Thứ Hai, 2 tháng 11, 2026

Trần Huy Liệu (1901-1969)- nhà báo cách mạng kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX *

 

                                                                                                    Đặng Thị Vân Chi


           Giáo sư, Viện sĩ Trần Huy Liệu, sinh năm 1901 trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước tại làng Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản Nam Định (nay là xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình).  Cha ông là Trần Huy Trình, một nhà Nho theo đuổi nghiệp khoa cử, đi thi nhiều lần nhưng không đậu nên chủ yếu ở nhà dạy học.

          Từ 6 tuổi, Trần Huy Liệu đã được cha dạy khai tâm chữ Hán và cho theo học chữ Hán để thực hiện giấc mơ khoa bảng của cha. Dưới sự kèm cặp nghiêm khắc của cha, Trần Huy Liệu sớm thể hiện sự thông minh, và uyên bác. Ông đã vượt qua các kỳ Tuyển sinh, Khóa sinh. Kỳ Thí sinh sau đó Trần Huy Liệu đã trúng tuyển nhưng kết quả bị hủy bỏ vì phát hiện lộ đề, khi kỳ thi được tổ chức lại thì ông bị ốm, không thể tham dự được. Không may đó lại là kỳ thi hương cuối cùng của nền giáo dục Nho học truyền thống ở trường Hà Nam. Giấc mộng khoa bảng không thành, gia cảnh khó khăn khi anh trai, cha, rồi mẹ lần lượt qua đời khiến ông phải sớm vào đời kiếm sống ở tuổi 15.

          Vào đời và trưởng thành trong những năm đầu thế kỷ XX, là lúc các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam như phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông kinh Nghĩa thục, Việt Nam Quang Phục hội của văn thân sĩ phu yêu nước đang diễn ra sôi nổi, ông đã sớm ý thức sâu sắc về thân phận của người dân mất nước, cũng như nuôi dưỡng ý chí phản kháng và không chịu khuất phục chính quyền đô hộ. Cũng trong thời kỳ này, các tư tưởng dân chủ mới  ở Phương Tây qua Tân thư từ Trung Quốc cũng đã du nhập vào Việt Nam và đã ảnh hưởng tới tư tưởng và hành động của Trần Huy Liệu. Mang tinh thần yêu nước của cha, anh, Trần Huy Liệu đã sớm tiếp cận những tư tưởng dân chủ và cách mạng của J.J. Rút xô (Rousseau), Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn). Lúc này, báo chí đã xuất hiện ở Việt Nam và nhanh chóng trở thành nơi gửi gắm tâm tư, lan tỏa tinh thần yêu nước và tư tưởng phản kháng chính quyền thực dân của nhiều trí thức Việt Nam. Và từ rất sớm, tình yêu của ông đối với gia đình, quê hương và đất nước được bày tỏ qua những bài thơ. Ông viết “từ thuở nhỏ, vào khoảng mười một, mười hai tuổi, sống trong không khí cách mạng của gia đình, tôi đã thuộc làu những bài ca yêu nước của những phong trào Đông Du  và Đông Kinh nghĩa thục do cha dạy cho. Từ đó tôi tập làm thơ yêu nước với giọng cảm khái, lâm li, …những thơ ca làm từ hồi nhỏ, mới đầu tôi trao đổi ngâm nga với một vài người bạn thân trong vùng cùng tuổi và cùng thích làm thơ như tôi. Sau đó tôi mạnh dạn gửi đăng báo...”[1] Những bài thơ của ông ở tuổi đôi mươi luôn mang nặng một tình yêu đối với quê hương, đất nước và nỗi trăn trở về trách nhiệm của người dân đối với đất nước.

“ Lòng son cố giữ cho tròn đạo

Chí lớn mà sao chửa gặp thời…

       (Nhắn trời, 1921) [2]

1.Bước đầu đến với báo chí

          Thơ của ông xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí là chùm bài Tự thuật, Dạ Hoài, Triệu Ẩu đăng trên Nam Phong, (một tờ tạp chí có ảnh hưởng lớn ở miền Bắc và trong cả nước những năm đầu thế kỷ XX) trong số tháng 4 năm 1923 dưới tên Trần Huy Liệu. Trước khi quyết định vào Nam tháng 9 năm 1923, ông đã gửi cho Nam Phong bài Cảm tác (đăng trên Nam Phong số 75 tháng 9 năm 1923). Trong suốt những năm 1924-1925, dù đang ở trong Nam, bên cạnh làm báo ông vẫn tiếp tục gửi thơ cho báo Nam Phong với tên thật của mình là Trần Huy Liệu, có số ghi Nam Kiều Trần Huy Liệu. Những bài thơ của ông thời kỳ này dù thể hiện sự cô độc “tìm đâu cho thấy người tri kỷ”, mong mỏi có người đồng chí hướng, để “than thở cùng nhau cái cõi đời”…, vẫn luôn đau đáu một nỗi niềm với nước non:

“Nợ đời chưa trả, dạ chưa ngơi”,…

       “Non nước biết chăng lòng cảm khái,

        Gió mưa quen mãi mặt phong trần,…

             Nước nhà chung gánh vai còn nặng…”[3].

 Hai chữ Trung-Hiếu luôn trăn trở trong ông: “Thân còn mang nặng Hiếu cùng Trung”[4], “Trung-Hiếu đôi vai nặng gánh gồng”[5]... “Nợ nần chưa trả dân cùng nước”[6], “Trung-Hiếu dồn vào một tấm thân, mới ló đầu ra hăm mốt tuổi; đã kề vai gánh nặng muôn phần”[7]

          Tháng 9 năm 1923 ông vào Sài Gòn cùng người thày Bùi Trình Khiêm, rồi tới Sa Đéc, nơi có Hội Nam Kỳ khuyến học của hội trưởng Trần Quang Nghiêm. Sau những tháng ngày lạ nước lạ cái đầu tiên nơi đất khách,  tháng 6 năm 1924 ông được giới thiệu với báo Nông Cổ Mín đàm thì ngay số báo ngày 1 tháng 7 năm 1924, ông  xuất hiện trên tờ Nông cổ mín đàm với bài viết bàn về “Bịnh Háo danh” dưới bút danh Đẩu Nam Trần Huy Liệu. Bài báo đã phê phán thói háo danh của người Việt và nhắn nhủ: Cái danh cần phải là cái danh do thực hành mà có như Christophe Colombo khi tìm ra châu Mỹ, như  Washinton khi lập nên nước Mỹ,  như Khổng Tử muốn giúp đời lập ngôn mà trở thành Thánh sư, Rousseau muốn cứu nước “nên rút ruột phơi gan, đời sau còn để lại cái danh ông Tổ Cách mạng...” Và ông kêu gọi: “Một nhà đại nông phố, một nhà đại thương mại, một nhà đại công nghệ  đối với quốc dân không bổ ích hay sao? Đối với quốc quốc dân đã có bổ ích thì tự nhiên không có cái “danh” chân chính  hay sao? Cứ gì phải chăm chăm mua chuộc những cái hư danh mà quên cả sự thiệt để cho nước ngày (một) hèn, dân ngày một yếu! Bịnh háo danh nay đã trầm trọng, nên sớm chừa đi! Nên sớm chừa đi!”[8]

Trong tháng 7 năm 1924, trên tất cả các số báo của Nông Cổ Mín đàm các bài của ông đều xuất hiện trên trang nhất và nhiều số các bài của ông chiếm cả trang báo.

            Một chàng trai 23 tuổi, lần đầu viết báo với tư cách là một cây bút viết chính luận, ngay từ lần xuất hiện thứ hai trên Nông Cổ Mín đàm ông đã có tuyên ngôn về vai trò, trách nhiệm của một tờ báo và của nhà báo đối với xã hội, với đất nước và nhân dân. Ông viết: “Tờ báo là gì? Tờ báo là cơ quan của quốc dân khi dân trí hãy còn bán khai, tờ báo có một mãnh lực cảm hóa người dân rất lanh, rất mạnh” và ở một nước văn minh thì “những người thượng lưu trí thức hăm hở trên đàn ngôn luận, mượn tờ báo mà tỉnh  quốc dân khi trong mê ngủ, mở mang dân trí khi hãy còn u mê, đem ba tấc lưỡi cùng tấm lòng son mà cống hiến cho quốc dân” và trách nhiệm của nhà báo khi đã  “bước trên đàn ngôn luận mà làm bạn với đồng bào, thì một lời nói ra, một chữ viết ra đều là phơi ruột móc gan, kẻ dở học người hay, anh lớn dạy em bé thì những bài mới có tâm sự có giá trị ảnh hưởng, có bổ ích với quốc dân”[9].

          Thời gian này các bài báo của ông được ký tên là Đẩu Nam Trần Huy Liệu, rồi dần chuyển sang Đẩu Nam. Các bài báo của ông về chính trị, tin tức và đặc biệt bài của ông bình luận về sự kiện Toàn quyền Merlin bị ném bom ở Quảng Châu khiến độc giả chú ý, nhưng lại bị chính quyền thực dân cảnh giác. Bài của Đẩu Nam Trần Huy Liệu luôn là những tiếng kêu than, vạch rõ sự thật, hiện trạng xã hội khi mà thanh niên bàng quan với vận mệnh đất nước. Ông viết: “Than ôi! Vận mạng trong nước trông cậy vào bọn thiếu niên! Thiếu niên như thế thì trông cậy gì?[10]  Các bài của ông vì thế bắt đầu bị kiểm duyệt, cắt bỏ. Ông chuyển sang bút danh Đẩu Nam, rồi Côi Vị. Ông cho biết: “Côi Vị thay Đẩu Nam chẳng phải trái ý, trái tư tưởng Đẩu Nam:;Côi Vị cùng Đẩu Nam vẫn cũng tâm đầu ý hợp lắm, thường hay luận thế với nhau thì chí biết chí, lòng biết lòng, hai người mến nhau như một”[11].

2. Trở thành chủ bút báo Đông Pháp thời báo

Vào giữa tháng 8/1924, khi Lê Thành Tường tiếp quản tờ báo, bài của ông không còn xuất hiện trên Nông cổ mín đàm nữa. Sau khi không còn đăng được bài ở Nông cổ mín đàm, ông ra mắt tờ Ngòi bút sắt dưới hình thức sách để dễ lọt qua hàng rào kiểm duyệt gắt gao của chính quyền thực dân. Vừa xuất bản Ngòi bút sắt, ông vừa hợp tác với Đông Pháp thời báo do Nguyễn Kim Đính làm tổng lý kiêm chủ bút. Trong thời kỳ đầu, ông thường dùng bút danh Đẩu Nam.

Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên Đông Pháp thời báo vào đầu tháng 9 năm 1924, bài thơ “Họa bài thơ “Hóa vi quới” của ông Lão Ngạt trong báo Trung Lập”, ông thực hiện sứ mệnh nhà báo của mình là kêu gọi đoàn kết, chấm dứt việc chia rẽ Nam-Bắc trước trào lưu phân biệt vùng miền Nam-Bắc, vì “cái vấn đề Nam-Bắc này quan hệ đến vận mang Tổ quốc tương lai”[12]. Và thức tỉnh người dân:

“ Dặm Nam Bắc đó tuy xa cách

Cùng tổ tiên xưa chớ để hoài

Gắng sức bén cầm dây hữu ái

       Ra tay rộng mở hội tương lai...”[13]

             Thời gian đầu, trên Đông Pháp thời báo ông thường đăng thơ trên mục Văn uyển. Bắt đầu từ cuối năm 1924, Trần Huy Liệu trở thành cây bút chính của tờ báo, ông viết chính luận trên trang nhất, xuất hiện thường xuyên trên mục Văn uyển và phụ trách mục Phê bình báo giới dưới bút danh Nam Kiều. Ông đề cao trách nhiệm của người cầm bút, đặc biệt là nhà báo: “mỗi khi ta cầm bút viết một chữ gì, một câu gì, một bài gì, tức là một giọt máu của ta rỏ xuống đó, một bầu tâm sự của ta nhả ra đó, tư cách của ta trông vào đó, danh vọng của ta hệ vào đó... viết ra có tâm sự thì người đọc mới sanh cảm mà câu văn mới không đến nỗi nước lã ao bèo, như tro tàn trong bếp, ngòi bút ta phải viết ra có chí khí, có chí khí thì  câu văn mới có giá trị, không đến nỗi phát ra những giọng bợ đỡ, phỉnh phờ ... ngòi bút ta viết ra phải cho quảng bác, có quảng bác thì mới xuất hiện những áng văn chương phóng khoáng, tư tưởng ly kỳ... ngòi bút ta viết ra phải có độ lượng, việc gì nên nói thì nói, việc gì không nên nói thì không nói...ngòi bút ta viết ra phải nghiêm chính... phải có đởm lực... thì dẫu nguy hiểm cũng không từ, hăm dọa cũng không sợ... Ta phải tự để ta làm cái đích chịu muôn tên, ta phải tự để ta làm con đường cho đời bước, thì ngòi bút bao giờ cũng chủ ở ta, mà không phải làm tôi tớ kẻ khác...”[14]  Theo ông, “người viết báo chưa chắc đã đúng là đánh thức giấc ngủ cho quốc dân, hay đủ tư cách đánh thức giấc ngủ cho quốc dân, nhưng người ta phải biết tự phụ, tự tôn, mà nhứt là nhà  viết báo quyết phải có”[15]. Với phương châm làm báo như vậy, khi làm chủ mục Phê bình báo giới, với khối lượng kiến thức đồ sộ và sự am hiểu về Hán học tích lũy được từ những năm tháng miệt mài học hành khi còn theo đuổi nghiệp khoa cử, ông không ngại sẵn sàng vạch ra những yếu kém, những ngộ nhận và lệch lạc không chỉ trong ngôn ngữ báo chí mà cả những suy nghĩ, tư tưởng và nhận thức của nhiều nhà báo thời kỳ đầu của nền báo chí tiếng Việt.

            Vào những năm đầu thập niên 1920, các phong trào đấu tranh chống Pháp của các sĩ phu yêu nước dần tan rã và bị đàn áp, những thanh niên yêu nước như Trần Huy Liệu dù sục sôi tinh thần yêu nước, muốn giành độc lập để phát triển đất nước cảm thấy cô độc, lúng túng và chưa có lối thoát: “Nước non mù tít cơn mưa gió, Ngòi lạch mênh mang nổi nước bèo, Chẳng biết đợi thời hay lỡ bước, Mà thôi ngồi xó lại nằm quèo…”[16]

             Đến ngày 11/2/1925, trên trang nhất báo Đông Pháp thời báo, Nam Kiều xuất hiện chính thức với vai trò chủ bút báo. Sự chính danh này có lẽ đã mang tới cho ông một chút hi vọng:

                      “ Còn non, còn nước, còn ta nhỉ,

                            Khôi phục cơ đồ sẽ có khi!” [17]

            Đảm nhiệm vai trò chủ bút một tờ báo lớn có tên tuổi trong làng báo Việt Nam thời kỳ này, Trần Huy Liệu đã tận dụng mọi cơ hội để bày tỏ thái độ của mình, phê phán những suy nghĩ lệch lạc, định hướng nhận thức, hướng tới sự tỉnh thức.  Ông kêu gọi phát triển công thương để phát triển kinh tế đất nước, ông phê phán  tục “ chơi xuân” quá dài của người Việt dẫn đến bỏ bê sản xuất, phê phán “thói xa hoa”, phê phán ca nhạc của ta là “một lối ca nhạc “Táng gia vong quốc” nên cần phải “lựa theo một lối mạnh mẽ, hùng hồn, cho khêu dục lòng người, nuôi lấy dân khí để khỏi như câu: Rằng hay thì thật là hay, Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào”[18]. Ông cũng cảnh tỉnh xã hội và người dân về tình trạng thất nghiệp do vô nghề nghiệp trong xã hội thuộc địa Việt Nam: “một dân tộc nào, một xã hội nào mà cái dân vô nghề nghiệp chiếm một số đông thì không phải cái điểm hay cho dân tộc ấy, cho xã hội ấy vậy. Huống chi thời buổi cạnh tranh, cái địa vị mình bỏ không ngồi, tất có người khác ngồi vào, cái công việc mình bỏ không làm, thì người khác làm mất… Nước mạnh hay yếu trông vào dân, nước thạnh hay suy trông vào dân, mà dân mình thì cứ tự gây nên cái vạ thất nghiệp như thế thì dân còn ra sao? Nước còn ra sao?...”[19]. Trước hiện tượng thanh niên tự tử vì những lý do thất tình, bị ép duyên, bế tắc trong cuộc sống, ông phân tích những người “chết vì khoa học, chết vì thám hiểm, lại bao nhiêu người liều chết dưới mũi tên hòn đạn để chuộc lại vận mệnh cho nước nhà so với cái chết “cướp công cha mẹ, thiệt đời thông minh của người mình, nghĩ mà thẹn!”[20]
          Ông đả kích hiện tượng lợi dụng tình cảnh khốn khổ của người dân gặp hoạn nạn vì bão lụt, mất mùa để kêu gọi quyên góp và ăn chặn tiền quyên góp là hành vi giả “nhơn nghĩa”, là cách “kiếm ăn đê tiện” nhất!

          Dưới hình thức phê phán “Các câu tục ngữ có hại cho người mình”, ông không chỉ phê phán những nhận thức sai lầm, những ngộ nhận về  những nội dung đã không còn phù hợp với thời hiện tại mà còn từ đó khích lệ tinh thần yêu nước và trách nhiệm của người dân đối với đất nước. Khi phê phán câu tục ngữ “Thành đổ đã có Chúa xây, can chi gái góa lo ngày lo đêm” ông viết: “ Xin chớ bảo rằng thành đổ mà gái góa không phải lo được. Kìa Hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc. Bà Triệu Ẩu một mình đánh với quân Ngô, nếu cứ như cái thuyết “ Thành đổ Chúa xây” thì 65  thành Linh Biểu can chi phải đến Hai Bà Trưng gánh vác, quân Ngô tàn bạo can chi dến bà Triệu liều mình… Buốn thay cho xã hội ta ngày nay, việc công ích không ai tán thành, việc công phẫn không ai phấn khích” [21].

          Báo Đông Pháp thời báo do ông làm chủ bút dần trở thành tờ báo có khuynh hướng tiến bộ khi đăng tin và giới thiệu bài thuyết trình của luật sư tiến bộ Phan Văn Trường, về sự từ trần của Tôn Dật Tiên và đặc biệt bài viết của ông về tiểu sử của Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) đăng trong nhiều kỳ. Ông đã gọi Tôn Dật Tiên là một “ đấng đại vĩ nhân”.

          Ông dịch sách giới thiệu về những tấm gương yêu nước, những nhà cách mạng, “những người hiến thân vì nước, đổ máu mà đòi lấy cái quyền tự do của nước nhà, dẫu bao nguy hiểm mà lòng sắt đá vẫn lay chẳng chuyển, rung chẳng dời”... Ông viết: “Tôi mong chư độc giả đọc xong chuyện này sẽ sanh ra một tinh thần mạnh mẽ, hăng hái, đó chính là cái sở nguyện của tôi!”[22]

          Với những bài bàn về những vấn đề quan trọng như “Tự do” ông trở lại với tên Trần Huy Liệu, Đẩu Nam Trần Huy Liệu. Ông ca ngợi giá trị của Tự do: “Người không hít đặng không khí tự do, người bị ngộp hơi, xã hội không bao bọc không khí tự do, xã hội bị kiềm thúc, quốc gia nào, dân tộc nào đối với tự do cũng nhận là đồ nuôi sống về tinh thần, cho biết tự do là vật rất quý báu, thiêng liêng, là vô hình vô giá mà người ta ham mến như đói muốn ăn cơm, khát muốn uống nước, lạnh muốn mặc áo, nóng muốn hóng mát, tự do đi đến đâu như một  ánh sáng rọi phá tan hết cả vùng u ám… người biết trọng tự do liều chết mua lấy tự do; xã hội biết trọng tự do, ráng hết sức bảo thủ lấy tự do! Tự do quý giá lắm thay, nhu yếu lắm thay”[23]. Đề cao tự do, ông cũng nhấn mạnh về tự do của người viết báo: “Nhà viết báo không được tự do là ngôn luận của quốc dân không được tự do, ngôn luận đã không được tự do thì dẫu có ngôn luận nữa cũng là vô bổ… Nhà viết báo không biết trân trọng cái ngòi bút tự do của mình, để điếm nhục đến tiết tháo như thế, thì còn nói gì đến tư cách nhà viết báo, giá trị ngọn bút viết báo nữa… Ngòi bút không biết tự do thì không phải là ngòi bút của nhà viết báo, đã là ngòi bút viết báo thì phải là ngòi bút tự do”[24]

          Ông đề cao việc tranh luận trên diễn đàn báo chí để phân biệt đúng sai và làm sáng tỏ  những vấn đề còn gây tranh cãi, đồng thời ông cũng cực lực phản đối tình trạng “cãi lộn” trên báo, và không quên gắn trách nhiệm của người cầm bút đối với đất nước và nhân dân, không nên “chỉ biết có mình mà không biết đến tờ báo, chỉ biết trung với chủ mà không biết trung với quốc dân…Than ôi, bút chiến như vậy thì tờ báo còn ra chi, người viết báo còn ra chi quốc dân còn mong gì?”[25]. Ông cũng đề cao con người hành động (mà ông hay dùng từ thiệt hành (thực hành), ông cho rằng: “sống mà không bổ ích gì với đời, chết mà không có tiếng tăm gì lưu lại đời sau, chỉ là đồ sống thừa”.[26]

           Giữa năm 1925, trên Đông Pháp thời báo ông viết nhiều bài kêu gọi lòng yêu nước, nghĩa đồng bào “Kể từ vua Lạc Long, bà Âu Cơ một bọc trăm trai đến nay đã hơn 4000 năm, sinh tụ ngày một đông, khai thác ngày một rộng… bờ cõi thì ba kỳ thống nhất, dân cư 25 triệu người, ngắm đến dư đồ, đọc lại lịch sử 25 triệu người đó chẳng phải chung một dòng máu Lạc Hồng sao? … Vào cái thời đại cạnh tranh khốc liệt này, ví ta mà sao lãng cái nghĩa đồng bào, thì cái trưng triệu tiêu diệt  ta sẽ thấy ngay, vậy nên nghĩa đồng bào ta phải lấy làm trọng…”[27]. Trong các bài báo của ông, dù đề cập tới lĩnh vực nào, rốt cuộc ông cũng vẫn trở lại  mục tiêu vì nước, vì dân.

         Cuối năm1925, đầu năm1926, báo Đông Pháp thời báo, do ông làm chủ bút đã đăng nhiều kỳ bài diễn thuyết tối 19/11/1925 của Phan Châu Trinh về “Đạo đức và luân lý Á đông và Âu Tây”, tường thuật chi tiết phiên tòa xét xử Phan Bội Châu, và liên tục đưa các tin tức về cuộc đấu tranh của nhân dân đòi thả Phan Bội Châu, những phát biểu của Phan Bội Châu và tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân đối với Phan Bội Châu. Báo Đông Pháp thời báo cũng là tờ báo giới thiệu về chuyến đi Pháp của Bùi Quang Chiêu và khởi xướng buổi đón tiếp Bùi Quang Chiêu khi Bùi Quang Chiêu trở về nước… Ông và Nguyễn Kim Đính, chủ báo, là thành viên của Hội đồng trị sự[28] chịu trách nhiệm tổ chức cuộc đón  rước Bùi Quang Chiêu. Trong không khí đấu tranh sôi nổi của các phong trào yêu nước, đòi dân chủ như đòi thả Phan Bội Châu, đón Bùi Quang Chiêu về nước, phong trào để tang Phan Chu Trinh…

Ngày 26/3/1926, Đông Pháp thời báo đăng hàng chữ to nổi bật trên mặt báo:  “Hai ngày đáng kỷ niệm cho dân tộc Việt Nam, 24-25 Mars (tháng 3) -1926”. Đây là bài tường thuật lại cuộc đón rước Bùi Quang Chiêu của (Thuật giả) Trần Huy Liệu chiếm cả trang nhất. Bài tường thuật đã mô tả chi tiết không khí đón rước, những xung đột xảy ra trong cuộc đón rước vì phản đối thuyết “Pháp Việt đề huề”,  bài diễn văn chào mừng Bùi Quang Chiêu của Nguyễn Phan Long trở thành bài bày tỏ sự tiếc thương Phan Châu Trinh vừa tạ thế.

Đặc biệt số báo ngày 29/3/1926, báo Đông Pháp thời báo đăng với hàng chữ lớn chạy suốt mặt trang: “Một cái tang chung của dân tộc Việt Nam. Ông Phan Châu Trinh chết”. Trong số này, Trần Huy Liệu có 2 bài trên trang nhất của báo: “Đồng bào ta đối với đám tang Phan Châu Trinh phải thế nào?” và bài “Tiểu sử ông Phan Châu Trinh”. Có thể nói bài của Trần Huy Liệu về đám tang Phan Châu Trinh là bài báo khởi xướng việc tổ chức đám tang cho Phan Châu Trinh thật long trọng, để cùng nhau bày tỏ lòng tiếc thương một nhà chí sĩ yêu nước: “Nhơn dịp buồn chung này, đồng bào ta nên nhớ rằng, ta đối với ông Phan Châu Trinh, tức là dân tộc Việt Nam đối với nhà chí sĩ Việt Nam, ta phải thương nhà chí sĩ thế nào tức là lòng ta thương nước thế đó.

Ban Hội đồng trị sự về đám tang này đã định đến ngày 4 Avril (tháng 4) tức là ngày đưa đám, đó là một cái tang chung, chắc rằng ai cũng phải nhận lấy cái tang  ấy, và mong rằng đồng bào ta ai cũng biết đau đớn đến cái tang chung mà định liệu cách nào cho xứng đáng là một đám tang của nhà chí sĩ Việt Nam”[29]. Có thể nói bài của chủ bút báo Nam Kiều là tiếng nói khởi xướng việc tổ chức quốc tang cho Phan Châu Trinh và phong trào để tang Phan Châu Trinh đã thu hút sự ủng hộ và tham gia của đông đảo nhân dân cả nước.

Trong 2 năm 1925-1926, Đông Pháp thời báo do ông làm chủ bút đã nổi bật lên nhờ những tin tức, bài bình luận sắc sảo, và tỏ rõ quan điểm của mình, ca ngợi những người yêu nước và cực lực phê phán những người có tư tưởng nô lệ, thần phục chính quyền đô hộ. Trên báo ông gọi Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là những “Nhà đại chí sĩ nước Nam”. Báo Đông Pháp thời báo giành  được sự tín nhiệm và yêu mến của độc giả, số bản xuất bản không chỉ ngày càng tăng, có lúc lên tới lên tới mức kỷ lục là 11.000 bản mà còn tăng thêm trang, tăng thêm số.

Sau nhiều bài đăng “Ta nên lập chính đảng lớn”, “Chính đảng lập có thành không? ”, ngày 22/3/1926, trên trang nhất báo Đông Pháp thời báo, ông viết bài  “Lập chánh đảng” dưới tên Nam Kiều- bút danh chính thức trong tư cách chủ bút báo Đông Pháp thời báo. Ông viết: “Cái thời kỳ này thì không thể làm một cái hình bù nhìn, có người mà không có quyền như thế nữa, trên chính phủ vui lòng trao quyền cho ta, dưới ta cũng nên hăng hái mà nhận lấy bổn quyền của ta, góp gió thành bão, góp cây nên rừng, nên phải có một chánh đảng để bênh vực dân quyền và hộ vệ chính phủ, vậy thì việc lập chánh đảng đây quyết không nghi ngờ gì nữa.

Việc lập chánh đảng đã không còn nghi ngờ gì thì cũng không nên trì hoãn nữa… May ra chánh đảng lập được rồi ta mới thực hiện được cái quyền của ta, mà có mắt khỏi như mù, có tai khỏi như điếc, có miệng khỏi như câm, có chân tay khỏi như què nữa! Mong thay! Mong lắm thay!”[30]

Để có chính danh tập hợp lực lượng trong các cuộc vận động nhân dân đấu tranh, Trần Huy Liệu và các bạn cùng chí hướng Nguyễn Trọng Hy, Bùi Công Trừng, Lê Thế Vĩnh, Lê Văn Tâm, Trương Văn Nhường, Nguyễn Hào Đảng, Phan Trường Mạnh, Lê Văn Chất… quyết định thành lập đảng Thanh Niên. Thanh Niên ra mắt công khai trong cuộc mít tinh 3.000 người tại xóm Lách (Sài Gòn). Việc tham gia rất dễ dàng, chỉ cần đến đăng ký ghi tên nên số lượng đảng viên rất đông. Ngay lập tức họ trở thành lực lượng nòng cốt trong các cuộc đấu tranh đòi để tang Phan Châu Trinh, thả Nguyễn An Ninh, đón Bùi Quang Chiêu, vận động tổng đình công… Khi Bùi Quang Chiêu quay lưng lại với những người yêu nước, ủng hộ chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề thì chính các đảng viên Thanh niên lại thành lực lượng chủ yếu phản đối.

Sau một loạt bài báo có tính chất đả kích vào chủ nghĩa Pháp -Việt đề huề và chính quyền thực dân, đặc biệt bài: “Tôi xin hiến cho chính phủ Pháp nhứt là quan toàn quyền Varenne – một phương sách để thiệt hành cái thuyết Pháp- Việt đề huề” đăng nhiều kỳ, có kỳ bị kiểm duyệt cắt bỏ hoàn toàn, và bải “Phan Bội Châu có nên viết báo không?”[31] đả kích ngay vào thực trạng không có tự do ngôn luận ở Việt Nam, Đông Pháp thời báo của chủ bút Trần Huy Liệu trở thành tiếng nói duy nhất ở Nam Kỳ ủng hộ các cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân và chống chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề. Đến ngày 18/8/1926 tên “Trần Huy Liệu- dit Nam Kiều” [32] không còn xuất hiện trên mục chủ bút Đông Pháp thời báo nữa.

Sau khi thôi làm chủ bút Đông Pháp thời báo, ông xuất bản tờ Pháp - Việt nhất gia. Nhưng tờ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn thì bị đình bản vì những bài báo chống lại chủ nghĩa Pháp - Việt đề huề, lên án chế độ thuộc địa, “lên án chế độ bóp nghẹt tự do ngôn luận, báo chí của thực dân Pháp”[33]

3. Trở thành  nhà hoạt động chính trị, một chiến sĩ cộng sản, một nhà báo cách mạng

Tháng 4 năm 1927, Pháp tìm được tài liệu về tờ báo Le Nhà quê trên có ghi “diễn đàn của Thanh Niên” cùng với chương trình, điều lệ của Đảng Thanh Niên, biên bản cuộc họp của Đảng Thanh Niên… tại nhà hàng Lạc Long, một cơ sở bí mật của Đảng Thanh Niên, ông bị bắt về tội “lập hội kín trái phép, vừa làm rối loạn cuộc trị an”. Nhờ sự giúp đỡ của luật sư Monanh (Monin), ông chỉ phải nộp phạt mà không bị phạt tù.

Năm 1927 Trần Huy Liệu lập Cường học thư xã, xuất bản các sách vận động yêu nước. Ông đã viết, dịch nhiều ấn phẩm như Một bầu tâm sự, Ba người anh kiệt nước Ý, Khai quốc vĩ nhân (chung với Đào Khắc Hưng), Anh hùng khứ quốc - Ông Nạp Nhi Tốn (Nelson), phần lớn đều được Cường học thư xã xuất bản trong năm này. Cuốn Một bầu tâm sự của ông được đông đảo người dân đón nhận và làm lay động tình cảm của tầng lớp thanh niên đối với đất nước.

       Năm 1928, Trần Huy Liệu gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, đứng ra tổ chức Đảng bộ Nam Kỳ, trở thành nhân vật quan trọng của đảng này ở đây. Ông vẫn tiếp tục viết, dịch và xuất bản sách ở Cường học thư xã và các nhà xuất bản khác [34] như như các cuốn Hiến thân cho nước - Truyện ông Louis Kossuth (dịch của Lương Khải Siêu) (1928), Câu chuyện chung (1929), Ngục trung ký sự (1929). Thần cộng hòa (1928), Tân quốc dân (1929), Gương phục quốc, Côn Lôn ký… , những cuốn sách lan tỏa tinh thần yêu nước và tấm gương anh hùng vì nước, vì dân…

          Cuối năm 1929, thực dân Pháp đàn áp các phong trào cách mạng. Trần Huy Liệu bị bắt, lĩnh án 5 năm cấm cố ngoài Côn Đảo. Ở đây, Trần Huy Liệu vẫn miệt mài viết với bút danh Hải Khách, làm chủ bút các báo của tù nhân Hòn Cau và Tiếng sóng bể… Những bài viết của ông tập trung động viên khí tiết của những người cách mạng và yêu nước. Tiếp xúc với những người cộng sản trong tù, tiếp thu chủ nghĩa Mác, năm 1934, trước khi mãn hạn tù, ông cùng Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Bình… tuyên bố ly khai Việt Nam Quốc dân Đảng. Thời kỳ bị cấm cố giữa biển khơi cũng là thời kỳ ông trau dồi vốn tiếng Pháp, được gọi là “tự vị sống”.

 Ra tù, bị trục xuất về Bắc Kỳ an trí ở quê, năm 1935, Trần Huy Liệu lên Hà Nội tiếp tục sự nghiệp báo chí và vận động yêu nước. Ông lập nhà xuất bản Đông Dương, ra sách về lịch sử và cổ vũ cho phong trào yêu nước, chống thực dân.

Năm 1936, Trần Huy Liệu chính thức trở thành đảng viên đảng Cộng sản Đông Dương, được phân công cùng Trường Chinh, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt) - cũng vừa từ nhà tù đế quốc trở về - làm báo nhằm khơi dậy truyền thống yêu nước của dân tộc và cổ vũ nhân dân tranh đấu. Nhờ ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, phong trào đấu tranh đòi dân chủ của các tầng lớp trong cả nước, chính quyền Pháp buộc phải nới rộng quyền tự do ngôn luận, các báo được phát hành dễ dàng hơn trước. Báo chí đấu tranh liên tục xuất hiện, tờ trước bị đình bản có tờ sau ra mắt kịp thời. Ông viết cho nhiều tờ báo tiến bộ như Đời Mới, Bắc Hà, Tiếng Vang, Kiến Văn, Hồn Trẻ, Tiếng Trẻ, Tân xã hội, Bạn dân, Le Travail, Rassemblement, En Avant, Hà Thành thời báo, Thời thế... Khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra hoạt động công khai và xuất bản báo Tin tức, Trần Huy Liệu được giao trọng trách chủ bút.  Tin tức đã trở thành người bạn thân thiết của các tầng lớp nhân dân, nhất là giai cấp cần lao. Khi Mặt trận Bình dân bên Pháp đổ, tờ Tin tức bị chính quyền thuộc địa đóng cửa, Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định cho ra tờ Đời nay, Trần Huy Liệu làm chủ bút. Tại hai tờ báo này ông là người người đại diện và phát ngôn chính của tờ báo. Tại tòa báo, ông thường đón tiếp đại diện của các tầng lớp nhân dân, hướng dẫn lập hội ái hữu, soạn thảo khẩu hiệu đấu tranh và thường đi cùng đại diện của các đoàn hội đấu tranh trực tiếp với giới chủ. Các tòa soạn báo trong thời kỳ này không chỉ là nơi đăng tải tin tức, truyền bá tinh thần yêu nước, chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn là nơi khởi xướng, tập hợp, tổ chức và hướng dẫn quần chúng trong các cuộc đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh…

Tháng 10 -1939 Trần Huy Liệu bị Pháp bắt và đày lên nhà tù Sơn La. Tại đây, ông cùng Xuân Thủy và nhiều đồng chí khác xuất bản Suối reo, báo bí mật, lưu hành trong ngục nhằm tuyên truyền đường lối của Đảng, giáo dục, cổ vũ đồng chí, đồng đội giữ vững ý chí chiến đấu và khí tiết của người cộng sản, tập hợp tù nhân đấu tranh. Cuộc vượt ngục Sơn La không thành công, ông bị chuyển về căng Bá Vân ở Thái Nguyên. Tại trại mới, ông lại cùng bạn tù lập hai tờ Dòng sông Công và Đường nghĩa, góp phần tích cực vào việc động viên cổ vũ các chiến sĩ cách mạng đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân.

 Trở lại Nghĩa Lộ, tháng 3 năm 1945, ông và nhiều đồng chí của mình tổ chức vượt ngục trở về tiếp tục hoạt động. Lúc này ông được giao làm thư ký tòa soạn báo Cứu Quốc - cơ quan của Tổng bộ Việt Minh, do Bí thư Xứ ủy Lê Quang Đạo phụ trách - cùng Xuân Thủy và nhiều người khác. Tờ báo Cứu quốc trỏ thành cơ quan ngôn luận, tiếng nói chính thức của Tổng bộ Việt Minh. Các bài viết của ông đã vạch trần bản chất của Phát xít Nhật khi dựng lên chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, đặc biệt khi Nhật đảo chính Pháp, các bài viết của ông kêu gọi nhân dân chuẩn bị khời nghĩa vũ trang đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng tư tưởng cũng như góp phần vào thành công của các cuộc vận động khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 13-8-1945, ông được cử tham dự Đại hội quốc dân Tân Trào và được Đại hội bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng. Ông được phân công soạn thảo Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa. Quân lệnh số 1 phát đêm 13-8 -1945, trở thành Lệnh Tổng Khởi nghĩa, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành độc lập vĩ đại của dân tộc.

Ngày 30-8-1945, với cương vị Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền đầu tiên trong Chính phủ lâm thời, ông đã cùng Nguyễn Lương Bằng thay mặt Tổng bộ Việt Minh và ông Cù Huy Cận được Chính phủ cử vào Huế tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Đại, chủ trì Lễ thoái vị của vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn, đánh dấu sự chấm dứt của chế độ phong kiến từng tồn tại hàng nghìn năm trong lịch sử Việt Nam.

Từ ngày 1-1-1946, ông làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Cổ động trong Chính phủ liên hiệp, lần lượt đảm nhận các chức vụ Chính trị cục trưởng trong Quân sự ủy viên hội (tương đương với chức Cục trưởng Cục chính trị/ Chủ nhiệm Tổng cục chính trị sau này[35]), Chủ tịch Ủy ban vận động đời sống mới, chủ tịch Hội văn hóa cứu quốc. Ngày 6-1-1946, ông trúng cử đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là đại biểu của tỉnh Nam Định, được bầu làm Ủy viên Ban thường trực Quốc hội tại kỳ họp lần thứ hai của Quốc hội. Cũng năm 1946, ông được cử làm Bí thư Tổng bộ Việt Minh. Từ năm 1948-1950 ông làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Việt Nam.

Năm 1952, ông có nguyện vọng được chuyển sang chuyên nghiên cứu về lịch sử nước nhà[36]. Đáp ứng nguyện vọng đó của ông, khi Ban Nghiên cứu Lịch Sử - Địa lý - Văn học trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng thành lập theo quyết định ngày 2-12-1953 của Tổng Bí thư Trường Chinh, ông được cử làm Trưởng ban. Các thành viên đầu tiên là Minh Tranh, Tôn Quang Phiệt, Hoài Thanh, Trần Đức Thảo, Vũ Ngọc Phan, Phạm Trọng Điềm… Đây cũng chính là tổ chức tiền thân của Viện Sử học và Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

Năm 1957, ông được cử làm Tổng thư ký Ban sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội.

          Năm 1958, ông được phong hàm Giáo sư cùng với các ông Nguyễn Khánh Toàn, Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đức Thảo[37]…

Ngày 6-2-1960, Viện Sử học được thành lập, ông được cử làm Viện trưởng, Ủy viên Ủy Ban Khoa học Nhà nước, rồi Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam.

Tháng 5 năm 1960, ông được cử tri Nam Định bầu làm đại biểu quốc hội khóa 2 (1960-1964), là Ủy viên Ủy ban thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất của Quốc hội. Ông còn là Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt- Trung, Ủy viên ban chấp hành Hội hữu nghị Việt-Xô…

Năm 1963 ông được nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức trao tặng Huân chương Humbold và được bầu làm Viện sĩ thông tấn, Viện hàn lâm khoa học Đức.

Năm 1966, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam thành lập, ông được bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam.

Ngày 27-7-1969, khi đang nói chuyện trong lễ kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ tại Hội trường Ủy ban Khoa học Xã hội, Trần Huy Liệu bị đột quỵ. Ông qua đời ngay hôm sau 28-7-1969 (rằm tháng 6 âm lịch), thọ 68 tuổi.

Lời kết

Sinh ra và trường thành trong những năm đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh đất nước đang bị ngoại xâm đô hộ, chàng thanh niên yêu nước Trần Huy Liệu đã sớm nhận ra vai trò của báo chí và chủ động đến với báo chí từ rất sớm, khi nền báo chí Tiếng Việt ở Việt Nam còn trong thời kỳ phôi thai.

Lần đầu tiên ông ra mắt báo chí bằng những bài thơ thể hiện lòng yêu nước, sự trăn trở một thanh niên trước vận mệnh đất nước trên tạp chí Nam Phong và cũng ngay từ khi  mới bước chân vào làng báo, ông đã sớm đưa ra tuyên ngôn về vai trò và trách nhiệm của một tờ báo, của nhà báo đối với xã hội, với nhân dân và đất nước.

Trong thời kỳ đầu của nền báo chí tiếng Việt, với trình độ Hán học uyên bác của mình ông đã đảm nhận mục Phê bình báo giới, dũng cảm đứng ra phê bình những sai lầm, ngộ nhận của báo giới không chỉ trong việc dùng từ Hán Việt, trong nhận thức của nhiều bạn đồng nghiệp, góp phần  xây dựng một văn phong tiếng Việt chuẩn xác của nền báo chí thời kỳ sơ khai.

Trong suốt cuộc đời làm báo của mình, ông luôn trung thành với tuyên ngôn về trách nhiệm của nhà báo và tờ báo đối với xã hội, nhân dân và đất nước. Ông đã dùng tờ báo để đăng tải những bài báo nhằm thức tỉnh tinh thần yêu nước, thức tỉnh ý thức trách nhiệm của người dân đối với xã hội, với vận mệnh dân tộc, đề cao những tấm gương hi sinh vì đất nước vì nhân dân. Với vai trò chủ bút nhiều tờ báo, trong nhiều thời kỳ, ở bất cứ thời điểm nào ông cũng dùng tờ báo, bài viết của mình để thức tỉnh, kêu gọi, khởi xướng, tổ chức và hướng dẫn nhân dân đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội. Và các tờ báo và tòa soạn báo của ông cũng đều trở thành nơi khởi xướng, vận động, tổ chức và hướng dẫn quần chúng đấu tranh, góp phần quan trọng và cao trào vận động yêu nước cũng như thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Cuộc đời làm báo của ông đã cho thấy chân dung trọn vẹn của một nhà báo cách mạng vĩ đại, dùng trái tim yêu nước, trí tuệ uyên bác và ngòi bút sắc bén của mình đi qua hết mọi bước ngoặt quan trọng của lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

 * Bài đã đăng trong "Trần Huy Liệu, Nhà cách mạng, nhà văn hóa, người đặt nền móng cho sử học Việt Nam hiện đại" (2026), NXB Chính trị Quốc gia Sự thật.

Tài liệu tham khảo:

- Phạm Như Thơm (2020), Hồi ký Trần Huy Liệu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

- Trần Đức Cường (2001), Giáo sư - Viện sĩ Trần Huy Liệu - nhà sử học cách mạng tiêu biểu của cả nước, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (319).

- Trần Chiến (2020), Cõi Người, Nxb Trẻ.

- Tiểu sử đồng chí Trần Huy Liệu (1969), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 125

- Văn Tạo (1998), Viện sử học Việt Nam (1953-1998), Hà Nội.

- Võ Nguyên Giáp (2001), Nhớ anh Trần Huy Liệu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 (317).

- Thư mục của Trần Huy Liệu (1969), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 125.

- Nam Phong tạp chí

-Nông Cổ Mín đàm

-Đông Pháp thời báo



[1] Trần Huy Liệu ( 1977) , Thơ Trần Huy Liệu, NXB Văn học, tr 16

[2] Trần Huy Liệu ( 1977) Thơ Trần Huy Liệu, sách đã dẫn, tr 29-30

[3] Trần Huy Liệu,(1923) , “Cảm tác” Nam Phong, ), tập 75, tháng 9, tr252-253

[4]  Trần Huy Liệu (1923), “Vịnh thằng bé con”, Nam Phong  tạp chí , tập 77,  tháng 11, tr 430

[5]  Trần Huy Liệu, (1924), “ Cảm hoài”, Nam Phong tạp chí , tập 90,  tháng 12, tr  550

[6] Đẩu Nam Trần Huy Liệu (1924), Tự trào, Nông cổ mín đàm, số 119, ngày  22 tháng 7, tr1

[7] Nam Kiều, (1925),  Họa nguyên vận bài “ Hỏi Trời” của Quốc Biểu” “, Đông Pháp thời báo , ngày 5/1, tr 1.

[8]  Trần Huy Liệu, (1924) “Bịnh Háo danh”, Nông cổ mín đàm ,  báo ngày  số 116 ngày 1/7,  tr 1

[9] Đẩu Nam Trần Huy Liệu (1924), “Nghề viết báo”, Nông cổ mín đàm số 117 ngày 8/7, tr 1

[10] Đẩu Nam Trần Huy Liệu (1924), “Mắt xanh biết có ai vào”, Nông Cổ mín đàm, số 118 ngày 15/7, tr 1

[11]  Côi Vị (1924), “Nông Cổ Mín Đàm”, số 119 ngày 22/7, tr1

[12]  Đẩu Nam (1924), “Cùng ông Trương Duy Toản, tác giả bài Đã hay Nam - Bắc một nhà”, Đông Pháp thời báo số 187, ngày 3/9, tr2

[13] Đẩu Nam (1924), “Họa bài thơ “ Hóa vi quới” của ông Lão Ngạt trong báo Trung Lập “, Đông Pháp thời báo, số 186 ngày 1/9/, tr 1

[14] Nam Kiều (1925), “Khai bút”, Đông Pháp thời báo, số 245 ngày 3/2, tr 1

[15] Nam Kiều( 1925),” Cái khổ tâm của người viết báo về lời văn công kích”, số 283 ngày 4/5, tr1

[16] Nam Kiều (1925), “Cảnh mưa dầm” Đông Pháp thời báo, số 258 ngày 4/3, tr1

[17] Nam Kiều (1925) “ Cháy nhà cảm vịnh”, Đông pháp thời báo, số 249 ngày 11/2, tr 1

[18] Nam Kiều ( 1925) “ Ca nhạc Tây và ca nhạc ta”, Đông pháp thời báo ngày 4/3 tr 1

[19] Nam Kiều, (1925), “ Nạn thất nghiệp”, Đông Pháp thời báo, số ngày 1/7, tr1.

[20] Trần Huy Liệu ( 1925)” Cái chết của người mình”. Đông Pháp thời báo, số ngày 3/7/ tr 1

[21]Nam Kiều ( 1925),” Các câu tục ngữ có hại cho người mình”, Đông Pháp thời báo, số 262 ngày 13/3/1925

[22] Trần Huy Liệu  ( 1926), Tấm gương ái quốc, Đông Pháp thời báo số  405  ngày 8/3, tr4

[23] Trần Huy Liệu ( 1925), “ Khóc tự do”, Đông Pháp thời báo , số 318 ngày 31/7, tr 1

[24] Nam Kiều (1925), “Ngòi bút tự do của nhà viết báo”, Đông Pháp thời báo số 293, ngày 29/5, tr1

[25] Đẩu Nam ( 1925) “ Bút chiến”, Đông Pháp thời báo, số 321 ngày 7/8, tr1

[26] Nam Kiều ( 1925), “ Bàng quan”, Đông Pháp thời báo, ngày 4/5, tr1

[27] Đẩu Nam, ( 1925)” Nghĩa đồng bào”, ĐPTB, số 343 ngày 30/9. Tr1

[28] Hội đồng trị sự  gồm  lãnh đạo báo ĐPTB và nhiều trí thức, chủ doanh nghiệp, các ông thành viên của Hội đồng thành phố Chợ Lơn…

[29] Nam Kiều (1926), “Đồng bào ta đối với đám tang Phan Châu Trinh phải thế nào”, Đông Pháp thời báo  số 414 ngày 29/3, tr1

[30] Nam Kiều ( 1926) “Lập chánh đảng”, Đông Pháp thời báo, số 411, ngày 22/3, tr1

[31] Đông Pháp thời báo số 464 ngày 28/7/1926, tr1

[32] Từ ngày 16/4/1926, báo Đông Pháp thời báo ghi Chủ bút: Trần Huy Liệu  dit Nam Kiều.

[33] Phạm Như Thơm (2020), Hồi ký Trần Huy Liệu, Nxb Khoa học xã hội, tr.58

[34] Nxb Đức Lan Phương, Nxb Tam thanh

[35] Võ Nguyên Giáp (2001), Nhớ anh Trần Huy Liệu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 (317), tr.87.

[36] Ông từng tâm sự “ Đã từ lâu lắm, vì nhu cầu của thời đại vì tính thích nghiên cứu về sử học , nhất là say sưa về những chuyện cách mạng gần đây, tôi ôm một mộng lớn là viết một quyển sử cách mạng Việt Nam từ thời Pháp thuộc.”, dẫn theo Trần Đức Cường ( 2001), “Giáo sư – Viện sĩ Trần Huy Liệu- nhà sử học cách mạng tiêu biểu của cả nước”., Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 ( 319), tr5

[37] Văn Tạo ( 1998), Viện sử học Việt Nam ( 1953-1998), Hà Nội, tr 26-27,


Trần Huy Liệu (1901-1969)- nhà báo cách mạng kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX *

                                                                                                       Đặng Thị Vân Chi            Giáo sư,...