Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

GIÁO DỤC PHÁP-- VIỆT Ở NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX. *

                                                                                                        Đặng Thị Vân Chi

                    Từ cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp và xã hội Việt Nam nhanh chóng nằm trong quỹ đạo của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các chương trình khai thác thuộc địa, Pháp cũng sớm chú ý đến việc thay đổi hệ thống giáo dục tại Việt Nam. Việc thay đổi hệ thống giáo dục mà Pháp thực hiện ở Việt Nam được chia thành nhiều đợt và diễn ra từ từ.

           Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, nơi nền giáo dục Hán học và truyền thống khoa cử vẫn đang tồn tại vững chắc với hệ thống các trường học có mặt khắp các tỉnh thành, phố huyện cho tới các xã, thôn với số lượng học sinh cũng như các sĩ tử đăng ký tham dự các kỳ thi Hương có xu hướng ngày càng tăng thì từ năm 1897, sau khi dập tắt về cơ bản các cuộc phản kháng do tầng lớp văn thân sĩ phu lãnh đạo, cùng với việc triển khai chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Pháp bắt đầu can thiệp vào các kỳ thi Hương. Cùng với đó, Pháp cho lập trường Hậu bổ ở Hà Nội để dạy tiếng Pháp và quốc ngữ cho những người đã đậu kỳ thi hương muốn được tuyển dụng vào ngạch quan trường và đến năm 1900 Pháp chính thức quy định bổ sung bài thi tiếng Pháp và quốc ngữ vào các kỳ thi hương.

          Đầu thế kỷ XX, để đẩy mạnh việc cải tổ nền giáo dục Nho học theo mục đích, chương trình và phương pháp của các trường Pháp -Việt, đồng thời nhanh chóng mở rộng hệ thống trường Pháp -Việt ra toàn cõi Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau ra Nghị định về việc thành lập Nha học chính Đông Dương ngày 14-11-1905 và Nghị định thành lập Hội đồng Cải lương học chính bản xứ ngày 8-3-1906.

         Cùng với việc triển khai chương trình cải cách này Pháp cũng tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp và quốc ngữ.

         Bên cạnh hệ thống trường học, chính quyền thực dân còn cho thành lập một số viện nghiên cứu như: Viện Vi trùng học Sài Gòn (1891), Nha Trang (1896), Hà Nội (năm 1900) và Viện Viễn Đông Bác cổ (1898) Nha khí tượng (1898), sở Địa chất (1899)...Đầu thế kỷ XX, Pháp cho thành lập một số trường Đại học và cao đẳng, trường dậy nghề như Đại học Đông Dương, Khoa Pháp Lý thuộc đại học Đông Dương,  Trường Đại học Y dược, Thú y, Luật khoa, Sư phạm, Nông nghiệp  và Lâm nghiệp, trường Công chính, trường Thương mại...

         Ở Nam Định, cho đến năm 1900 mới có 4 trường Pháp – Việt.

        Trường tiểu học Pháp – Việt ở phủ Xuân Trường được thành lập từ khá sớm, vào năm 1897. Trường được xây theo đúng kiểu kiến trúc mà Sở học chính quy định, giống như các trường tiểu học khác ở Bắc Kỳ gồm 3 phòng học, (sau này được xây thêm 2 phòng nữa), mái lợp ngói, tường gạch có cửa kính, hành lang và sân trường rộng rãi. Tuy nhiên, từ khi thành lập cho đến năm 1924, trường chỉ dạy ở bậc sơ học. Chương trình sơ học (Ấu học) gồm 3 năm, chủ yếu học chữ Hán và chữ quốc ngữ, nếu có nhu cầu học thêm tiếng Pháp thì sẽ có giáo viên dạy các trường tiều học Pháp - Việt về dạy thêm một số giờ. Học xong chương trình, học sinh qua một kỳ thi tuyển sinh để lấy bằng tuyển sinh, có giá trị tương đương bằng Sơ học yếu lược sau này.

          Thời kỳ đầu trường chỉ thu hút được học sinh từ các làng công giáo trong Phủ như Ngọc Cục, Lục Thủy, Liên Thủy, Bùi Chu, Phú Nhai, Trung Linh theo học, còn làng có truyền thống khoa cử như làng Hành Thiện thì không một gia đình nào cho con em mình đến trường (vì không muốn học chữ của Tây), mặc dù để khuyến khích, công sứ Nam Định còn cấp phát sách vở, cấp học bổng cho học sinh. Học xong bậc sơ học muốn học tiếp chương trình tiểu học, học sinh phải lên Nam Định học tiểu học 3 năm để lấy bằng Khóa sinh, tương đương với bằng Tiểu học Pháp -Việt. Nội dung học cũng gồm cả Hán văn, Quốc ngữ và tiếng Pháp. Các môn sử, địa, toán, cách trí, khoa học thường thức học bằng Quốc ngữ khoảng 30 giờ 1 tuần, còn Hán văn học khoảng 10 giờ /1 tuần với các sách Tứ thư (trừ Trung dung không học) nhưng đã được biên soạn lại và các sách khác như Chính biên toát yếu, Luật lệ toát yếu, Việt sử tổng vịnh, An Nam sơ học sử lược, Nam quốc địa dư, Đông Dương chính trị …Tiếng Pháp học khoảng 10giờ /1 tuần cho tập đọc, tập làm văn, hội thoại. Cuối khóa thi lấy bằng khóa sinh và được miễn sưu dịch 3 năm. Ở bậc trung học, học sinh vẫn học với cả 3 ngôn ngữ, Quốc ngữ, Hán văn và tiếng Pháp, học xong có thể thi lấy bằng Thí sinh và được tham dự kỳ thi Hương. Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thế kỷ XX, đa số học sinh vẫn học tại các trường Hán học của các đại khoa trong vùng, nên sau này nhiều người bỏ không tham dự các kỳ thi hương đòi hỏi phải làm bài bằng Quốc ngữ và tiếng Pháp.

         Từ trước khi có trường theo kiểu trường tiểu học Pháp -Việt, những người muốn học Quốc ngữ và tiếng Pháp phải tự tìm chỗ học như ông Đặng Hữu Nữu người làng Hành Thiện, ông đã đậu cử nhân và là người đầu tiên của làng Hành Thiện học Quốc ngữ và tiếng Pháp vì vậy ngay từ năm 1989, ông đã thi đậu kỳ thi tuyển Ký lục và đến năm 1903 ông được bổ làm Tri huyện. Cũng có người xin học dự bị trường Hậu Bổ như ông Đặng Đức Tô (đậu cử nhân khoa 1906), ông được tuyển làm thừa phái, nhưng sau đó ông nghỉ việc về Hà Nội mở hiệu sách, dịch các sách Kinh thi, Đại học sang quốc ngữ. 

           Mãi tới năm 1908, do ảnh hưởng của phong trào Đông Kinh nghĩa thục, hô hào thanh niên theo học chữ quốc ngữ, học sinh làng Hành Thiện mới bắt đầu theo học trường tiểu học này. Những học trò đầu tiên từ các gia đình có truyền thống Nho học của làng Hành Thiện tới học trường này là con cháu của Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn là Nguyễn Thế Phu và Nguyễn Thế Tắc…Dần dần, trong khi những người tốt nghiệp từ các trường tiểu học biết tiếng Pháp và sử dụng tốt quốc ngữ có nhiều cơ hội được bổ nhiệm vào các công sở của Pháp với những điều kiện mà chính quyền thực dân đặt ra đối với các nho sỹ muốn tham gia quan trường là phải đỗ kỳ thi quốc ngữ và tiếng Pháp bắt đầu được thực hiện từ năm 1909, thì các nho sĩ  khó  có cơ hội tìm kiếm được việc làm trong ngạch quan trường cũng như các công việc khác. Các Nho sĩ thức thời bắt đầu chuyển hướng tự tìm trường học quốc ngữ và tiếng Pháp. Năm 1911 ông tú tài Đặng Vũ Túc ở làng Hành Thiện đã cho đón hai thầy giáo về làng dậy chữ Pháp, quốc ngữ, toán và khoa học thường thức cho những người muốn dự kỳ thi hương và dự bị lấy bằng tiểu học trong làng.

         Khoa thi Hương năm 1915 ở Nam Định là khoa thi cuối cùng của nền giáo dục Khoa cử Hán học, cũng là khoa thi đánh dấu sự chấm dứt nền giáo dục Hán học truyền thống ở Việt Nam, thì đến ngày 21-12-1917, toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ra nghị định ban hành Học Chánh Tổng Qui ở Đông Dương (Règlement Général de l'Instruction Publique en Indochine) nhằm mục đích thực hiện một cách qui mô chính sách của Pháp ở Đông Dương. Sau đó, Qui Chế Tổng Quát về Giáo Dục Cao Đẳng ở Đông Dương (Règlement Général de l'Enseignement Supérieur en Indochine) được toàn quyền Đông Dương ban hành bằng nghị định ngày 25-12-1918.

           Theo Quy chế Tổng quát về Giáo dục Cao đẳng ở Đông Dương, hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam được điều chỉnh cho phù hợp với các mục đích cũng như tình hình thực tế, ở Việt Nam thường được gọi là Giáo dục Pháp-Việt. Đây là hệ thống giáo dục Pháp cho người bản xứ" (Enseignement Franco-Indigène). Trong nền giáo dục này tiếng Pháp được dùng để trao đổi trong lớp học (giảng bài, làm bài, sách giáo khoa viết bằng tiếng Pháp).  Riêng ba lớp đầu tiểu học là được dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, sau đó tiếng Việt chỉ được học như một ngoại ngữ. Ngoại ngữ thứ hai thường là tiếng Anh ở bậc Tú Tài. Chữ Hán được học như một môn học tự chọn, một tuần một giờ ở các lớp trên của bậc tiểu học nếu có thày dạy.

          Hệ thống giáo dục Pháp-Việt gồm 2 phần: giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp, đại học.

            Nhìn chung, hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt có 3 bậc với thời gian là 13 năm. Bậc Tiểu học có 6 năm bắt đầu từ lớp Đồng ấu (Cours Enfantin) và kết thúc ở lớp Nhất (Cours Supérieur). Bậc Cao đẳng Tiểu học (Primaire) gồm 4 năm, học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d'Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) còn gọi là bằng Thành chung. Sau khi có bằng Thành chung học sinh có thể dự thi vào bậc Trung học tức bậc Tú tài gồm chương trình Tú tài phần thứ nhất (học xong 2 năm đầu). Sau khi đỗ Tú tài phần một có thể học tiếp năm thứ ba để lấy bằng Tú tài. Năm thứ 3 có 2 ban: ban Triết và ban Toán.   

          Sau khi có Quy chế Tổng quy về học chính Đông Dương, từ năm 1920, nhiều trường học được thành lập ở Nam Định và giáo dục Pháp- Việt ở Nam Định phát triển nhanh và ổn định hơn.       

        Trường Tiểu học Xuân Trường, sau nhiểu năm chỉ dạy ở bậc sơ học thì đến năm 1924 được chuyển thành trường Tiểu học kiêm bị Xuân Trường với đầy đủ 6 lớp của bậc tiểu học: từ lớp Đồng ấu đến lớp Nhất. Cũng theo quy định của chương trình Học chính tổng quy, các trường tiểu học ở cấp xã cũng nhận cả học sinh nữ. Hai hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông Nguyễn Văn Ninh (từ năm 1924-1928) và ông Lê Thận (từ năm 1928- 1943). Cả hai vị hiệu trưởng này đều tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học và nổi tiếng về đức độ cũng như phương pháp dậy học.

         Năm 1922, trường Sơ học Hành Thiện được thành lập theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ký ngày 19-9-1922 theo đề nghị của Cụ Tổng đốc Đặng Đức Cường. Trường được xây dựng hoàn toàn bằng công quỹ của làng kể cả mua sắm trang thiết bị và trả lương cho giáo viên.

         Trường nữ Sơ học Xuân Trường được thành lập theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ngày 8-12-1924 từ đề nghị của cụ Tri phủ Xuân Trường Bùi Bằng Đoàn. Trường còn có tên là trường Henri Geshin, tên của Công sứ Nam Định. Tiền xây dựng và sắm trang thiết bị của trường do nhân dân địa phương đóng góp, lương của giáo viên lấy từ ngân sách Bắc Kỳ.

         Năm 1924, trường tư thục Saint Thomas được thành lập theo sáng kiến của Cha xứ địa phận giáo xứ Bùi Chu Munagori. Mục đích ban đầu là dạy chương trình Cao đẳng Tiểu học để đào tạo giáo viên dạy cho các trường công giáo. Vì vậy còn gọi là trường tư thục sư phạm Saint Thomas. Trường được đặt ở gần trung tâm thành phố Nam Định.  Kinh phí xây dựng trường cũng như học bổng và chi phí cho học sinh theo học lấy từ sự quyên góp của các giáo xứ ttrong vùng. Điều kiện là sau khi học xong, các giáo viên này phải dậy 10 năm cho các trường công giáo. Đến năm 1931, trường bắt đầu thu nhận cả học trò bên lương.

              Năm 1932, cả Nam Định có 5 trường Kiêm bị Tiểu học Pháp- Việt:

            - Trường Cửa Bắc có 19 lớp, 836 học sinh, nay là phố Cửa Bắc)

            -Trường Henri Geshin (còn gọi là trường Vườn Dâu, có 6 lớp, 259 học sinh, nay ở đường Vị Xuyên.)

            - Trường Maurice Graffeuil (còn gọi là trường Bến Củi, có 9 lớp 414 học sinh; nay ở phố Bến Ngự)

             - Trường Con gái (có 9 lớp, 335 học sinh, ở khu vực nay là đường Trần Quốc Toản)

              - Trường Brière de L’ Jsle (còn gọi là trường Gốc Ngải, có 6 lớp, 279 học sinh,khu vực nay là phố Phạm Hồng Thái)

             Thời gian này, thành phố Nam Định đã có một số trường bậc tiểu học như Trung Trí, Tri Nam Khê, Minh Tân, Hồng Đức, Huệ Đức...

              Đến năm 1938, Nam Định đã có một số trường tư thục bậc Cao đẳng tiểu học (tương đương cấp II) như các trường: L Avenir, Charlemagne, Collêgium Paul Doumer. Các trường công, tư này tồn tại cho đến năm 1945.

             Trường Thành chung Nam Định được thành lập theo Nghị định ngày 27-4 -1904 của toàn quyền Đông Dương là Jean Baptiste Paul Beau có tên là trường Jules Ferry Nam Định (Collège Jules Ferry). Trường hoạt động được 4 năm thì ngày 9-12-1908, Toàn quyền Đông Dương A. Klobukowski ký Nghị định hợp nhất 2 trường: Trường Thông ngôn Hà Nội (được thành lập từ năm 1886, đến năm 1904 trường đổi tên là trường Thành chung Hà Nội (Ecole Complémentaire de Hanoi) và trường Julies Ferry Nam Định thành trường Trung học Bảo hộ Hà Nội (Collège du Protectorat Ha Noi). Học sinh học trường Thành chung Nam Định từ năm 1908 phải lên Hà Nội học. Trường Thành chung Nam Định cũng như sau này là trường Trung học Bảo hộ từ khi thành lập đến niên học 1924-1925 chỉ dạy 2 bậc học là Tiểu học (Petit Collège) và Cao đẳng tiểu học (Grand Collège). Bậc tiểu học học 4 năm và bậc Cao đẳng tiểu học 5 năm.  Từ năm 1918, bậc cao đẳng tiểu học chỉ còn học 4 năm.

             Năm 1920, Toàn quyền Đông Dương Maurice Long ra Nghị định ngày 24-8-1920 tái lập trường Thành chung Nam Định lấy tên là Cours Complémentaire de Nam Định. ( Lớp thành chung Nam Định)[1]. Năm 1928, Trường Thành chung Nam Định được đổi thành trường Cao đẳng tiểu học Nam Định. (Ecole primaire supérieure de Nam Định).

           Trường Thành chung Nam Định học chương trình Cao đẳng tiểu học gồm 4 năm. Các môn học toán, lý, hóa, sinh, Pháp văn, lịch sử Pháp, lịch sử Việt Nam… đều học bằng tiếng Pháp, Quốc ngữ và Hán văn chỉ học mỗi tuần 1 giờ. Sau khi tốt nghiệp, học sinh có bằng Cao đẳng Tiếu học. Năm học 1922-1923, Học sinh học bậc Cao đẳng Tiểu học ở trường Thành chung Nam định là 80 học sinh, chiếm hơn 25% so với tổng số học sinh  Cao đẳng tiểu học trên toàn quốc.[2]

          Học phí để theo học trường Thành Chung mỗi tháng là 4 $, là khá cao so với thu nhập của đông đảo nhân dân, chưa kể lệ phí cho mỗi kỳ thi là 8$. Vì cả Nam Định chỉ có một trường Thành chung Nam Định đào tạo bậc Cao đẳng tiểu học, nên tất cả học sinh ở các phủ huyện, làng xã, sau khi tốt nghiệp tiểu học, muốn tiếp tục học lên đều phải lên Nam Định để học, hoặc sang các trường Thành chung Thái Bình, Thành chung Ninh Bình hoặc Hà Nội để học. Chi phí cho mỗi học sinh gồm cả tiền học và tiền sinh hoạt, thuê nhà trọ, mỗi tháng hết 12$. Số tiền chi cho mỗi một học sinh hàng năm bằng thu nhập từ hoa lợi hàng năm của 10 mẫu ta ruộng cho cấy rẽ. Nếu muốn tiếp tục theo học bậc Trung học, phải lên Hà Nội học thì chi phí cho mỗi học sinh 1 năm phải ngang với số thu nhập  hoa lợi của 20 mẫu ta cho cấy rẽ.[3]  Vì vậy khá nhiều học trò học giỏi nhưng gia đình không đủ điều kiện cho học lên đã phải rẽ ngang sang học các trường dạy nghề được cấp học bổng. Ví dụ như Đặng Xuân Đĩnh, con cụ Đặng Xuân Viện, cháu nội cụ nghè Đặng Xuân Bảng nhưng gia đình cũng không lo đủ kinh phí cho ông lên học ở trường Thành chung Nam Định, vì vậy, sau khi học xong tiểu học ở Xuân Trường, ông phải sang Hải Phòng học trường nghề, là trường có cấp học bổng cho học sinh[4].

         Khóa học đầu tiên của trường Thành chung Nam Định sau khi tái lập mới chỉ có một lớp với 45 học sinh và phải đi mượn một phòng học ở gần nhà Bưu điện hiện nay. Trong thời gian đầu, vì chưa có cơ sở cố định, trường phải chuyển địa điểm nhiều lần cùng với sự phát triển của trường. Năm học 1926-1927, trường có 7 lớp với gần 300 học sinh. Vì vậy lúc này Pháp đã cho xây dựng (tại khu vực nay là trường tiểu học Phạm Hồng Thái) hai dãy nhà, mỗi dãy có bốn lớp học bằng tường gạch, mái ngói. Sân trường rộng rãi có cây xanh. Năm 1937-1938, trường có địa điểm mới ở khu vực đầu đường Cổng Hậu hiện nay với các phòng học, phòng thí nghiệm khang trang cho khoảng 8 lớp học với 400 học sinh. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là Charles Patris, một Giáo sư văn học từng viết nhiều sách về Việt Nam. Ngay từ năm 1925, trường đã có nhiều giáo viên người Việt Nam như Trần Văn Hòa, Dương Quảng Hàm, Phan Thế Roanh, Ngô Duy Cừ, Đào Văn Định, Nguyễn Văn Chính, Vũ Tam Thám, Đỗ Hữu Phúc…

           Là trường Cao đẳng Tiểu học duy nhất của Nam Định trong những năm đầu thế kỷ XX, trường Thành chung Nam Định là một trung tâm đào tạo nhân tài. Nhiều trí thức lớn có nhiều đóng góp cho đất nước đã trưởng thành từ mái trường này như Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Nhà cách mạng Nguyễn Đức Cảnh, Đặng Châu Tuệ, Nguyễn Văn Hoan,  Nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, ), GS.TS Bác sĩ, anh hùng quân đội Phạm Gia Triệu, GS. Bác sĩ Nguyễn Sĩ Quốc, nhà văn Nam Cao, Trần Lê Văn, Đặng Thế Phong….

         Học trò trường Thành chung Nam Định cũng hăng hái tham gia vào các cuộc vận động yêu nước đầu thế kỷ XX. Năm 1925-1926, nhiều học sinh trường Thành Chung đã tham gia phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, bãi khóa đòi tổ chức Lễ truy điệu Phan Châu Trinh, nhiều người tích cực tham gia vào các phong trào yêu nước và các tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng cộng sản Việt Nam

 

Tài liệu tham khảo

- Bối cảnh xã hội dẫn đến sự ra đời của trường Thành Chung Nam Định năm 1920 http://thpt-lehongphong-nd.edu.vn/lich-su-truong-555/ky-1-bo%CC%81i-ca%CC%89nh-xa%CC%83-ho%CC%A3i-da%CC%83n-de%CC%81n-su%CC%A3-ra-do%CC%80i-cu%CC%89a-truo%CC%80ng-tha%CC%80nh-chung-nam-di%CC%A3nh-nam-1920-3334.html

- Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng, Tác giả tự xuất bản Melun. In tại Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chateau- 400 Liège- Belgique 

- Địa chí Nam Định (2002), NXB Chính trị quốc gia

-Nguyễn Anh (1967) “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến

chiến tranh thế giới lần thứ nhất”, T/C NCLS số 98

- Nguyễn Anh (1967) “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất đến cách mạng tháng Tám”, T/C NCLS số102

- Trần Thị Phương Hoa (1912), Giáo dục Pháp Việt ở Bắc Kỳ (1884-1945), NXB KHXH

-Trịnh Văn Thảo (1995), Trường học Pháp ở Đông Dương, bản dịch NXB Carthala, Paris

 

Từ khóa: Giáo dục Pháp- Việt



[1] Lớp thành chung  (Cours Complémentaire) hay trường Thành chung ( Ecole  complémentaire) đều dạy theo chương trình Cao đẳng tiểu học, chỉ khác nhau về quy mô, Trường thành chung mỗi năm tuyển 2 lớp đệ nhất ( khoảng 80 học sinh), còn Lớp Thành chung thường chỉ tuyển một lớp đệ nhất 40 học sinh. Theo ĐặngHữu Thụ, sdd

[2] Trịnh Văn Thảo (1995) Nhà trường Pháp ở Đông Dương, ( Bản dịch ), NXB Carthala, Paris, tr130

[3] Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng (Melun, tr192-193

[4] Đặng Xuân Đĩnh (2012) Thân thương cuộc đời , Ký, NXB Văn học 

* Bài đã được đăng trong  Địa chí Nam Định tập 2 ( 2025), NXB Hồng Đức



[1] Lớp thành chung  (Cours Complémentaire) hay trường Thành chung ( Ecole  complémentaire) đều dạy theo chương trình Cao đẳng tiểu học, chỉ khác nhau về quy mô, Trường thành chung mỗi năm tuyển 2 lớp đệ nhất ( khoảng 80 học sinh), còn Lớp Thành chung thường chỉ tuyển một lớp đệ nhất 40 học sinh. Theo ĐặngHữu Thụ, sdd

[2] Trịnh Văn Thảo (1995) Nhà trường Pháp ở Đông Dương, ( Bản dịch ), NXB Carthala, Paris, tr130

[3] Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng (Melun, tr192-193

[4] Đặng Xuân Đĩnh (2012) Thân thương cuộc đời , Ký, NXB Văn học

Đặng Xuân Bảng ( 1828-1910)

                                                                                                   Đặng Thị Vân Chi *

Đặng Xuân Bảng sinh năm 1828 (mất năm 1910)), tự là Hy Long, hiệu là Thiện Đình. Ông là người làng Hành Thiện, thuộc Tổng Hành Thiện, huyện Giao Thủy, Phủ Xuân Trường, nay là xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.


        Năm 1846, tại khoa thi Bính Ngọ ông đỗ tú tài khi mới 18 tuổi. Đến năm Mậu Thân (1848), ông đỗ Tú tài lần thứ 2 khi chưa đầy 20 tuổi. Năm 22 tuổi, tại khoa thi Canh Tuất (1850) ông đỗ Cử nhân. Sau khi đỗ Cử nhân, ông được bổ làm Giáo thụ Phủ Ninh Giang (Hải Dương). Vừa làm việc vừa học, đến năm 1856, tại khoa thi Bính Thìn ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuẩt thân (Tiến sĩ) khi mới 28 tuổi. Tại cuộc thi Hội này, khi nhà vua được biết ông là người chỉ học duy nhất một người thầy là cha mình, cụ Đặng Viết Hòe (người đã đậu cử nhân lần thứ 3 cũng trong khoa thi năm đó) mà đỗ Tiến sĩ, nhà vua đã tặng cho hai cha con ông 4 chữ “Giáo tử đăng khoa”. Ngay sau khi thi đỗ Tiến sĩ, năm 1857, ông được giao làm Bí thư văn phòng nội các, có nhiệm vụ hiệu đính bộ Khâm Định nhân sự kim giám. Trong thời gian này ông còn được bổ nhiệm làm quyền Tri phủ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1860, ông giữ chức Tri phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang. Năm 1861, ông về Huế giữ chức Giám sát Ngự sử.

Năm 1863 ông được thăng chức Chưởng ấn ở Lại khoa. Năm sau, năm 1864 ông nhận chức Án sát sứ Quảng Yên. Năm 1867, ông nhận chức Bố chánh tỉnh Thanh Hóa. Năm 1868 ông được bổ nhiệm Bố chánh Tuyên Quang. Năm 1870 ông lại được cử làm Bố chánh Thanh Hóa lần thứ hai. Không lâu sau, tháng 6 năm 1871, ông được điều về làm bố chánh sứ Hà Nội, rồi Bố chánh Sơn Tây trong một thời gian ngắn. Đến tháng 10 năm 1871 ông được thăng chức Tuần phủ Hưng Yên, và vào năm 1872 ông được giao làm Tuần phủ Hải Dương.

Tháng 3 năm 1874, khi Pháp đánh thành Hải Dương trong cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873-1874), dù ông đã hết sức đốc thúc quân đội chiến đấu, nhưng quân đội của ông không thể chống lại vũ khí và hỏa lực của Pháp, ông phải bỏ thành để bảo toàn lực lượng. Hải Dương và một số tỉnh thành ở Bắc Kỳ bị thất thủ, vua Tự Đức không thể trách ông về việc không cố sức giữ thành, nhưng ông có một phần trách nhiệm về việc để Hải Dương bị Pháp chiếm, nên tháng 6 năm 1874, ông phải trở về Huế để “hậu cứu”. Năm 1876 ông được cử đi Hưng Hóa khai hoang như một hình thức bị phạt vì để mất tỉnh thành Hải Dương ở khu vực Đồn Vàng. Ở Đồn Vàng được hơn 2 năm, năm 1879, ông xin về hưu để chăm sóc mẹ già yếu. Đến năm 1885, dưới triều vua Hàm Nghi, quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết đề nghị triệu ông vào Huế làm quan, ông lấy cớ già yếu, hay bệnh tật để từ chối. Đến năm 1886, dưới triều vua Đồng Khánh, ông được triều đình gọi lại làm việc. Lúc này quốc gia Đại Nam đã hoàn toàn rơi vào tay Pháp, ông không muốn hồi quan, nhưng vì nể Cao Xuân Dục là bạn thân đang làm Tổng Đốc Nam Định đề nghị, ông đành nhận chức Đốc học Nam Định. Nhưng chỉ 2 năm sau, đến năm 1888, khi vừa tròn 60 tuổi ông xin về nghỉ hưu tại quê nhà.

-                 Trong suốt gần 40 năm, từ khi ra làm quan năm 24 tuổi cho đến khi nghỉ hưu ở tuổi 60 (trong thời gian đó có 8 năm ông xin nghỉ hưu lần 1), dù ở cương vị nào, ông cũng thể hiện là một vị quan thanh liêm, thẳng thắn hết lòng vì nước, vì dân, đặt lợi ích của dân của nước lên trên hết. Ông luôn cố gắng làm sao cho người dân không bị phiền hà, sách nhiễu khi có việc ở cửa quan. Ông cũng chủ động phát thóc cho dân để cứu đói khi đê ở Hưng Yên bị vỡ lúc ông làm Tuần phủ Hưng Yên. Trong thời gian làm bố chánh các tỉnh Thanh Hóa, Tuyên Quang… ông nhiều lần đề nghị miễn thuế cho dân cũng như báo cáo về việc xét xử các quan lại tham ô, nhũng nhiễu dân chúng. Khi làm quan Giám sát Ngự sử ở Huế năm 1863, ông đã có lời can gián vua không nên phái Phan Thanh Giản đem nhiều vàng bạc sang Pháp để chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, dù lời can gián của ông không được chấp nhận, nhưng cũng phản ánh khí phách và tinh thần trách nhiệm của một người làm quan trong triều đình trước vận mệnh đất nước. Cũng trong thời gian làm Giám sát Ngự sử ông đã ba lần dâng sớ đề nghị những việc có ý nghĩa đối với việc phú quốc, dân cường như: về tài chính thì không nên dùng hàng xa xỉ mua ở nước ngoài  mà khuyến khích sản xuất và dùng hàng trong nước, vừa tiết kiệm vừa kích thích sản xuất hàng hóa trong nước… Về dân chính thì cần tăng cường quản lý dân đinh, tránh được nạn tham nhũng của quan lại trong việc lạm thu cũng như biển thủ công quỹ trong việc thu thuế và sách nhiễu dân chúng…; Với việc quân sự, ông đề nghị tăng cường luyện tập cho binh lính, tránh tình trạng quan chức khai khống số binh lính để tham nhũng lương bổng chi cho quân lính. Ông cũng sớm đề nghị xây dựng lực lượng gồm quân chính quy và dân quân ở địa phương, chú ý tăng cường về hậu cần và trang bị vũ khí, sao cho đất nước có một đội quân mạnh, đủ sức bảo vệ độc lập dân tộc. Là một quan văn, nhưng khi được giao giữ chức Án sát sứ Quảng Yên (1864) và Bố chánh Tuyên Quang (1868) ông đã tìm hiểu đọc binh pháp để làm tròn trọng trách cầm quân tiễu trừ giặc cướp, mang lại bình yên cho dân… Tháng 11 năm 1870, ông được vua Tự Đức phong làm Quang Lộc tự khanh tuyên dương công trạng chống cướp phỉ ở Tuyên Quang. Khi làm tuần phủ Hải Dương, năm 1872 trước việc Jean Dupuis đòi mở cửa sông Hồng để buôn bán, ông đã đề nghị vua Tự Đức mở cửa thông thương, lập hội buôn ở khu vực cửa Cấm, kêu gọi các nước đến buôn bán với chủ đích “tự mình phát thư thì mình làm chủ”, nhưng tiếc là đã không được vua Tự Đức chấp nhận. Về việc để mất thành Hải Dương vào tay Pháp tháng 3 năm 1874, ông bộc bạch: “Kẻ hạ thần xin thề trước Hoàng thượng rằng: Hạ thần và con cháu không bao giờ chịu đầu hàng giặc Tây. Muốn đánh Tây và chống ngoại xâm, thì xin củng cố quân ngũ, luyện tập thường xuyên, chuẩn bị quân lương vũ khí cho tót, dựa vào thế dân. Có thế thì mới mong đánh thắng giặc được”. Tại những địa phương ông nhậm chức, bên cạnh việc quan, ông dành nhiều thời gian quan sát, để ý tìm hiểu phong tục, tập quán, cuộc sống của người dân, đọc sách và nghiên cứu. Đến đời Thành Thái, năm 1888, ông xin được nghỉ hưu tại quê nhà.

-                 Ông là người ham học hỏi, đọc nhiều, học rộng, ham thích nghiên cứu nên mặc dù về quê nhà nghỉ hưu, không còn làm việc quan nữa, nhưng ông vẫn cống hiến cho quê hương đất nước bằng việc đào tạo nhân tài, nâng cao dân trí qua việc mở lớp dạy học. Trường học của ông thu hút nhiều học trò từ các tỉnh xa đến theo học. Theo thống kê, có tới trên một nghìn học sinh đến học ông, có nhiều học trò đỗ tú tài và cử nhân, có người đỗ thủ khoa. Ngoài dậy học ông còn sưu tầm, mua rất nhiều sách và lập một tủ sách lớn, tủ sách Hy Long, gồm nhiều sách vở quý, kể cả các sách khoa học của phương Tây. Ông cho rằng: “Người Pháp sang xâm chiếm nước ta, là kẻ thù của ta, nhưng ta nên tìm sách của họ mà đọc để học lấy điều hay của họ. Không nhưng thế, cũng cần tìm đọc những sách của các nước Thái Tây khác”. Vì vậy tủ sách Hy Long của ông được đánh giá là tủ sách lớn nhất Bắc kỳ. Cùng với ngôi nhà 5 gian dùng cho việc lưu giữ sách, ông còn tổ chức nhiều buổi thuyết trình không chỉ về các vấn đề của cuộc sống làng xã như vấn đề hôn thú, tế tự, yến lão, khao vọng, đương tuần, hương ước… mà còn bàn cả những vấn đề về thương mại, công nghệ… học hỏi từ kinh nghiệm và kiến thức của các nước phương Tây. Nội dung các buổi thuyết trình đều hướng tới sự đổi mới, tiết kiệm, khoa học, vì vậy thu hút được nhiều trí thức nho học và môn sinh tới dự. Bên cạnh việc sưu tầm sách vở, ông còn cho nhân bản, tự biên soạn sách và cho khắc gỗ xuất bản.... Vì vậy, tủ sách Hy Long và ngôi nhà của ông có thể coi là một thư viện, một trung tâm hội tụ và lan tỏa tri thức lớn trong vùng.

         Ngoài việc dậy học, xây dựng tủ sách, trong thời gian nghỉ hưu, do có kiến thức về địa lý và thủy văn, ông đứng ra tập hợp người thân và dân làng đi khai hoang vùng bãi bồi vùng Tiền Hải (Thái Bình) và Giao Thủy (Nam Định) Hàng trăm mẫu đất được thuần hóa và trở thành những làng ấp mới cho dân đến sinh sống. Sau mấy chục năm làm quan thanh liêm, khi về già, ông xin được tự khẩn hoang đất bãi bồi ven sông Hồng khu vực thuộc xã Văn Lâm, huyện Vũ Tiên, nay là thôn Tả Hành, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình để lấy đất đai cho con cháu sinh sống.

       Cả một đời học hỏi, nghiên cứu không ngừng nghỉ, di sản các trước tác của ông để lại khá đồ sộ gồm nhiều lĩnh vực: Sử học, Triết học, Văn học, Ngôn ngữ học, Địa lý học, Khu vực học, Giáo dục học, Thực vật học, Y học… Có thể kể:

       Về sử họcSử học bị khảo, Việt sử cương mục tiết yếu, Việt sử chính biên tiết yếu, Độc sử bị khảo, Bắc sử thông giám tập lãm tiện độc sử, Nam sử tiện lãm, Thánh tổ hành thực diễn ca (1898).

      Về văn học có các tác phẩm Thiện Đình khiêm trai văn tập, Khâm định tập vận trích yếu, Như Tuyên thi tập (1868), Tiên nghiêm Hội Đình thi văn,  Đối trướng tạp sao… Ngoài những tác phẩm văn học kể trên hiện còn được lưu giữ trong thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gia đình còn sưu tầm thêm được 57 bài thơ , phú Hán Nôm khác đăng trong Tuyển tập thơ Đặng Xuấn Bảng (1828-1910).

      Về giáo dục học Cổ nhân ngôn hạnh lục, Cư gia khuyến giới tắc, Huấn tục quốc âm ca, Cổ huấn nữ ca, Cổ kim thiện ác kinh.

     Về Khu vực học Tuyên Quang tỉnh Phú, Nam phương danh vật bị khảo, Nam quốc địa dư

      Ngoài 20 tác phẩm còn được lưu giữ, trong kho tàng sách Hán Nôm còn ghi nhận tác phẩm Nhị Độ Mai truyện là tác phẩm Đặng Xuân Bảng dịch và cuốn Khâm Định Nhân sự kim giám (hay còn có tên là Nhân sự kim giám) là công trình tập thể có sự đóng góp của Đặng Xuân Bẳng trong phần biên soạn và hiệu đính.

       Nổi bật nhất trong các tác phẩm của ông để lại là những tác phẩm thuộc lĩnh vực sử học và giáo dục học, hai lĩnh vực được các nhà nghiên cứu nhất trí cho rằng có nhiều đóng góp mới và có nhiều giá trị hữu ích cho đến tận ngày nay. Đặc biệt trong lĩnh vực sử học, hai tác phẩm sử học tiêu biểu của ông là Sử học bị khảoViệt sử cương mục tiết yếu.

        Sử học bị khảo, có nghĩa là khảo cứu bổ sung toàn diện cho sử học. Trong công trình này, ông đã khảo cứu kỹ lưỡng về địa lý, thiên văn, quan chế để làm rõ nhiều vấn đề trong sử học dưới cách tiếp cận liên ngành, vì thế nhận thức lịch sử trở nên toàn diện hơn. Ở mỗi mục, ông đều tìm hiểu kỹ các sách của Trung Quốc, so sánh đối chiếu, vận dụng vào Việt Nam để làm rõ hơn những chỗ chưa rõ, chưa chính xác trong các sách sử thời trước. Đóng góp của ông trong bộ sách này được ông thể hiện trong phần lời dẫn ở mục Địa lý khảo; “Về các châu huyện ở nước ta, tên có thay đổi khác nhau, đất cũng có sự hợp phân khác nhau… các sử gia Nam Bắc (Việt Nam và Trung Quốc) ghi chép không giống nhau, Thế đại lâu xa, cố nhiên không thể hiện rõ được hết. Song châu, huyện, đời… tuy có sự thay đổi, còn núi sông, đường sá phần lớn vẫn y nguyên. Nhân mạch núi sông mà xét đường sá xa gần, từ đó truy tìm châu huyện cổ nhân, như thế thì cũng có thể biết được một số. Nay bằng vào các điều chép trong sử sách, các điều nào có thể biết được thì hãy phụ chép lời bàn. Còn các điều mà không thể biết được thì hãy đợi sự bổ khuyết của các bác nhã sau này”.  

       Cuốn Việt sử cương mục tiết yếu được đánh giá là cuốn sử tiêu biểu nhất trong những cuốn sử cùng thời vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây là bộ sử được hoàn thành vào năm 1905, gồm 8 quyển, trình bày toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước đến hết nhà Tây Sơn. Về cơ bản Việt sử cương mục tiết yếu được biên soạn chủ yếu dựa trên khung biên niên sự kiện lịch sử của bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục biên soạn dưới thời Tự Đức, nhưng được bổ sung cho đầy đủ, chú giải cặn kẽ theo quan điểm của tác giả. Đóng góp của ông trong bộ sách này được thể hiện qua phần bình ngắn gọn, súc tích trên cơ sở phê bình, khảo cứu, so sánh, đối chiếu với nhiều nguồn tư liệu khác từ tên đất, tên người, các sự kiện, các khái niệm về điển chế, văn hóa… đã góp phần bổ sung thêm sự hiểu biết, đính chính những nhầm lẫn và thiếu sót của các tác giả đi trước trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục. 

       Nhìn chung lại có thể nói, về mặt sử học, Đặng Xuân Bảng đã vượt lên trên các nhà sử học cùng thời.  Bên cạnh thái độ khách quan, tôn trọng sự thật, khảo cứu đến ngọn nguồn các chứng cứ lịch sử, đối chiếu với nhiều nguồn tài liệu khác nhau, các tác phẩm sử học của ông được trình bày với một phương pháp hiện đại, tiếp cận hệ thống và liên ngành, đã đem lại nhiều nhận thức mới về lịch sử thể hiện tính khách quan, khoa học, và toàn diện. Đặng Xuân Bảng “là một nhà Sử học có phương pháp gần với Phương Tây hiện đại”, và ông thực sự “là một nhà Sử học đi trước thời đại”[1].                        

         Mảng đóng góp nổi bật thứ hai trong các tác phẩm của của Đặng Xuân Bảng là các công trình về giáo dục học, đặc biệt là giáo dục đạo đức. Từ những bài học đạo đức của các bậc đế vương (trong Khâm định nhân sự kim giám) đến các thành phần dân cư trong xã hội (Huấn tục quốc âm ca), các thành viên trong gia đình (Cổ nhân ngôn hạnh lục, Cư gia khuyến giới tắc, Huấn nữ ca), các bài học của ông đều tập trung đề cao việc tu dưỡng và thực hành đạo đức theo tinh thần Nho giáo, đức từ bi nhân ái của đạo Phật, (đặc biệt trong những lời dạy dành cho phụ nữ), chú trọng việc củng cố gia đình, dòng họ cũng như đề cao tinh thần cộng đồng, xây dựng một môi trường sống nhân ái hòa thuận

          Có thể nói, các tác phẩm về giáo dục gia đình của Đặng Xuân Bảng luôn thấm đẫm giá trị nhân bản, tinh thần thân dân và có tính khoa học cao và những bài học này, theo triết lý giáo dục được đề cao hiện nay, lấy con người làm trung tâm, giáo dục nhân cách là những mục tiêu cốt lõi trong giáo dục hiện đại thì những tác phẩm về giáo dục của Đặng Xuân Bảng vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn.

           Ngoài lĩnh vực sử học và giáo dục học, cuốn Tuyên Quang tỉnh phú của ông cũng được đánh giá là một công trình nghiên cứu địa phương xuất sắc và được dịch sang tiếng Pháp[2].

           Ngoài ra cũng cần nhắc đến các tác phẩm khảo cứu và đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp cũng như khảo cứu về học thuật của Đặng Xuân Bảng. Từ rất sớm, ngay từ năm 1897 đã có cuốn Hành Thiện Đặng công hành trạng của Nguyễn Xuân Chức biên soạn, Hy Long di thặng của Đặng Nguyên Khu (Đặng Xuân Viện) xuất bản năm 1929, Nhà sử học Đặng Xuân Bảng và bộ Việt sử cương mục tiết yếu của Hoàng Văn Lâu, xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2000, Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng Việt sử cương mục tiết yếu, trên tạp chí Dân tộc và Thời đại số 69 năm 2004 của Nguyễn Hữu Dư…Đặc biệt năm 2010, kỷ niệm 100 năm ngày mất của TS Đặng Xuân Bảng, Hội Sử học Hà Nội đã tổ chức cuộc hội thảo: Đặng Xuân Bảng (1828-1910): Con người và sự nghiệp, tập hợp nhiều nhà khoa học nghiên cứu về cuộc đời và những công trình khoa học của ông. Các bài viết đã được tập hợp trong cuốn Kỷ yếu hội thảo. Ngoài các công trình kể trên, Đặng Xuân Bảng còn được ghi nhận như một tác gia tiêu biểu trong nhiều cuốn sách về các tác gia Việt Nam…

         Hiện nay ở huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định có ngã ba Xuân Bảng; các thành phố Nam Định, Đà Nẵng và Thủ đô Hà Nội đều có đường phố mang tên Đặng Xuân Bảng /’ư để tưởng nhớ và vinh danh Ông - Một nhà Bác học, nhà Sử học, nhà Giáo dục học; một Trí thức mẫu mực; một vị Quan thanh liêm trọn đời yêu nước, thương dân.

(  Bản thảo hoan thành tháng 10-2023, hoàn thiện tháng 5-2024)

Tài liệu tham khảo:

- Đại Nam thực lục chính biên, (2007-2008) tập 7 và 8, NXB giáo dục

- Đặng Xuân Bảng (1997), Sử học bị khảo, Viện Sử học - NXB Văn hóa thông tin.

- Đặng Xuân Bảng (2000), Việt sử cương mục tiết yếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

- Hội sử học Hà Nội (2010), Đặng Xuân Bảng (1828-1910) Con người và sự nghiệp, Hà  Nội.

- Tư liệu gia đình cung cấp

Từ khóa: Đặng Xuân Bảng



[1] Các nhận xét của GS Hà Văn Tấn và GS Nguyễn Quang Ngọc

[2] Đại tá Bonifacy dịch ra tiếng Pháp, nhan đề: La province de Tuyen Quang, composition littéraire de M. Đặng Xuân Bảng traduite et annotée par M. le colonel Bonifacy”. Viên đại tá này sau khi đọc cuốn sách của cụ đã phải thốt lên rằng: Từ sau khi đọc cuốn sách này tôi đã không dám coi thường các quan lại An Nam nữa.”

*. Bài đã đăng trong  :

1. Nhà báo Quốc Phong ( chủ biên) ( 2024)" Hành Thiện ngôi làng hình cá chép- Lịch sử và huyền thoại", tập 2, NXB Thanh niên, tr 28-37)

2. Địa chí Nam Định, tập 5 Nhân vật chí (,có chỉnh sửa.  ) ( 2025),  NXB Hồng Đức, tr 313-319)

GIÁO DỤC PHÁP-- VIỆT Ở NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX. *

                                                                                                         Đặng Thị Vân Chi                   ...