cái
đích chịu muôn tên, ta phải tự để ta làm con đường cho đời bước, thì ngòi bút
bao giờ cũng chủ ở ta, mà không phải làm tôi tớ kẻ khác...”[14] Theo ông, “người viết báo chưa chắc đã đúng là
đánh thức giấc ngủ cho quốc dân, hay đủ tư cách đánh thức giấc ngủ cho quốc
dân, nhưng người ta phải biết tự phụ, tự tôn, mà nhứt là nhà viết báo quyết phải có”[15]. Với phương châm làm báo
như vậy, khi làm chủ mục Phê bình báo giới, với khối lượng kiến thức đồ
sộ và sự am hiểu về Hán học tích lũy được từ những năm tháng miệt mài học hành khi
còn theo đuổi nghiệp khoa cử, ông không ngại sẵn sàng vạch ra những yếu kém, những
ngộ nhận và lệch lạc không chỉ trong ngôn ngữ báo chí mà cả những suy nghĩ, tư
tưởng và nhận thức của nhiều nhà báo thời kỳ đầu của nền báo chí tiếng Việt.
Vào những năm đầu thập niên 1920, các phong
trào đấu tranh chống Pháp của các sĩ phu yêu nước dần tan rã và bị đàn áp, những
thanh niên yêu nước như Trần Huy Liệu dù sục sôi tinh thần yêu nước, muốn giành
độc lập để phát triển đất nước cảm thấy cô độc, lúng
túng và chưa có lối thoát: “Nước non mù tít cơn mưa gió, Ngòi lạch mênh mang nổi
nước bèo, Chẳng biết đợi thời hay lỡ bước, Mà thôi ngồi xó lại nằm quèo…”[16]
Đến ngày
11/2/1925, trên trang nhất báo Đông Pháp thời báo, Nam Kiều
xuất hiện chính thức với vai trò chủ bút báo. Sự chính danh này có lẽ đã mang tới cho ông
một chút hi vọng:
“ Còn non, còn nước, còn ta nhỉ,
Khôi phục
cơ đồ sẽ có khi!” [17]
Đảm nhiệm vai trò chủ bút
một tờ báo lớn có tên tuổi trong làng báo Việt Nam thời kỳ này, Trần Huy Liệu đã
tận dụng mọi cơ hội để bày tỏ thái độ của mình, phê phán những suy nghĩ lệch lạc,
định hướng nhận thức, hướng tới sự tỉnh thức. Ông kêu gọi phát triển công thương để phát triển
kinh tế đất nước, ông phê phán tục “
chơi xuân” quá dài của người Việt dẫn đến bỏ bê sản xuất, phê phán
“thói xa hoa”, phê phán ca nhạc của ta là “một lối ca nhạc “Táng gia vong quốc” nên cần
phải “lựa theo một lối mạnh mẽ, hùng hồn, cho khêu dục lòng người, nuôi lấy dân
khí để khỏi như câu: Rằng hay thì thật là hay, Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế
nào”[18]. Ông cũng cảnh tỉnh xã hội
và người dân về tình trạng thất nghiệp do vô nghề nghiệp trong xã hội thuộc địa
Việt Nam: “một dân tộc nào, một xã hội nào mà cái dân vô nghề nghiệp chiếm một
số đông thì không phải cái điểm hay cho dân tộc ấy, cho xã hội ấy vậy. Huống
chi thời buổi cạnh tranh, cái địa vị mình bỏ không ngồi, tất có người khác ngồi
vào, cái công việc mình bỏ không làm, thì người khác làm mất… Nước mạnh hay yếu
trông vào dân, nước thạnh hay suy trông vào dân, mà dân mình thì cứ tự gây nên
cái vạ thất nghiệp như thế thì dân còn ra sao? Nước còn ra sao?...”[19]. Trước hiện tượng thanh
niên tự tử vì những lý do thất tình, bị ép duyên, bế tắc trong cuộc sống, ông phân
tích những người “chết vì khoa học, chết vì thám hiểm, lại bao nhiêu người liều
chết dưới mũi tên hòn đạn để chuộc lại vận mệnh cho nước nhà so với cái chết
“cướp công cha mẹ, thiệt đời thông minh của người mình, nghĩ mà thẹn!”[20]
Ông đả kích hiện tượng lợi dụng
tình cảnh khốn khổ của người dân gặp hoạn nạn vì bão lụt, mất mùa để kêu gọi
quyên góp và ăn chặn tiền quyên góp là hành vi giả “nhơn nghĩa”, là cách “kiếm
ăn đê tiện” nhất!
Dưới hình thức phê phán “Các
câu tục ngữ có hại cho người mình”, ông không chỉ phê phán những nhận thức sai
lầm, những ngộ nhận về những nội dung đã
không còn phù hợp với thời hiện tại mà còn từ đó khích lệ tinh thần yêu nước và
trách nhiệm của người dân đối với đất nước. Khi phê phán câu tục ngữ “Thành đổ
đã có Chúa xây, can chi gái góa lo ngày lo đêm” ông viết: “ Xin chớ bảo rằng
thành đổ mà gái góa không phải lo được. Kìa Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc.
Bà Triệu Ẩu một mình đánh với quân Ngô, nếu cứ như cái thuyết “ Thành đổ Chúa
xây” thì 65 thành Linh Biểu can chi phải
đến Hai Bà Trưng gánh vác, quân Ngô tàn bạo can chi dến bà Triệu liều mình… Buốn
thay cho xã hội ta ngày nay, việc công ích không ai tán thành, việc công phẫn
không ai phấn khích” [21].
Báo Đông Pháp thời báo
do ông làm chủ bút dần trở thành tờ báo có khuynh hướng tiến bộ khi đăng tin và
giới thiệu bài thuyết trình của luật sư tiến bộ Phan Văn Trường, về sự từ trần
của Tôn Dật Tiên và đặc biệt bài viết của ông về tiểu sử của Tôn Dật Tiên (Tôn
Trung Sơn) đăng trong nhiều kỳ. Ông đã gọi Tôn Dật Tiên là một “ đấng đại vĩ
nhân”.
Ông
dịch sách giới thiệu về những tấm gương yêu nước, những nhà cách mạng, “những người
hiến thân vì nước, đổ máu mà đòi lấy cái quyền tự do của nước nhà, dẫu bao nguy
hiểm mà lòng sắt đá vẫn lay chẳng chuyển, rung chẳng dời”... Ông viết: “Tôi mong
chư độc giả đọc xong chuyện này sẽ sanh ra một tinh thần mạnh mẽ, hăng hái, đó
chính là cái sở nguyện của tôi!”[22]
Với những bài bàn về những
vấn đề quan trọng như “Tự do” ông trở lại với tên Trần Huy Liệu, Đẩu Nam Trần
Huy Liệu. Ông ca ngợi giá trị của Tự do: “Người không hít đặng không khí tự do,
người bị ngộp hơi, xã hội không bao bọc không khí tự do, xã hội bị kiềm thúc,
quốc gia nào, dân tộc nào đối với tự do cũng nhận là đồ nuôi sống về tinh thần,
cho biết tự do là vật rất quý báu, thiêng liêng, là vô hình vô giá mà người ta
ham mến như đói muốn ăn cơm, khát muốn uống nước, lạnh muốn mặc áo, nóng muốn hóng
mát, tự do đi đến đâu như một ánh sáng rọi
phá tan hết cả vùng u ám… người biết trọng tự do liều chết mua lấy tự do; xã hội
biết trọng tự do, ráng hết sức bảo thủ lấy tự do! Tự do quý giá lắm thay, nhu yếu
lắm thay”[23].
Đề cao tự do, ông cũng nhấn mạnh về tự do của người viết báo: “Nhà viết báo
không được tự do là ngôn luận của quốc dân không được tự do, ngôn luận đã không
được tự do thì dẫu có ngôn luận nữa cũng là vô bổ… Nhà viết báo không biết trân
trọng cái ngòi bút tự do của mình, để điếm nhục đến tiết tháo như thế, thì còn
nói gì đến tư cách nhà viết báo, giá trị ngọn bút viết báo nữa… Ngòi bút không
biết tự do thì không phải là ngòi bút của nhà viết báo, đã là ngòi bút viết báo
thì phải là ngòi bút tự do”[24]
Ông đề cao việc tranh luận
trên diễn đàn báo chí để phân biệt đúng sai và làm sáng tỏ những vấn đề còn gây tranh cãi, đồng thời ông
cũng cực lực phản đối tình trạng “cãi lộn” trên báo, và không quên gắn trách
nhiệm của người cầm bút đối với đất nước và nhân dân, không nên “chỉ biết có
mình mà không biết đến tờ báo, chỉ biết trung với chủ mà không biết trung với
quốc dân…Than ôi, bút chiến như vậy thì tờ báo còn ra chi, người viết báo còn
ra chi quốc dân còn mong gì?”[25]. Ông cũng đề cao con người
hành động (mà ông hay dùng từ thiệt hành (thực hành), ông cho rằng: “sống mà
không bổ ích gì với đời, chết mà không có tiếng tăm gì lưu lại đời sau, chỉ là
đồ sống thừa”.[26]
Giữa năm 1925, trên Đông Pháp thời báo
ông viết nhiều bài kêu gọi lòng yêu nước, nghĩa đồng bào “Kể từ vua Lạc Long,
bà Âu Cơ một bọc trăm trai đến nay đã hơn 4000 năm, sinh tụ ngày một đông, khai
thác ngày một rộng… bờ cõi thì ba kỳ thống nhất, dân cư 25 triệu người, ngắm đến
dư đồ, đọc lại lịch sử 25 triệu người đó chẳng phải chung một dòng máu Lạc Hồng
sao? … Vào cái thời đại cạnh tranh khốc liệt này, ví ta mà sao lãng cái nghĩa đồng
bào, thì cái trưng triệu tiêu diệt ta sẽ
thấy ngay, vậy nên nghĩa đồng bào ta phải lấy làm trọng…”[27]. Trong các bài báo của
ông, dù đề cập tới lĩnh vực nào, rốt cuộc ông cũng vẫn trở lại mục tiêu vì nước, vì dân.
Cuối năm1925, đầu năm1926, báo Đông Pháp thời
báo, do ông làm chủ bút đã đăng nhiều kỳ bài diễn thuyết tối 19/11/1925 của
Phan Châu Trinh về “Đạo đức và luân lý Á đông và Âu Tây”, tường thuật chi tiết
phiên tòa xét xử Phan Bội Châu, và liên tục đưa các tin tức về cuộc đấu tranh của
nhân dân đòi thả Phan Bội Châu, những phát biểu của Phan Bội Châu và tình cảm của
mọi tầng lớp nhân dân đối với Phan Bội Châu. Báo Đông Pháp thời báo cũng
là tờ báo giới thiệu về chuyến đi Pháp của Bùi Quang Chiêu và khởi xướng buổi
đón tiếp Bùi Quang Chiêu khi Bùi Quang Chiêu trở về nước… Ông và Nguyễn Kim
Đính, chủ báo, là thành viên của Hội đồng trị sự[28] chịu trách nhiệm tổ chức
cuộc đón rước Bùi Quang Chiêu. Trong
không khí đấu tranh sôi nổi của các phong trào yêu nước, đòi dân chủ như đòi thả
Phan Bội Châu, đón Bùi Quang Chiêu về nước, phong trào để tang
Phan Chu Trinh…
Ngày 26/3/1926, Đông Pháp thời báo đăng hàng chữ
to nổi bật trên mặt báo: “Hai ngày đáng
kỷ niệm cho dân tộc Việt Nam, 24-25 Mars (tháng 3) -1926”. Đây là bài tường thuật
lại cuộc đón rước Bùi Quang Chiêu của (Thuật giả) Trần Huy Liệu chiếm cả trang
nhất. Bài tường thuật đã mô tả chi tiết không khí đón rước, những xung đột xảy
ra trong cuộc đón rước vì phản đối thuyết “Pháp Việt đề huề”, bài diễn văn chào mừng Bùi Quang Chiêu của
Nguyễn Phan Long trở thành bài bày tỏ sự tiếc thương Phan Châu Trinh vừa tạ thế.
Đặc biệt số báo ngày 29/3/1926, báo Đông Pháp thời báo
đăng với hàng chữ lớn chạy suốt mặt trang: “Một cái tang chung của dân tộc
Việt Nam. Ông Phan Châu Trinh chết”. Trong số này, Trần Huy Liệu có 2 bài trên
trang nhất của báo: “Đồng bào ta đối với đám tang Phan Châu Trinh phải thế nào?”
và bài “Tiểu sử ông Phan Châu Trinh”. Có thể nói bài của Trần Huy Liệu về đám
tang Phan Châu Trinh là bài báo khởi xướng việc tổ chức đám tang cho Phan Châu
Trinh thật long trọng, để cùng nhau bày tỏ lòng tiếc thương một nhà chí sĩ yêu
nước: “Nhơn dịp buồn chung này, đồng bào ta nên nhớ rằng, ta đối với ông Phan
Châu Trinh, tức là dân tộc Việt Nam đối với nhà chí sĩ Việt Nam, ta phải thương
nhà chí sĩ thế nào tức là lòng ta thương nước thế đó.
Ban Hội đồng trị sự về đám tang này đã định đến ngày 4 Avril
(tháng 4) tức là ngày đưa đám, đó là một cái tang chung, chắc rằng ai cũng phải
nhận lấy cái tang ấy, và mong rằng đồng
bào ta ai cũng biết đau đớn đến cái tang chung mà định liệu cách nào cho xứng
đáng là một đám tang của nhà chí sĩ Việt Nam”[29]. Có thể nói bài của chủ
bút báo Nam Kiều là tiếng nói khởi xướng việc tổ chức quốc tang cho Phan Châu
Trinh và phong trào để tang Phan Châu Trinh đã thu hút sự ủng hộ và tham gia của
đông đảo nhân dân cả nước.
Trong 2 năm 1925-1926, Đông Pháp thời báo
do ông làm chủ bút đã nổi bật lên nhờ những tin tức, bài bình luận
sắc sảo, và tỏ rõ quan điểm của mình, ca ngợi những người yêu nước
và cực lực phê phán những người có tư tưởng nô lệ, thần phục chính quyền đô hộ.
Trên báo ông gọi Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là những “Nhà đại chí sĩ nước
Nam”. Báo Đông Pháp thời báo giành
được sự tín nhiệm và yêu mến của độc giả, số bản xuất bản không chỉ ngày càng tăng, có lúc lên tới lên tới
mức kỷ lục là 11.000 bản mà còn tăng thêm trang, tăng thêm số.
Sau nhiều bài đăng “Ta nên lập chính đảng lớn”, “Chính đảng
lập có thành không? ”, ngày 22/3/1926, trên trang nhất báo Đông Pháp thời
báo, ông viết bài “Lập chánh đảng”
dưới tên Nam Kiều- bút danh chính thức trong tư cách chủ bút báo Đông Pháp
thời báo. Ông viết: “Cái thời kỳ này thì không thể làm một cái hình bù
nhìn, có người mà không có quyền như thế nữa, trên chính phủ vui lòng trao quyền
cho ta, dưới ta cũng nên hăng hái mà nhận lấy bổn quyền của ta, góp gió thành
bão, góp cây nên rừng, nên phải có một chánh đảng để bênh vực dân quyền và hộ vệ
chính phủ, vậy thì việc lập chánh đảng đây quyết không nghi ngờ gì nữa.
Việc lập chánh đảng đã không còn nghi ngờ gì thì cũng
không nên trì hoãn nữa… May ra chánh đảng lập được rồi ta mới thực hiện được
cái quyền của ta, mà có mắt khỏi như mù, có tai khỏi như điếc, có miệng khỏi
như câm, có chân tay khỏi như què nữa! Mong thay! Mong lắm thay!”[30]
Để có chính danh tập hợp lực lượng trong
các cuộc vận động nhân dân đấu tranh, Trần Huy Liệu và các bạn cùng chí hướng
Nguyễn Trọng Hy, Bùi Công Trừng, Lê Thế Vĩnh, Lê Văn Tâm, Trương Văn Nhường,
Nguyễn Hào Đảng, Phan Trường Mạnh, Lê Văn Chất… quyết định thành lập đảng Thanh Niên. Thanh Niên ra mắt công khai trong cuộc mít tinh 3.000 người tại xóm
Lách (Sài Gòn). Việc tham gia rất dễ dàng, chỉ cần đến đăng ký ghi tên nên số
lượng đảng viên rất đông. Ngay lập tức họ trở thành lực lượng nòng cốt trong
các cuộc đấu tranh đòi để tang Phan Châu Trinh, thả Nguyễn An Ninh, đón Bùi
Quang Chiêu, vận động tổng đình công… Khi Bùi Quang Chiêu quay lưng lại với những
người yêu nước, ủng hộ chủ nghĩa Pháp -
Việt đề huề thì chính các đảng viên Thanh
niên lại thành lực lượng chủ yếu phản đối.
Sau một loạt bài báo có tính chất đả kích vào chủ nghĩa
Pháp -Việt đề huề và chính quyền thực dân, đặc biệt bài: “Tôi xin hiến cho
chính phủ Pháp nhứt là quan toàn quyền Varenne – một phương sách để thiệt hành
cái thuyết Pháp- Việt đề huề” đăng nhiều kỳ, có kỳ bị kiểm duyệt cắt bỏ hoàn
toàn, và bải “Phan Bội Châu có nên viết báo không?”[31] đả kích ngay vào thực trạng
không có tự do ngôn luận ở Việt Nam, Đông
Pháp thời báo của chủ bút Trần Huy Liệu trở thành tiếng nói duy nhất
ở Nam Kỳ ủng hộ các cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân và chống chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề. Đến ngày 18/8/1926 tên “Trần Huy Liệu- dit Nam Kiều” [32] không còn xuất hiện trên
mục chủ bút Đông Pháp thời báo nữa.
Sau khi thôi
làm chủ bút Đông Pháp thời báo, ông xuất bản tờ Pháp - Việt nhất gia. Nhưng tờ này chỉ tồn tại trong một thời gian
ngắn thì bị đình bản vì những bài báo chống lại chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề, lên án chế
độ thuộc địa, “lên án chế độ bóp nghẹt tự do ngôn luận, báo chí của thực dân
Pháp”[33]
3. Trở thành nhà
hoạt động chính trị, một chiến sĩ cộng sản, một nhà báo cách mạng
Tháng
4 năm 1927, Pháp tìm được tài liệu về tờ báo Le Nhà quê trên có ghi “diễn đàn của Thanh Niên” cùng với chương
trình, điều lệ của Đảng Thanh Niên,
biên bản cuộc họp của Đảng Thanh Niên…
tại nhà hàng Lạc Long, một cơ sở bí mật của Đảng
Thanh Niên, ông bị bắt về tội “lập hội kín trái phép, vừa làm rối loạn cuộc
trị an”. Nhờ sự giúp đỡ của luật sư Monanh (Monin), ông chỉ phải nộp phạt mà
không bị phạt tù.
Năm
1927 Trần Huy Liệu lập Cường học thư xã, xuất bản
các sách vận động yêu nước. Ông đã viết, dịch nhiều ấn phẩm như Một bầu tâm sự, Ba người anh kiệt nước Ý, Khai
quốc vĩ nhân (chung với Đào Khắc Hưng), Anh
hùng khứ quốc - Ông Nạp Nhi Tốn (Nelson), phần lớn đều được Cường học
thư xã xuất bản trong năm này. Cuốn Một
bầu tâm sự của ông được đông đảo người dân đón nhận và làm lay động tình cảm
của tầng lớp thanh niên đối với đất nước.
Năm 1928, Trần Huy
Liệu gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng,
đứng ra tổ chức Đảng bộ Nam Kỳ, trở thành nhân vật quan trọng của đảng này ở
đây. Ông vẫn tiếp tục viết, dịch và xuất bản sách ở Cường học thư xã và các nhà xuất bản khác [34] như như các cuốn Hiến
thân cho nước - Truyện ông
Louis Kossuth (dịch của Lương Khải Siêu) (1928), Câu chuyện chung (1929), Ngục
trung ký sự (1929). Thần cộng hòa
(1928), Tân quốc dân (1929), Gương phục quốc, Côn Lôn ký… , những cuốn sách lan tỏa tinh thần yêu nước và tấm
gương anh hùng vì nước, vì dân…
Cuối năm 1929,
thực dân Pháp đàn áp các phong trào cách mạng. Trần Huy Liệu bị bắt, lĩnh án 5
năm cấm cố ngoài Côn Đảo. Ở đây, Trần Huy Liệu vẫn miệt mài viết với bút danh Hải
Khách, làm chủ bút các báo của tù nhân
Hòn Cau và Tiếng sóng bể… Những
bài viết của ông tập trung động viên khí tiết của những người cách mạng và yêu
nước. Tiếp xúc với những người cộng sản trong tù, tiếp thu chủ nghĩa Mác, năm
1934, trước khi mãn hạn tù, ông cùng Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Bình… tuyên bố ly
khai Việt Nam Quốc dân Đảng. Thời kỳ bị cấm cố giữa biển khơi cũng là thời kỳ ông
trau dồi vốn tiếng Pháp, được gọi là “tự vị sống”.
Ra tù, bị trục xuất về Bắc Kỳ
an trí ở quê, năm 1935, Trần Huy Liệu lên Hà Nội tiếp tục sự nghiệp báo chí và
vận động yêu nước. Ông lập nhà xuất bản Đông Dương, ra sách về lịch sử
và cổ vũ cho phong trào yêu nước, chống thực dân.
Năm 1936, Trần Huy Liệu chính thức trở
thành đảng viên đảng Cộng sản Đông Dương, được phân công cùng Trường Chinh, Hạ
Bá Cang (Hoàng Quốc Việt) - cũng vừa từ nhà tù đế quốc trở về - làm báo nhằm
khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc và cổ vũ nhân dân tranh đấu. Nhờ ảnh
hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, phong trào đấu tranh đòi dân chủ của
các tầng lớp trong cả nước, chính quyền Pháp buộc phải nới rộng quyền tự do
ngôn luận, các báo được phát hành dễ dàng hơn trước. Báo chí đấu tranh liên tục
xuất hiện, tờ trước bị đình bản có tờ sau ra mắt kịp thời. Ông viết cho nhiều
tờ báo tiến bộ như Đời Mới, Bắc Hà, Tiếng
Vang, Kiến Văn, Hồn Trẻ, Tiếng Trẻ, Tân xã hội, Bạn dân, Le Travail,
Rassemblement, En Avant, Hà Thành thời báo, Thời thế... Khi Đảng Cộng sản
Đông Dương ra hoạt động công khai và xuất bản báo Tin tức, Trần Huy Liệu được giao trọng trách chủ bút. Tin tức
đã trở thành người bạn thân thiết của các tầng lớp nhân dân, nhất là giai cấp
cần lao. Khi Mặt trận Bình dân bên
Pháp đổ, tờ Tin tức bị chính quyền thuộc địa
đóng cửa, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định cho ra tờ Đời
nay, Trần Huy Liệu làm chủ bút. Tại hai tờ báo này ông là người người đại
diện và phát ngôn chính của tờ báo. Tại tòa báo, ông thường đón tiếp đại diện
của các tầng lớp nhân dân, hướng dẫn lập hội ái hữu, soạn thảo khẩu hiệu đấu
tranh và thường đi cùng đại diện của các đoàn hội đấu tranh trực tiếp với giới
chủ. Các tòa soạn báo trong
thời kỳ này không chỉ là nơi đăng tải tin tức, truyền bá tinh thần yêu nước,
chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn là nơi khởi xướng, tập hợp, tổ chức và hướng dẫn
quần chúng trong các cuộc đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh…
Tháng 10 -1939 Trần Huy Liệu bị Pháp bắt
và đày lên nhà tù Sơn La. Tại đây, ông cùng Xuân Thủy và nhiều đồng chí khác
xuất bản Suối reo, báo bí mật, lưu
hành trong ngục nhằm tuyên truyền
đường lối của Đảng, giáo dục, cổ vũ đồng chí, đồng đội giữ vững ý chí chiến đấu
và khí tiết của người cộng sản, tập hợp tù nhân đấu tranh. Cuộc vượt ngục Sơn La không thành công,
ông bị chuyển về căng Bá Vân ở Thái Nguyên. Tại trại mới, ông lại cùng bạn tù
lập hai tờ Dòng sông Công và Đường nghĩa, góp phần tích cực vào việc
động viên cổ vũ các chiến sĩ cách mạng đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà
tù thực dân.
Trở lại Nghĩa Lộ, tháng 3 năm 1945, ông và
nhiều đồng chí của mình tổ chức vượt ngục trở về tiếp tục hoạt động. Lúc này ông được
giao làm thư ký tòa soạn báo Cứu Quốc
- cơ quan của Tổng bộ Việt Minh, do Bí thư Xứ ủy Lê Quang Đạo phụ trách -
cùng Xuân Thủy và nhiều người khác. Tờ báo Cứu quốc trỏ thành cơ quan ngôn luận,
tiếng nói chính thức của Tổng bộ Việt Minh. Các bài viết của ông đã vạch trần
bản chất của Phát xít Nhật khi dựng lên chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, đặc
biệt khi Nhật đảo chính Pháp, các bài viết của ông kêu gọi nhân dân chuẩn bị
khời nghĩa vũ trang đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng tư tưởng
cũng như góp phần vào thành công của các cuộc vận động khởi nghĩa giành chính
quyền.
Ngày 13-8-1945, ông được cử tham dự Đại hội quốc dân Tân Trào và được Đại hội bầu
làm Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng. Ông được phân công soạn thảo Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa. Quân lệnh
số 1 phát đêm 13-8 -1945, trở thành Lệnh
Tổng Khởi nghĩa, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành độc lập vĩ đại của
dân tộc.
Ngày 30-8-1945, với cương vị Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền đầu tiên trong Chính phủ lâm thời, ông đã cùng Nguyễn
Lương Bằng thay mặt Tổng bộ Việt Minh
và ông Cù Huy Cận được Chính phủ cử vào Huế tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại,
chủ trì Lễ thoái vị của vị vua cuối
cùng của Triều Nguyễn, đánh dấu sự chấm dứt của chế độ phong kiến từng tồn tại
hàng nghìn năm trong lịch sử Việt Nam.
Từ ngày 1-1-1946, ông làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Cổ động trong Chính phủ liên hiệp, lần lượt đảm nhận
các chức vụ Chính trị cục trưởng trong Quân
sự ủy viên hội (tương đương với chức Cục
trưởng Cục chính trị/ Chủ nhiệm Tổng cục chính trị sau này[35]), Chủ tịch Ủy ban vận động đời sống mới, chủ tịch Hội văn hóa cứu quốc. Ngày 6-1-1946, ông trúng cử đại biểu Quốc hội
khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là đại biểu của tỉnh Nam
Định, được bầu làm Ủy viên Ban thường
trực Quốc hội tại kỳ họp lần thứ hai của Quốc hội. Cũng năm 1946, ông được
cử làm Bí thư Tổng bộ Việt Minh. Từ
năm 1948-1950 ông làm Ủy viên Ban chấp hành Hội
Văn học Việt Nam.
Năm 1952, ông có nguyện vọng được chuyển
sang chuyên nghiên cứu về lịch sử nước nhà[36]. Đáp ứng nguyện vọng đó
của ông, khi Ban Nghiên cứu Lịch Sử - Địa
lý - Văn học trực thuộc Ban
chấp hành Trung ương Đảng thành
lập theo quyết định ngày 2-12-1953 của Tổng Bí thư Trường Chinh, ông được cử
làm Trưởng ban. Các thành viên đầu tiên là Minh Tranh, Tôn Quang Phiệt, Hoài
Thanh, Trần Đức Thảo, Vũ Ngọc Phan, Phạm Trọng Điềm… Đây cũng chính là tổ chức
tiền thân của Viện Sử học và Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
Năm 1957, ông được cử làm Tổng thư ký Ban sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội.
Năm 1958, ông được phong hàm Giáo sư
cùng với các ông Nguyễn Khánh Toàn, Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn
Huyên, Trần Đức Thảo[37]…
Ngày 6-2-1960, Viện Sử học được thành lập, ông được cử làm Viện trưởng, Ủy viên Ủy
Ban Khoa học Nhà nước, rồi Phó Chủ nhiệm Ủy
ban Khoa học xã hội Việt Nam.
Tháng 5 năm 1960, ông được cử tri Nam
Định bầu làm đại biểu quốc hội khóa 2 (1960-1964), là Ủy viên Ủy ban thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất của Quốc hội. Ông còn
là Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt- Trung,
Ủy viên ban chấp hành Hội hữu nghị
Việt-Xô…
Năm 1963 ông được nhà nước Cộng hòa dân
chủ Đức trao tặng Huân
chương Humbold và được bầu làm Viện sĩ thông tấn, Viện hàn lâm khoa học Đức.
Năm 1966, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam thành lập, ông được bầu làm Chủ tịch
đầu tiên của Hội Khoa học lịch sử Việt
Nam.
Ngày 27-7-1969, khi đang nói chuyện
trong lễ kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ tại Hội trường Ủy ban Khoa học Xã
hội, Trần Huy Liệu bị đột quỵ. Ông qua đời ngay hôm sau 28-7-1969 (rằm
tháng 6 âm lịch), thọ 68 tuổi.
Lời kết
Sinh ra và trường thành trong những năm đầu
thế kỷ XX, trong bối cảnh đất nước đang bị ngoại xâm đô hộ, chàng thanh niên
yêu nước Trần Huy Liệu đã sớm nhận ra vai trò của báo chí và chủ động đến với
báo chí từ rất sớm, khi nền báo chí Tiếng Việt ở Việt Nam còn trong thời kỳ
phôi thai.
Lần đầu tiên ông ra mắt báo chí bằng những
bài thơ thể hiện lòng yêu nước, sự trăn trở một thanh niên trước vận mệnh đất
nước trên tạp chí Nam Phong và cũng ngay từ khi mới bước chân vào làng báo, ông đã sớm đưa ra
tuyên ngôn về vai trò và trách nhiệm của một tờ báo, của nhà báo đối với xã
hội, với nhân dân và đất nước.
Trong thời kỳ đầu của nền báo chí tiếng
Việt, với trình độ Hán học uyên bác của mình ông đã đảm nhận mục Phê bình
báo giới, dũng cảm đứng ra phê bình những sai lầm, ngộ nhận của báo giới
không chỉ trong việc dùng từ Hán Việt, trong nhận thức của nhiều bạn đồng nghiệp,
góp phần xây dựng một văn phong tiếng
Việt chuẩn xác của nền báo chí thời kỳ sơ khai.
Trong suốt cuộc đời làm báo của mình, ông
luôn trung thành với tuyên ngôn về trách nhiệm của nhà báo và tờ báo đối với xã
hội, nhân dân và đất nước. Ông đã dùng tờ báo để đăng tải những bài báo nhằm
thức tỉnh tinh thần yêu nước, thức tỉnh ý thức trách nhiệm của người dân đối
với xã hội, với vận mệnh dân tộc, đề cao những tấm gương hi sinh vì đất nước vì
nhân dân. Với vai trò chủ bút nhiều tờ báo, trong nhiều thời kỳ, ở bất cứ thời
điểm nào ông cũng dùng tờ báo, bài viết của mình để thức tỉnh, kêu gọi, khởi
xướng, tổ chức và hướng dẫn nhân dân đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc,
tiến bộ xã hội. Và các tờ báo và tòa soạn báo của ông cũng đều trở thành nơi khởi
xướng, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh, góp phần quan trọng
và cao trào vận động yêu nước cũng như thành công của cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc.
Cuộc đời làm báo của ông đã cho thấy chân
dung trọn vẹn của một nhà báo cách mạng vĩ đại, dùng trái tim yêu nước, trí tuệ
uyên bác và ngòi bút sắc bén của mình đi qua hết mọi bước ngoặt quan trọng của
lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Tài liệu tham khảo:
-
Phạm Như Thơm (2020), Hồi ký Trần Huy Liệu,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
-
Trần Đức Cường (2001), Giáo sư - Viện sĩ Trần Huy Liệu - nhà sử học cách mạng
tiêu biểu của cả nước, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (319).
-
Trần Chiến (2020), Cõi Người, Nxb Trẻ.
- Tiểu sử đồng chí
Trần Huy Liệu (1969), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 125
-
Văn Tạo (1998),
Viện sử học Việt Nam (1953-1998), Hà
Nội.
-
Võ Nguyên Giáp (2001), Nhớ anh Trần Huy Liệu, Tạp chí Nghiên cứu lịch
sử, số 4 (317).
- Thư mục của Trần
Huy Liệu
(1969), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 125.
- Nam Phong tạp chí
-Nông Cổ Mín đàm
-Đông Pháp thời báo
[1] Trần Huy Liệu
( 1977) , Thơ Trần Huy Liệu, NXB Văn học, tr 16
[2] Trần Huy Liệu
( 1977) Thơ Trần Huy Liệu, sách đã dẫn, tr 29-30
[3] Trần Huy Liệu,(1923)
, “Cảm tác”
Nam Phong, ), tập 75, tháng 9, tr252-253
[4] Trần Huy Liệu (1923), “Vịnh thằng bé con”, Nam Phong tạp chí , tập 77, tháng 11, tr 430
[5] Trần Huy Liệu, (1924), “ Cảm hoài”, Nam Phong tạp chí , tập
90, tháng 12, tr 550
[6] Đẩu Nam Trần Huy
Liệu (1924), Tự trào, Nông cổ mín đàm, số 119, ngày 22 tháng 7, tr1
[7] Nam Kiều,
(1925), Họa nguyên vận bài “ Hỏi Trời” của
Quốc Biểu” “, Đông Pháp thời báo , ngày 5/1, tr 1.
[8] Trần Huy Liệu, (1924) “Bịnh Háo danh”, Nông cổ mín đàm , báo ngày số 116 ngày 1/7, tr 1
[9] Đẩu Nam Trần Huy
Liệu (1924), “Nghề viết báo”, Nông cổ mín đàm số 117 ngày 8/7, tr 1
[10] Đẩu Nam Trần Huy
Liệu (1924), “Mắt xanh biết có ai vào”, Nông Cổ mín đàm, số 118 ngày
15/7, tr 1
[11] Côi Vị (1924), “Nông Cổ Mín Đàm”, số 119 ngày 22/7,
tr1
[12] Đẩu Nam (1924), “Cùng ông Trương Duy Toản, tác
giả bài Đã hay Nam - Bắc một nhà”, Đông Pháp thời báo số 187, ngày 3/9,
tr2
[13] Đẩu Nam (1924), “Họa bài thơ “
Hóa vi quới” của ông Lão Ngạt trong báo Trung Lập “, Đông Pháp thời báo, số 186 ngày 1/9/, tr 1
[14] Nam Kiều (1925),
“Khai bút”, Đông Pháp thời báo, số 245 ngày 3/2, tr 1
[15] Nam Kiều( 1925),” Cái khổ tâm của người viết
báo về lời văn công kích”, số 283 ngày 4/5, tr1
[16] Nam Kiều (1925), “Cảnh
mưa dầm” Đông Pháp thời báo, số 258 ngày 4/3, tr1
[17] Nam Kiều
(1925) “ Cháy nhà cảm vịnh”, Đông pháp thời báo, số 249 ngày 11/2, tr 1
[18] Nam Kiều (
1925) “ Ca nhạc Tây và ca nhạc ta”, Đông pháp thời báo ngày 4/3 tr 1
[19] Nam Kiều,
(1925), “ Nạn thất nghiệp”, Đông Pháp thời báo, số ngày 1/7, tr1.
[20] Trần Huy Liệu
( 1925)” Cái chết của người mình”. Đông Pháp thời báo, số ngày 3/7/ tr 1
[21]Nam Kiều ( 1925),”
Các câu tục ngữ có hại cho người mình”, Đông Pháp thời báo, số 262 ngày
13/3/1925
[22] Trần Huy Liệu ( 1926), Tấm gương ái
quốc, Đông Pháp thời báo số 405 ngày 8/3, tr4
[23] Trần Huy Liệu
( 1925), “ Khóc tự do”, Đông Pháp thời báo , số 318 ngày 31/7, tr 1
[24] Nam Kiều (1925), “Ngòi bút tự do của nhà
viết báo”, Đông Pháp thời báo số 293, ngày 29/5, tr1
[25] Đẩu Nam (
1925) “ Bút chiến”, Đông Pháp thời báo, số 321 ngày 7/8, tr1
[26] Nam Kiều (
1925), “ Bàng quan”, Đông Pháp thời báo, ngày 4/5, tr1
[27] Đẩu Nam, ( 1925)”
Nghĩa đồng bào”, ĐPTB, số 343 ngày 30/9. Tr1
[28] Hội đồng trị sự
gồm lãnh đạo báo ĐPTB và nhiều trí thức, chủ
doanh nghiệp, các ông thành viên của Hội đồng thành phố Chợ Lơn…
[29] Nam Kiều
(1926), “Đồng bào ta đối với đám tang Phan Châu Trinh phải thế nào”, Đông
Pháp thời báo số 414 ngày 29/3, tr1
[30] Nam Kiều (
1926) “Lập chánh đảng”, Đông Pháp thời báo, số 411, ngày 22/3, tr1
[31] Đông Pháp thời
báo số 464 ngày 28/7/1926, tr1
[32] Từ ngày
16/4/1926, báo Đông Pháp thời báo ghi Chủ bút: Trần Huy Liệu dit Nam Kiều.
[33] Phạm Như Thơm (2020), Hồi
ký Trần Huy Liệu, Nxb Khoa học xã hội, tr.58
[34] Nxb
Đức Lan Phương,
Nxb Tam thanh
[35] Võ
Nguyên Giáp (2001), Nhớ anh Trần Huy Liệu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
số 4 (317), tr.87.
[36] Ông từng tâm sự “ Đã từ lâu lắm, vì nhu cầu của thời đại vì tính
thích nghiên cứu về sử học , nhất là say sưa về những chuyện cách mạng gần đây,
tôi ôm một mộng lớn là viết một quyển sử cách mạng Việt Nam từ thời Pháp thuộc.”, dẫn
theo
Trần
Đức Cường ( 2001), “Giáo sư – Viện sĩ Trần Huy Liệu- nhà sử học cách mạng tiêu
biểu của cả nước”., Tạp chí Nghiên cứu lịch
sử, số 6 ( 319), tr5
[37] Văn Tạo ( 1998), Viện sử học Việt Nam ( 1953-1998), Hà Nội, tr
26-27,