Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa Nhật Bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa Nhật Bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

TRÀ NHÂN *

Okakura Tenshin (I862-I9I3)
( chương VII, Trà nhân, trong cuốn Trà thư, NXB Thế giới, 2009) từ trangI45-I53)
Người dịch:Nishino Noriko ,giáo viên dạy Trà đạo- cố vấn câu lạc bộ Trà đạo Trúc Diệp
Lê Yến Minh
Đoàn Phương Ly
Lê Mai Hương
Người giới thiệu: GS Tani Akira- một trong những nhà nghiên cứu về Trà Đạo hàng đầu của Nhật Bản
Người biên tập tiếng Việt: Lê Kim Nhung- giảng viên văn học của Đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội
Người hiệu đính: Trần Đoàn Lâm- GĐ nhà Xuất bản Thế giới.


 Trong tôn giáo, vị lai ở phía sau ta. Trong nghệ thuật, hiện tại là vĩnh cửu. Các vị Trà nhân tin rằng, sự thưởng thức nghệ thuật thực sự chỉ đến với những người nào tạo ra  nghệ thuật ảnh hưởng tới cuộc sống.  Vì vậy, họ tìm cách điều chỉnh cuộc sống hàng ngày bằng những tiêu chuẩn cao về sự tinh tế có được trong Trà thất. luôn luôn phải giữ thanh tịnh và việc dàm đạo được xếp đặt để không bao giờ phá vỡ sự hài hòa của không gian xung quanh. Kiểu dáng và màu sắc các trang phục, tư thế và cách đi đứng- tất cả đều thể hiện cá tính thẩm mỹ. Không thể xem nhẹ các vấn đề này, vì chừng nào một con người chưa thể tự làm đẹp mình thì người đó không có quyền tiếp cận cái đẹp. Vì vậy Trà Nhân cố gắng trở nên hơn một người nghệ sĩ, mà là chính bản thân nghệ thuật. Đó chín là Thiền của Mỹ học. Sự hoàn hảo có ở khắp mọi nơi, chỉ cần ta quyết nhận ra nó hay không. Kiryu rất thích viện dẫn một bài thơ cổ:
             Với những người chỉ mong mỏi hoa
Ta sẽ vui lòng chỉ ra mùa xuân nở rộ
Còn lưu lại trong những chồi nụ khó nhọc
Trên sườn đồi tuyết phủ (I)
Đóng góp của Trà Nhân thật sự đa dạng. Họ đã cải cách hoàn toàn kiến trúc cổ điển, trang trí nội thất và và tạo ra phong cách mới mà chúng ta đã miêu tả trong chương nói về trà thất- một phong cách thậm chí ảnh hưởng đến các cung điện và Thiền viện được xây cất sau thế kỷ I6. Một Kobori Enshiu đa tài đã để lại nhiều chứng tích nổi bật về thiên tài của mình trong Ly cung Katsura (2). thành Nagoya (3) và Nhị Điều (4) thành và tự viện Kohoan (5). Tất cả các khu vườn nổi tiếng ở Nhật Bản đều do Trà Nhân thiết kế . Đồ gốm của chúng ta có lẽ sẽ không bao giờ đạt được chất lượng tuyệt hảo, nếu như các Trà Nhân không thổi hồn vào đó - việc chế tạo Trà cụ đòi hỏi phải phát huy hết mức sự khéo léo của những người thợ làm gốm. Bảy lò gốm nung của Enshiu (6) được toàn bộ học giả về gốm Nhật Bản biết đên. Nhiều loại vải dệt mang tên các Trà Nhân, những người đã tạo ra màu sắc, kiểu dáng. Thật sự không thể tìm ra bất cứ lĩnh vực nào mà Trà nhân không để lại dấu ấn kỳ tài của mình. Trong hội họa và sơn mài, có vẻ gần như là thừa nếu ta nói đến những đóng góp to lớn của họ. Một trong những trường phái hội họa danh tiếng nhất có nguồn gốc từ Trà Nhân Honami Koetsu(7), cũng nổi tiếng là một nghệ nhân sơn mài và gốm. Nếu đặt cạnh các tác phẩm của ông, thi sự tuyệt phẩm của người cháu trai Koho và người cháu trai họ Korin (8)và Kenzan(9) gần như bị lu mờ. Toàn bộ trường phái Korin như người ta thường gọi vậy là là một biểu hiện của Trà Đạo. trong các đường nét phóng khoáng của trường phái này, chúng ta dường như tìm thấy sức sống của chính thiên nhiên ở đó.

                                 Bộ đồ trà hay còn được gọi là Trà cụ

Cho dù ảnh hưởng của Trà nhân trong lĩnh vực nghệ thuật có mạnh đến đâu cũng không thể so sánh được với ảnh hưởng của họ tới cách sống. Không chỉ trong tập tục của một xã hội thanh lịch mà còn cả trong sự sắp đặt mọi chi tiết trong gia đình, chúng ta đều cảm nhận thấy sự hiện diện của Trà nhân. Rất nhiều các món ăn tinh tế, cũng như cách phục vụ món ăn đều là sáng tạo của họ. Trà nhân dạy chúng ta chỉ mặc y phục có màu sắc trang nhã. Họ chỉ dẫn cho chúng ta có một tinh thần phù hợp khi tiếp cận hoa. Họ nhấn mạnh vào yêu thích sự mộc mạc một cách tự nhiên của ta, và chỉ cho chúng ta thấy vẻ đẹp của sự khiêm nhường. Thực chất thông qua gia huấn của Trà nhân, trà đã đi vào cuộc sống của người dân.
Trong chúng ta, những ai không biết bí quyết điều chỉnh cuộc sinh tồn một cách hợp lý trong một bề hỗn độn đầy rắc rối, xuẩn ngốc mà chúng ta gọi là cuộc sống, thì luôn sống trong trạng thái khổ sở, trong khi cố tỏ ra vẻ hạnh phúc và hài lòng một cách hão huyền. Chúng ta loạng choạng cố tìm cách giữ cho tinh thần bình ổn, và nhìn thấy điềm báo giông tố nơi mỗi đám mây đang trôi phía chân trời. Tuy nhiên trong những cuộn sóng ào ạt lướt ra xa về phía vĩnh hằng vẫn có niềm vui và vẻ đẹp. Sao ta không hòa vào cái hồn của chúng, hoặc, giống như Liệt tử, cưỡi trên chính trận cuồng phong đó.

Chỉ có những ai sống với cái đẹp mới có thể chết đẹp. Khoảnh khắc cuối cùng của những Trà nhân vĩ đại cũng ngập tràn sự tinh tế thanh cao như chính cuộc sống của họ. Luôn luôn tìm cách sống hài hòa với nhịp điệu vĩ đại của vũ trụ, họ luôn sẵn sàng đi vào cõi vô định. " Tiệc trà cuối cùng của Rikyu" sẽ tồn tại mãi là tột đỉnh của sự bi tráng..."

                                                Trà thất
Tình bạn giữa Rikyu và Taiko Hideyoshi đã có từ lâu, và người võ sĩ vĩ đại rất trọng vọng bậc Trà Nhân này. Nhưng tình bạn của một bạo chúa luôn là vinh dự nguy hiểm. Đó là thời kỳ đầy rẫy phản trắc, và người người ta thậm chí không tin tưởng cả người thân cận nhất của mình. Rikyu không phải là một cận thần nô lệ và thường dám tranh luận với trái ý với bạo chúa của mình. Lợi dụng những lúc lạnh nhạt trong mối quan hệ với Taiko và Rikyu, kẻ thù của Rikyu đã vu cho ông có dính líu đến một âm mưu đầu độc bạo quân. Lời đồn tới tai của Hideyoshi rằng, chén trà xanh do chính vị Trà nhân chuẩn bị có chứa thuốc độc. Với Hideyoshi, nghi ngờ cũng đủ là lý do cho án tử  hình ngay tức khắc, và không có sự cầu khẩn nào lay chuyển được ý chí của kẻ thống trị đương cơn thịnh nộ. Kẻ bị xử tử chỉ được ban một đặc ân duy nhất là vinh dự được tự tay kết liễu mình.
                                           Vườn 
Vào ngày giã từ định mệnh, Rikyu mời những môn đệ trưởng của mình tới tham dự buổi tiệc trà cuối cùng. Các vị khách đau buồn hội tụ ở machial. Khi họ nhìn vào Roji, hàng cây dường như cũng rung động và trong tiếng xào xạc của lá cây như vọng lại tiếng thì thầm của các vong hồn. Những cây đèn xám đứng giống như âm binh oai nghiêm trước cửa Địa ngục. Một làn hương trầm thoang thoảng tỏa ra từ phòng trà; đó là lời mời khách bước vào. Từng người một tiến vào và ngồi vào chỗ của mình. Tại Tokonoma, có treo một bức kakemono (II) thể hiện bút pháp tuyệt vời của một vị sư thời xưa nói về sự phù du của mọi điều thế tục. Tiếng reo của nồi nước đang sôi trên lò than nghe như tiếng ve kêu buồn bã khi phải giã từ mùa hạ. Rồi vị chủ nhà bước vào phòng. Từng người một được mời thưởng thức trà, và từng người một lặng lẽ uống cạn chén trà, chủ nhân là người uống sau cùng. Theo nghi lễ, vị khách chính xin phép hỏi bộ đồ trà. Rikyu đặt các vật dụng khác nhau trước mặt họ cùng với bức thư pháp. Sau khi mọi người bày tỏ sự ngưỡng mộ vẻ đẹp của chúng, Rikyu tặng mỗi người tham dự tiệc trà một vật làm kỷ niệm. Ông chỉ giữ lại chiếc bát. " Chiếc bát đã bị ô uế bởi đôi môi kẻ bất hạnh này, sẽ không bao giờ được sử dụng nữa". Nói xong ông đập vỡ chiếc bát làm nhiều mảnh.
Buổi tiệc trà kết thúc, các vị khách nén kìm nước mắt một cách khó khăn, nói lời từ biệt cuối cùng và rời phòng trà. Duy nhất một người, người gần gũi và thân cận nhất được yêu cầu ở lại để chứng kiến hồi kết. Rikyu cởi bỏ Trà phục và cẩn thận gấp lại đặt trên chiếu, để lộ ra tử phục trắng tinh khiết được mặc giấu cho đến lúc bấy giờ. Ông dịu dàng ngắm nhìn lưỡi dao định mệnh sáng loáng, rồi ngâm vài vần thơ tao nhã:
Xin chào mi
Lưỡi gươm vĩnh hằng
Qua cả Phật đà
Qua cả Đạt Ma
                                                                 Mi tự xuyên qua 
Với một nụ cười trên khuôn mặt, Rikyu bước vào cõi vô định
-------------------------
* Theo nguyên bản tiếng Anh, Trà nhân được dịch từ Tea-Master. Có người dịch Tea- master là Nghệ nhân trà đạo, nhưng theo tôi Nghệ nhân gắn với những người làm nghề thủ công. Còn Trà đạo không phải là một nghề thủ công mà là một nghi lễ, một triết lý sống, là Đạo. Nếu dùng Nghệ nhân sẽ không làm rõ được sự khác biệt ấy. Những người học Trà đạo để biết pha trà theo kiểu Trà đạo hiện nay chắc không được gọi là Trà Nhân. Trà Nhân là thuật ngữ và đi cùng với nó là cả một bảng những quy tắc thực hành tu dưỡng kèm theo. Trong Trà đạo có những khái niệm mang ý nghĩa quy ước riêng như : Trà Nhân, Trà Thất, Trà cụ, Trà phục...



Chú thích:
I. Thơ của Fujiwara no Ietaka ( II58-I237), quý tộc và nhà thơ lớn của Nhật bản
2. Ly cung Kasurra là một cung điện có vườn và kiến trúc ngoài trời nằm ở ngoại ô phía tây nam Kyoto. Đây là một trong những báu vật văn hóa kích thước lớn quan trọng của Nhật bản. khu vườn Ly cung là một kiệt tác của kiểu vườn Nhật Bản. cung điện gồm tòa nhà, trà thất và vườn. nó đem l;ại những thiết kế vô giá cho các cung điện Hoàng gia thời kỳ Edo
3. Thành Nagoya được  Tokugawa xây cho con trai thứ 9 của mình
4. Nhị Điều thành  do Tokugawa Ieyasu xây để bảo vệ lâu đài hoàng đế ở Kyoto
5. Chùa Daitoku
6 Là bảy lò ghốm của Enshiu cho sản xuất gốm sứ phù hợp với nghệ thuật Trà đạo
7.Honami Koetsu: (I558-I637) là một trà nhân sinh ra ở Kyoto, đồng thời cũng là thợ làm gốm, nghệ nhân sơn mài, là nhà thư pháp nổi tiếng, được xem là người mở đường cho trường phái hội họa Rimpa, một trong những trường phái hội họa lớn nhất Nhật bản. ông cũng là nghệ nhân gốm với những tác phẩm Raku nổi tiếng trong giới Trà đạo.
8.Ogata Korin: (I658-I7I6)là họa sỹ và nghệ nhân sơn mài và nhuộm vải, là anh trai của Ogata Kenza. Trường phái của ông được người đời sau gọi là Rimpa
9.Ogata Kenzan : (I663-I743), nghệ nhân gốm ở Kyoto, phong cách của opong là gốm hoa văn nhiều màu vẽ bằng bút lông.
I0 Rimpa: là một trường phái hội họa chính của Nhật bản từ thế kỷ I7 do Tawaraya Soutasu sáng lập và Otaga Korin xiển dương. Honami Koetsu và Otaga Kenzan củng cố và phát huy trong lĩnh vực gốm sứ, sơn mài. thuật ngữ " Rympa" bản thân là âm tiết cuối từ Korin được khắc trên tiền thời Minh trị
II. kakemono: tranh cuộn hay bức thư pháp treo tường.
 Các bạn có thể tìm hiểu thêm về việc đào tạo một thợ thủ công ở Nhật Bản ở đây:
http://chuyencuachi.blogspot.com/2011/03/tinh-than-nghe-nhan.html

 Khuyến mại thêm hình tôi thưởng thức Trà theo phong cách Trà đạo tại Sảnh đường Vàng ở Kyoto
                               Đây là Sảnh đường Vàng- Nơi đây người ta có thể mở tiệc trà
                               Phòng thưởng thức Trà đạo cho du khách tham quan Sảnh đường Vàng




Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011

Tinh thần nghệ nhân


Đặng Thị Vân Chi  (dịch và biên soạn)



Tokyo tháng 12 năm 2010
Thật đau buồn trước thảm họa mà nhân dân Nhật Bản , đất nước Nhật bản tươi đẹp đã phải chịu đựng, tôi đăng một bài tôi dịch từ một quyển sách giới thiệu về văn hóa Nhật Bản do một sinh viên Nhật bản- nay là cán bộ của Bộ ngoại giao Nhật Bản copy cho tôi, nhưng thời gian trôi qua và tôi không còn giữ được những trang đầu ghi tên tác giả. Tôi chỉ còn nhớ em ấy nói rằng tác giả là một học giả viết từ những năm 1970 nên nhiều vấn đề trong sách không còn tính thời sự. Tuy nhiên, những bài viết về văn hóa Nhật Bản theo tôi vẫn còn nguyên giá trị.
 Dưới đây là bài viết về tinh thần Nghệ nhân cho thấy một khía cạnh trong tinh thần người Nhật và có thể hiểu tại sao người Nhật đã thành công như vậy trong lịch sử của họ. Cầu mong cho nhân dân Nhật Bản sớm vượt qua thử thách này.

Bữa tối cuối cùng cuản tôi ở Nhật Bản với các bạn Nhật Bản cách đây hơn một năm! Cạnh tôi là GS Momoki Shiro, các bạn NCS ngành lịch sử và các em sinh viên khoa Tiếng Việt của Đại học Osaka.
Tokyo tháng 12/2010

"Thậm chí hiện nay vẫn còn có nhiều câu châm ngôn mô tả tinh thần của thợ thủ công Nhật Bản, mặc dù kể từ thời Minh Trị năm 1868 do sự phát triển ngày càng mạnh của nền sản xuất cơ khí hoá số lượng thợ thủ công cũng như các loại nghề thủ công càng ngày càng gảm đi. Ví dụ như có nhiều  câu châm ngôn như sau: Đối với một thợ làm gốm “ mất ba năm để học trộn đất sét cho giỏi, mười năm để sử dụng bàn xoay giỏi”; Với người nấu ăn “ mất mười năm chỉ để học cách sử dụng con dao trong nhà bếp, mười năm khác cho việc chế biến các món theo mùa”. Với thợ làm mứt kẹo theo kiểu Nhật thì “ phải mất ba năm để học cách điều khiển ngọn lửa trong lò, mười năm nữa để làm mứt đỗ”; và với thợ điêu khắc thì “phải cúi thấp ba lần trước một nét chạm trổ.”
Chính vì vậy mà người thợ thủ công hiện nay được coi như không chỉ là những chuyên gia - những ngươì có được một sự nghiệp có ý nghĩa trong cuộc đời của họ mà  còn là hiện thân của danh dự, tính ngoan cường, tính kiên định và lòng nhiệt tình.
Những đức tính này đã được và vẫn còn được vun trồng và phát triển qua những  hệ thống học nghề truyền thống nghiêm khắc đã được thiết lập một cách vững chắc với hệ thống tổ chức của những phường hội thương nhân trong thời kì Ê đô (1603 - 1867 ) . Hệ thống này cũng tương tự như hệ thống đào tạo  nghề buôn trong thời kì đó.

Ví dụ như việc đào tạo thợ mộc, một cậu bé 12-13 tuổi sẽ được dẫn đến thăm nhà  thầy dậy nghề lần đầu tiên giống như một cuộc viếng thăm chính thức trước khi được học nghề. Nếu cậu ta được phép ăn trưa cùng với ông chủ thì điều đó cũng có ý nghĩa như việc học nghề của cậu ta đã được chấp thuận, và bố mẹ cậu ta sẽ nhận được một số tiền trả trước cho sự chuẩn bị của cậu ta. Thời gian phục vụ thường là từ 7 đến 10 năm. Và trong suốt thời kì đó cậu ta không bao giờ được phép về thăm bố mẹ mình thậm chí cho dù nhà cậu ta ở gần đó , hoặc cậu ta  ngẫu nhiên có dịp đi qua nhà mình trừ những ngày Tết năm mới và ngày nghỉ giữa hè.. Cậu ta làm việc dưới sự hướng dẫn ông chủ mà không phải trả tiền công và sinh hoạt cùng với gia đình của ông ta.
Khi khoá học kết thúc, cậu ta được ông chủ tặng cho một bộ đồ nghề, nhưng cậu ta phải làm việc cho ông chủ thêm một năm nữa để tỏ lòng biết ơn đối với ông chủ. Sau đó cậu ta có thể làm việc độc lập và đứng ra mở một cửa hiệu riêng. Sự vất vả của việc học nghề được diễn tả bằng câu châm ngôn như: “ Gạt tất cả nước mắt dưới mái hiên nhà và sự chịu đựng sẽ là bạn của anh”. Một số những thợ mộc, thợ thủ công và những người biểu diễn như các diễn viên kabuki tài năng đã được mệnh danh là “ tài sản sống của quốc gia” bởi vì từ năm 1950, chính phủ đã cho việc giữ gìn và truyền lại những tài năng văn hoá có giá trị là cần thiết cho nền nghệ thuật truyền thống của Nhật bản."

Sinh viên nam trong ảnh này là Isao Kishi, tùy viên văn hóa Đại sứ quán Nhật Bản những năm 1990, khoảng những năm 2003-2004, anh ấy là Lãnh sự tại Thành phố Hồ Chĩ Minh- người đã cho tôi bản copy của cuốn sách
Võ sĩ Kendo bậc 4/8, hiện đang được mời làm huấn luyện viên cho đội tuyển Kendo Việt nam đi dự Đại hội kendo châu Á tại Singapor. Ảnh chụp trong ngày văn hóa các dân tộc nhân đón năm mới 2010. Em sinh viên này biểu diễn kendo
Nhà hàng Nhật Bản

Tokyo tháng 12 năm 2010

 Các giá trị được tôn trọng qua hình ảnh trên các đồng tiền Nhật bản

 Qua những hình ảnh trên đồng tiền Nhật Bản có thể hiểu thêm người Nhật coi trọng những giá trị gì trong cuộc sống:
Tiền giấy Nhật có các mệnh giá : 10.000 yên, 5000 yên, 2000 yên và 1000 yên. Trong số đó có 3 mệnh giá in chân dung cá nhân là các tờ 10.000 Yên, 5000 yên và 1000 yên. Tờ 2000 yên là hình một công trình kiến trúc.Tiền xu có đồng 500 yên, 100 yên và 50 yên...
Trên  đồng 10.000 yên có  chân dung một nhà tư tưởng, trên đồng  5000 yên là chân dung nhà văn tiêu biểu, còn trên đồng 1000 yên là chân dung 1 bác sĩ.
Trên tờ 10.000 yên hiện nay là chân dung ông Yukichi Fukuzawa, nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu củaNhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời kỳ Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới.
 Trên tờ 5000 yên là chân dung một nữ văn sĩ - bà Ichiyo Higuchi sống ở thế kỷ 19 (1872-1896) viết về cuộc sống của người dân Nhật Bản thời kỳ Minh Trị. Năm 1889, bà bắt đầu viết tiểu thuyết . Trong vòng chưa đầy một năm kể từ cuối năm 1894, bà liên tiếp xuất bản kiệt tác như Otsugumori (Ngày cuối cùng của năm) , Take Kurabe (Comparing Heights), Nigorie (Troubled Waters),  và Jusanya (13th Night). Bà qua đời ở tuổi  24 vì bệnh  lao.
Và trên  tờ 1000 yên là chân dung bác sĩ Hideyo Noguchi. Người đã tìm ra loại vi khuẩn gây bệnh giang mai và cách chữa trị căn bệnh gây kinh hoàng trong những năm cuối thế kỷ 19-đầu thế kỷ 20 này. Ngoài ra ông cũng là người phát hiện ra bệnh sốt vàng da là căn bệnh do vi rút gây ra. Ông đã chết bởi chính căn bệnh sốt vàng da này.
Tiền Nhật khoảng 20 năm thay đổi một lần để chống làm giả và chân dung đàn ông luôn có râu, để khó làm giả:)
Qua đồng tiền, ta có thể  hiểu được người Nhật đề cao giá trị gì. Họ đánh giá cao nhất tầm quan trọng của nhà tư tưởng- người có thể thay đổi xã hội, mở ra cả một thời đại mới. Thứ hai là nhà văn. Người ta vẫn nói văn học là nhân học, khoa học về con người, văn học giúp xây dựng tâm hồn con người: nhân đạo, vị tha,....  cũng khuyến khích người ta sống có khát vọng, có lý tưởng... Thứ ba là bác sĩ, người bảo vệ sức khỏe cho nhân dân...
 Tóm lại là phải chăng theo họ, 3 yếu tố quan trọng nhất của con người  đó là: Trí tuệ, tâm hồn và sức khỏe... Chỉ từ cách họ chọn những gương mặt đại diện để in trên đồng tiền , ngẫm lại chúng ta sẽ hiểu tại sao họ phát triển được một cách hài hòa như vậy...

Tokyo tháng 12 năm 2010.


NHÌN NHẬN TRƯƠNG VĨNH KÝ THẾ NÀO CHO ĐÚNG? *

                                              Hoàng Văn Lân và Đặng Huy Vận   I. Q uan điểm xét vấn đề B ước vào nửa sau thế kỷ XIX, với sự ...