Đặng Thị Vân Chi
Cho đến trước khi Pháp xâm lược, hệ thống giáo dục ở Việt Nam chưa có gì thay đổi. Các trường, lớp dạy chữ Hán, dạy Ngũ kinh, Tứ thư của Khổng giáo do nhà nước và tư nhân mở tại các tỉnh thành, phố huyện cũng như trong các làng xã vẫn có mặt ở khắp mọi nơi. Viên Bác sĩ người Pháp, Hocquard, có nhiều tháng sống tại Nam Định các năm 1884-1885 đã nhận xét: việc giáo dục ở Việt Nam được nhà nước quan tâm, xây dựng trường sở ở khắp các làng xã “Không một làng nào, một thôn nào lại không có trường ốc và hàng trăm con em theo học chuyên cần. Họ học đọc và học viết chữ Hán…”[1]
Tháng 9 năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Sự xâm lược của Pháp và việc Việt Nam mất quyền độc lập, không chỉ ảnh hưởng sâu sắc mà còn dẫn tới sự thay thế cả một hệ thống giáo dục và khoa cử Nho giáo, vốn là nền tảng, là phương thức tuyển chọn quan lại cho nhà nước phong kiến Việt Nam bằng một hệ thống giáo dục mới mẻ theo kiểu Phương Tây, hệ thống giáo dục Pháp - Việt. Sự thay đổi này đặc biệt diễn ra trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ XIX, và những năm đầu thế kỷ XX.
Ở Nam Định, cuối thế kỷ XIX, ngoài trường ở tỉnh thành và 9 trường học ở các phủ- huyện do nhà nước xây dựng từ những năm đầu và giữa thế kỷ XIX [2], thì tại các làng xã còn rất nhiều các trường tư do các quan lại sau khi về hưu về quê mở trường dạy học, cũng như của nhiều người không đỗ đạt hoặc sau khi đỗ đạt, không ra làm quan mà ở nhà dạy học…
Vào những năm cuối thế kỷ 19, số lượng các trường tư này có xu thế tăng lên do tình hình nước ta bị Pháp đô hộ, với nghĩa khí nhà Nho, nhiều vị khoa bảng không muốn tham gia chốn quan trường đã từ quan về làng mở trường dậy học như:
-Trường của TS Đặng Xuân Bảng, (1828-1910) ở làng Hành Thiện, (nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường). Năm 1888, sau khi làm đốc học Nam Định được hơn 1 năm thì cụ xin từ quan về quê mở trường dạy học. Học trò của cụ rất đông, có nhiều người đỗ đạt cao. Cụ còn xây dựng tủ sách, sưu tầm, viết sách, cho in khắc sách phục vụ học trò các nơi đến học hoặc cung cấp sách cho các nơi khác. Thư viện Hy Long của cụ được coi là thư viện lớn nhất Bắc Kỳ, cùng với thư viện Long Cương của cụ Cao Xuân Dục ở Huế là 2 thư viện lớn nhất cả nước.
Cũng giống như trường hợp của cụ Đặng Xuân Bảng, ở làng Hành Thiện còn trường của TS. Nguyễn Ngọc Liên và cử nhân Đặng Ngọc Toản.
- TS Nguyễn Ngọc Liên (1842- 1937) đỗ TS năm 1890, được bổ nhiệm làm tri phủ Nam Sách (Hải Dương). Năm1892 cụ bị huyền chức (nghỉ làm việc không lương) 1 năm vì tội không chào viên Toàn quyền Pháp De Lanessan đi Kinh lý các tỉnh Bắc Kỳ[3]. Sau đó, năm 1894, cụ được đề nghị bổ nhiệm làm đốc học tỉnh Nam Định nhưng cụ từ chối về mở trường dạy học tại quê nhà là làng Hành Thiện phủ Xuân Trường và có 3 năm cụ dạy ở Kiến Xương (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Cụ dạy học ở quê nhà cho tới năm 1915, khi không còn các kỳ thi hương nữa thì trường đóng cửa. Trường của cụ Nghè Nguyễn Ngọc Liên là trường dạy ở bậc cao, học trò của cụ thường là những người có năng lực, đạo đức tốt, nhiều người đã đỗ tú tài, cử nhân, muốn học cụ để tham dự kỳ thi Hội. Học trò của cụ rất đông và nhiều người đỗ đạt cao. Đây cũng là ngôi trường cung cấp nhiều chiến sĩ cho phong trào Đông Du của Phan Bội Châu sau này.
- Cụ Đặng Ngọc Toản (1841-1905) sau khi làm quan Giáo thụ phủ Kiến Xương được hơn 1 năm thì xin cáo quan về quê ở làng Hành Thiện, mở trường dậy học. Học trò của cụ rất đông lên đến hơn 1000 người, trong số đó có tới 90 người đậu cử nhân và tú tài. Cụ cũng viết 2 cuốn sách dậy học trò là cuốn Âm chất diễn âm ca là cuốn sách về triết học và đạo đức, và cuốn Quốc triều lịch khoa hương sách tập là cuốn sách dậy làm văn bài thi hương và các bài văn mẫu.
- Cử nhân Nguyễn Đức Ban (1850-1924) người làng Hành Thiện đỗ cử nhân năm 1886 làm Huấn đạo huyện Văn Giang (Bắc Ninh) 3 năm, rồi xin từ chức về làng mở trường dậy học và nghiên cứu Đông y.
- Trường của cử nhân Lê Quả Dục (1835-1899). Ông đang làm Huấn đạo huyện Ý Yên và Tri huyện huyện Phong Doanh, xin từ quan về quê là làng Hoành Nha dạy học.
- Trường của Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh (1835-1920) ở xã Chân Mỹ, huyện Đại An (nay là thôn Trực Mỹ, xã Yên Cường, huyện Ý Yên)
- Trường Hải Châu của Trần Văn Gia (1836-1892) ở xã Hà Trung huyện Hải Hậu.
- Trường của Cử nhân Nguyễn Đôn Thi (1853-1935) đỗ cử nhân năm 1887, làm tri huyện rồi xin về quê mở trường trong thập niên 1890 ở Hành Thiện, Xuân Trường
- Trường của TS Đặng Đức Địch (1817-1897), sau khi làm Thương Thư bộ Lễ, năm 1885 cụ xin về hưu và về mở trường dạy học ở Trà Lũ (Giao Thủy) 2 năm, sau đó cụ lại sang Động Trung (Kiến Xương- Thái Bình) dạy 2 năm nữa mới thực sự nghỉ hưu.
-Trưởng của Hoàng giáp Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1834-1909). Năm 1885, ở tuổi 51, ông cáo quan về quê mở trường dậy học ở làng Ngòi, xã Hoàng Xá (nay là xã Yên Trung, Ý Yên),
Ngoài các trường nổi tiếng của các vị đại khoa thu hút nhiều sĩ tử trong vùng đến học, các làng còn nhiều lớp học do các vị đỗ tú tài, đậu nhị trường, tam trường dậy khai tâm, trình độ sơ học, tiểu học cho trẻ em.
Cùng với sự gia tăng của số các trường học, số học sinh cũng tăng lên, thể hiện qua số sĩ tử dự thi ngày càng tăng tại các kỳ thi hương.
Năm 1886 ( Khoa ân thi)[4] số sĩ tử dự thi ở trường Nam Định là 7.691 người.
Khoa thi năm 1888 số sĩ tử dự thi là 8000 người.
Khoa thi năm 1894, số sĩ tử dự thi lên tới 11.000 người.
Khoa thi năm 1897, số sĩ tử dự thi gần 12.000 người.
Khoa thi năm 1900, số sĩ tử đã tăng lên 12.948 người. [5]
Đến năm 1903, chính quyền thực dân quyết định can thiệp sâu hơn vào nền giáo dục khoa cử Việt Nam đã quy định các sĩ tử sau khi thi đậu bắt buộc phải qua kỳ thi bổ sung tiếng Pháp và quốc ngữ mới được tuyển chọn bổ nhiệm vào ngạch quan trường nhưng số thí sinh đăng ký dự thi vẫn là 10.349 người và có mặt dự thi vẫn là 9.581 người, trong đó trường Nam Định là 6.162 người.[6]
Chương trình học trong các trường chủ yếu là học Tứ thư: Luận ngữ, Trung Dung, Đại học, Mạnh tử và Ngũ kinh: Kinh Thi, Kinh thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, phải đọc sách của các bậc đại nho Trung Hoa và Việt Nam bình về đạo Nho, phải thuộc Bắc sử (Sử Trung Quốc), Nam sử (Lịch sử Việt Nam), phải nắm được về địa lý, về luật… Nhưng vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tại trường của cụ nghè Đặng Xuân Bảng, cụ đã tổ chức nhiều cuộc bình văn, tuyên truyền về thực học thu hút các sĩ tử trong vùng tham dự.
Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, do tình hình chiến tranh, các trường thi Hương không còn giữ nguyên như trước. Khoa thi năm 1874 chỉ có 2 trường thi Nam Định và Hà Nội, hoặc khoa thi năm 1885, khi Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng ở Quảng Trị thì chỉ có 1 trường thi được mở ở Bình Định. Từ năm 1891 đến khi Khoa cử Nho giáo chấm dứt vào năm 1919, thì các kỳ thi hương được tổ chức 3 năm 1 lần ở các trường thi: Thừa Thiên, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nam và Bình Định.
Sau Hiệp ước Harmand (1883) và Patenôtre (1884), Hà Nội trở thành thủ phủ của chính quyền thực dân ở Đông Dương. Nhiều đất đai ở Hà Nội bị lấy làm công sở cho chính quyền thực dân, trong đó có khu vực trường thi Hà Nội, vì vậy từ năm 1886 trường thi Hà Nội được ghép vào thi chung với trường Nam Định. Đến năm 1894, trường thi ở Nam Định được gọi là Trường thi Hà Nam.
Cũng từ năm 1884, nội dung các kỳ thi Hương cũng có sự thay đổi. Ngoài 3 kỳ thi các sĩ tử còn phải qua kỳ phúc hạch kiểm tra lại năng lực. Kỳ phúc hạch này các sĩ tử phải làm một bài kinh nghĩa, một bài phú và một bài văn sách.
Đến năm 1896, sau khi tạm ổn định tình hình chính trị ở Đông Dương, chính quyền thuộc địa của Pháp ra một loạt các nghị định, từng bước thay đổi nội dung các kỳ thi hương và dần dần xóa bỏ hệ thống giáo dục cũ để thay vào đó nền giáo dục mới. Nghị định ngày 9-1-1897 của Phủ toàn quyền Đông Dương quy định về việc lập 1 trường Hậu bổ ở Hà Nội để dạy tiếng Pháp và chữ quốc ngữ cho những người đã đậu các kỳ thi hương muốn theo nghiệp quan trường.
Tiếp theo là Nghị định số 681 của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ngày 6-6-1898 yêu cầu bổ sung nội dung thi cho trường thi hương ở Nam Định một bài hiểu biết tiếng Pháp (nói và viết), một bài hiểu biết quốc ngữ, và từ năm 1900, những người có kết quả thi tốt về tiếng Pháp sẽ được ưu tiên chọn làm quan. Quy định cụ thể về việc bổ sung cho kỳ thi Hương truyền thống ở trường thi Nam Định như sau:
Phần thi tiếng Pháp
Phần viết: -1 bài luận
-1 bài chính tả chủ đề dễ
- Dịch 1 bài từ tiếng Pháp sang tiếng Việt
Phần nói: - Bài Hội thoại
-Dịch 1 đoạn văn bản (từ sách) từ tiếng Việt sang tiếng Pháp
Phần thi Quốc ngữ:
-Bài thi viết
-Bài chính tả
- Dịch 1 bài tiếng Hán[7].
Tuy nhiên kết quả thi tiếng Pháp của khoa thi Hương năm 1900, (năm đầu tiên thực hiện kỳ thi bổ sung tiếng Pháp và chữ quốc ngữ) tại trường thi Nam Định không đạt kết quả như mong muốn. Trong số 283 thí sinh ghi danh làm bài thi bổ sung, chỉ có 60 người xin thi tiếng Pháp, nhưng không ai đạt yêu cầu. Vì vậy ngày 7-10-1901, Thống sứ Bắc Kỳ gửi thông báo cho công sứ và chủ tỉnh Bắc kỳ về việc cho các sĩ tử đăng ký kỳ thi Hương các khóa sau có thể đăng ký tham dự học dự thính tại các trường Pháp - Việt tại Hà Nội (trường Yên Phụ), Nam Định, Sơn Tây, Đáp Cầu, Hải Dương.
Từ khoa thi năm 1903, chỉ những ai qua được các kỳ thi tiếng Pháp mới có thể được bổ nhiệm làm quan và các cơ quan công quyền của chính quyền thực dân. Không những thế, trước sự gia tăng không ngừng số sĩ tử tham dự các kỳ thi hương, chính quyền thực dân bắt đầu can thiệp sâu hơn. Thông tư của Thống sứ Bắc Kỳ gửi cho các quan đốc lý các tỉnh thành ngày 25-6-1903 và ngày 25-10-1905 yêu cầu hạn chế số người dự thi tại các tỉnh, tỉnh nhỏ không quá 500 người, tỉnh lớn không quá 600 người bằng các kỳ thi khảo hạch tại các địa phương. Bất chấp lời đe dọa “sẽ không ngần ngại nghiêm trị những viên chức bản xứ không có ý thức hoàn thành trách nhiệm khảo hạch (khống chế số sĩ tử 1 tỉnh không quá 500 -600)”[8], tại khoa thi 1906, số sĩ tử vượt qua kỳ khảo hạch để dự thi vẫn trên 8000 người. Vì vậy, cho đến trước ngày thi, thống sứ Bắc Kỳ lại yêu cầu phải giảm bớt số sĩ tử dự thi hương xuống không quá 6000 người. Nhiều sĩ tử đã vượt qua kỳ thi khảo hạch ở các địa phương bị gạch tên ngay trước ngày thi. Điều này dẫn đến 1 cuộc biểu tình của 2000 sĩ tử trước cửa trường thi phản đối quyết định này.[9]
Đến năm 1909, có nhiều thay đổi lớn trong nội dung kỳ thi hương. Trong kỳ thi này, kỳ đệ nhất sĩ tử phải làm 5 bài văn sách bằng Hán văn mà nội dung là luân lý, văn chương, triết lý, sử ký Trung Hoa và Việt Nam, việc tổ chức hành chính Đông Dương, luật Việt Nam, kỳ đệ nhị làm 2 bài luận Hán văn; kỳ đệ tam thi bài chữ quốc ngữ gồm: 1 bài luận văn chương, 1 bài trả lời câu hỏi về sử ký hoặc địa lý, bài trả lời câu hỏi về khoa học thường thức, tính toán. Sau khi đậu cả 3 kỳ, các sĩ tử có điểm từ 10/20 có thể chọn thi tiếp tiếng Pháp. Các bài thi Pháp văn này nếu có điểm từ trên 10 thì số diểm từ trên 10 sẽ được cộng thêm vào kỳ thi phúc hạch. Kỳ phúc hạch là 1 bài luận Hán văn và một bài luận Quốc ngữ. Và các bài thi được chấm điểm theo thang điểm 20, không chấm thi theo kiểu truyền thống phê: ưu, bình, thứ, liệt như trước. Vì vậy tại khoa thi này số sĩ tử dự thi chỉ còn có 3.968 người, nhiều người học giỏi có khả năng thi đậu cử nhân đã quyết định bỏ không tham dự như Đặng Xuân Viện, Đặng Vũ Kính, Nguyễn Tư Đính, Đặng Trần Rục…
Những khoa thi hương sau Pháp còn quy định giới hạn tuổi của những người dự thi là 50 (khoa thì Hương năm 1912) và dưới 40 tuổi (khoa thi hương năm 1915) đã hạn chế số người có thể dự thi. Vì vậy hai khoa thi này số người dự thi chỉ còn 1.398 người năm 1912 và 1886 ngưởi năm 1915.
Khoa thi Hương năm 1915 là khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ, cũng đánh dấu chấm dứt sự tồn tại của trường thi Hà Nam tại Nam Định, cũng đồng thời chấm dứt nền giáo dục khoa cử ở Bắc Kỳ.
Trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, từ năm 1884 đến 1915 các kỳ thi hương tại trường thi Nam Định và trường thi Hà Nam, số người Nam Định đậu Cử nhân là 171 người chiếm 24,3%. Mỗi khoa thi, trung bình số người Nam Định đỗ cử nhân xấp xỉ 20 người (năm 1886: 19 người, 1894: 20 người, năm 1897: 19 người, năm 1900: 19 người). Trong số họ có nhiều người đỗ đại khoa và trở thành nguồn nhân lực quan trọng cho bộ máy nhà nước, nắm giữ nhiều vị trí trong bộ máy hành chính và giáo dục tại các địa phương. Nhiều người sau khi về hưu, vẫn tập hợp nhân dân đi khai khẩn đất hoang, cải tạo đất bồi ven sông, ven biển, dựng làng xóm mới, được nhân dân kính trọng phụng thờ làm thành hoàng làng như TS Đặng Xuân Bảng lập ấp Tả Hành (Vũ Tiên, Thái Bình), cử nhân Nguyễn Đôn Thi khai lập làng Lập Nông ( huyện Giao Thủy ) Phó Bảng Nguyễn Âu Chuyên, Phó bảng Đặng Kim Toán lập tổng Giao Thiện ( Giao Thủy) … Nhiều người đã đi đầu trong việc tiếp thu khoa học và công nghệ mới như Á Nguyên khoa thi năm 1915 Đặng Vũ Cao đã mở hãng xe hơi chạy đường Nam Định- Xuân Trường, ấm sinh Đặng Xuân Thiêm mở tiệm chế tạo và sửa chữa máy móc…, Tú tài Đặng Đức Tô mở tiệm sách tại Hà Nội…
Các trường học ở Nam Định cũng là nơi cung cấp nhiều thanh niên ưu tú cho các phong trào yêu nước chống Pháp như phong trào Đông Du, Phong trào Duy Tân, Phong trào Việt Nam Quang phục hội… và các phong trào yêu nước và cách mạng của Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Ngày 11-4-1918 vua Khải Định ra Đạo dụ tuyên bố “Đình bãi phép khoa cử” và khoa thi hội năm 1919 tại Huế sẽ là khoa thi Hội cuối cùng của nền giáo dục Nho học-khoa cử truyền thống từng tồn tại hàng nghìn năm tại Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
- Đặng Hữu Thụ ( 2007) Làng Hành Thiện và các nhà Nho Hành Thiện triều Nguyễn, tái bản lần thứ 2, Tác giả tự xuất bản Melun, In tại Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chaateau- 400 Liège- Belgique
-Địa chí Nam Định ( 2003), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đỗ thị Hương Thảo ( 2020), Thi Hương dưới triều Nguyễn, Trương thi Hương Hà Nội- Nam Đinh , NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
-Nguyễn Anh (1967) “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất”, T/C NCLS số 98
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2012) Đại Nam Nhất thống chí, NXB Lao Động
[1] Hocquard, (2020)” Một chiến dịch ở Bắc Kỳ, NXB Đà Nẵng, tr 483-484
[2] Theo Đại Nam Nhất thống chí, quyển 2 (2012) do NXB Lao động ấn hành, tr 1135 thì ở Nam Định có 10 trường học do nhà nước xây dựng: trường tỉnh Nam Định (1833) và các trường Phủ Thiên Trường (1837), trường huyện Chân Ninh (1834), trường phủ Chân Định ( 1808), trường huyện Thiên Bản (1854), trường huyện Nam Chân (1826), trường huyện Mỹ Lộc (1851), trường phủ Nghĩa Hưng (1854), trường huyện Phong Doanh, trường phân phủ Nghĩa Hưng (1825)
[3] Trong sách Quốc triều khoa bảng lục không nói đến lý do cụ bị huyền chức, nhưng gia đình và người thân cận cụ, như cụ Đặng Vũ Niết, cũng từng làm tri phủ Nam Sách cho biết. ( Theo Đặng Hữu Thụ, trong Làng Hành Thiện và các nhà Nho Hành Thiện triều Nguyễn, tái bản năm 2007 tại Pháp, tr175
[4] Khoa ân thi là khoa thi đặc biệt không theo thông lệ 3 năm một lần. Khoa thi năm 1886 là khoa thi dành cho sĩ tử Bắc Kỳ vì từ năm 1879 đến năm 1884, sau 7 năm ko tổ chức được khoa thi nào ở Bắc Kỳ vì tình hình chiến sự.
[5] Đặng Hữu Thụ, (2007) Làng Hành Thiện và các nhà Nho Hành Thiện triều Nguyễn, tái bảnlần thứ 2 Tác giả tự xuất bản Melun, tr175
[6] Đỗ Thị Hương Thảo (2016) Thi Hương thời Nguyễn ở hai trường thi Hà Nội và Nam Định, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 385
[7] Đỗ Thị Hương Thảo (2016) Thi Hương thời Nguyễn ở hai trường thi Hà Nội và Nam Định, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, , tr 358- 362
[8] nt
[9] Đặng Hữu Thụ ( (2007), Làng Hành Thiện và các nhà Nho Hành Thiện triều Nguyễn, tái bản có sửa chữa,, tr286
* Bài đã đăng trong Địa chí Nam Định tập 2, xuất bản năm 2025, NXB Hồng Đức