Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

NHÌN NHẬN TRƯƠNG VĨNH KÝ THẾ NÀO CHO ĐÚNG? *

                                            Hoàng Văn Lân và Đặng Huy Vận

 

I. Quan điểm xét vấn đề

Bước vào nửa sau thế kỷ XIX, với sự thiết lập vương triều Nguyễn Phúc, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Việt Nam ngày càng trầm trọng. Hơn 500 cuộc khởi nghĩa nông dân từ 1802 đến 1884 đã chứng minh điều đó. Chính vào giữa lúc ấy thì ngày 1-9-1858 thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược đất nước ta. Thế là từ đó, bên cạnh mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc cũng bắt đầu diễn ra ngày một kịch liệt giữa chủ nghĩa thực dân xâm lược Pháp với toàn thể dân tộc Việt Nam. Xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trường kỳ và quyết liệt chưa từng có. Trong tình thế đó, lịch sử cận đại Việt Nam đã xảy ra nhiều hiện tượng, nhiều vấn đề, nhiều nhân vật cần được nghiên cứu và đánh giá đúng với thực tiễn xã hội Việt Nam ở nửa sau thế kỷ XIX. Trương Vĩnh Ký là một nhân vật lịch sử đã sống và hoạt động suốt thời gian lịch sử này. Sự nhìn nhận tính chất phức tạp của giai đoạn lịch sử ấy như thế nào chính là một trong những nguyên nhân khác nhau về việc đánh giá Trương Vĩnh Ký. Theo sự tìm tòi chưa đầy đủ của chúng tôi thì trong một thời gian khá dài, ngay từ khi còn sống cũng như sau khi đã chết, đã có hơn hai chục người trong hàng ngũ thực dân, từ Tổng sứ Pôn-be (P.Bert), cố đạo Xi-ê-phe (Penfee Siefert), Thống đốc Nam Kỳ Pi-ca-nông (Picanon) đến sử gia Bu-sô (Bouchot), v.v. và gần năm chục tác phẩm lớn nhỏ của hơn ba mươi người Việt bình phẩm, nghiên cứu và đánh giá về Trương Vĩnh Ký. Sự đánh giá khác nhau của họ chính là sự phản ánh lập trường, quan điểm của họ đối với thực tiễn đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong hơn năm mươi năm đầu của lịch sử cận đại Việt Nam. Điều đáng chú ý trước tiên là, những kẻ trong hàng ngũ thực dân, dù đánh giá khác nhau, kẻ chê, người khen, nhưng đều thống nhất quan điểm về nhân vật Trương Vĩnh Ký. Tất cả trong số họ đều nhìn nhận nhân vật lịch sử này bằng một cặp kính duy nhất: Trương Vĩnh Ký đã làm gì về chính trị và văn hóa cho chủ nghĩa thực dân Pháp trong những ngày chúng đang rất khó khăn để xâm lược rồi “bình định” đất nước ta. Còn các học giả Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám thì lại nhìn nhận Trương theo quan điểm siêu giai cấp và siêu lịch sử, nói khác đi là tách Trương Vĩnh Ký ra khỏi tình thế xã hội và giai đoạn lịch sử mà Trương đã sống và hoạt động để khảo cứu cuộc đời của Trương. Trên cơ sở đó, họ đào bới vào những cái gọi là “một nhà nho thức thời”[2] “tân đạo đức văn chương gia”[3], bày tỏ tình “Pháp - Việt nhất gia”[4], “khuyên đừng bạo động”[5],   xung quanh Trương Vĩnh Ký, để rồi đi tới những kết luận theo kiểu “Trương tiên sinh không còn là của một quốc gia nữa”, “người đã khởi động một cuộc cách mạng học vấn”, “một nhà bác học đặt vào hạng toàn cầu bác học thập bát quân tử”[6], “người tiền bối sáng suốt”[7],… Nhưng quan điểm siêu giai cấp và siêu lịch sử của họ chỉ chứng minh họ đã đứng trên lập trường chính trị và tư tưởng, văn hóa phong kiến, tư sản hay tiểu tư sản để nhìn nhận Trương Vĩnh Ký và ít nhiều đã cố tình dựa vào uy thế tinh thần và xã hội của Trương để nhìn nhận Trương Vĩnh Ký, để tìm kiếm trong cuộc đời của nhà “thông thái” này những chỗ phù hợp với thế đứng của mình trong xã hội Việt Nam trước 1945. Hơn nữa, trong chừng mực nhất định nào đó, sự nhìn nhận ấy của họ cũng phản ánh mối liên hệ phần nào về kinh tế, chính trị, tư tưởng và văn hóa, giáo dục của họ với chủ nghĩa tư bản Pháp dưới hình thái thuộc địa. Trong một thời gian khá dài từ sau khi thực dân Pháp đã tổ chức được nền thống trị ở Nam Kỳ, Trung Kỳ, rồi Bắc Kỳ và nhất là từ 1908 khi Trương Vĩnh Ký được xây dựng tượng đá ở Sài Gòn thì với uy thế “vào hạng toàn cầu bác học thập bát quân tử” của mình, Trương đã được toàn thể giới “có thế lực” và giới “những người có học vấn” trong xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc ngưỡng mộ thực sự. Mặt khác, trong tình thế bị mất nước, mọi khả năng và trí tuệ của người Việt Nam bị chế độ thực dân kìm hãm làm thui chột, văn hóa khoa học Việt Nam nằm trong tình trạng thấp thỏm, óc tự ty dân tộc có điều kiện nảy nở và khuyến khích phát triển thì 118 tác phẩm lớn nhỏ, sự thông thạo hàng hơn hai chục tiếng nước ngoài, nhất là mối liên hệ xã hội lại cũng không phải tầm thường (từ vua, đại thần, toàn quyền, thống đốc, tướng lĩnh, cho đến cả giáo hoàng và các hàng giáo phẩm Gia Tô giáo, các nhà bác học Thái Tây,…) của Trương Vĩnh Ký đã làm cho sự ngưỡng mộ ấy từ “các giới thượng lưu trong xã hội An Nam” mà thấm vào các tầng lớp tiểu tư sản trong phạm vi không nhỏ. Thậm chí, uy thế tinh thần và xã hội của Trương còn làm cho người ta ngợp tới mức không còn kịp phản biện mục tiêu cũng như nội dung của mọi hoạt động trong suốt nửa thế kỷ thực dân Pháp xâm lược và bình định đất nước Việt Nam của vị “tiên sinh không còn là của một quốc gia nào nữa”. Chính vì thế, cuộc trao đổi về sự nhìn nhận nhân vật Trương Vĩnh Ký mà Viện Sử học đề ra đã có ý nghĩa không chỉ đối với những người quan tâm đến lịch sử nước nhà trong suốt nửa sau thế kỷ XIX, hơn nữa còn có ý nghĩa đối với những người đã, đang và sẽ có dịp nghe biết đến những tên tuổi Trương Vĩnh Ký ở Nam cũng như ở Bắc đất nước ta. Mọi người sẽ có thể tự rút ra bài học lịch sử bổ ích về trách nhiệm lịch sử của con người trong mọi hoạt động chính trị, văn hóa trong quá khứ cũng như hiện tại. Trên cơ sở những điều đã trình bày trên, chúng tôi cho rằng muốn nhìn nhận đúng nhân vật lịch sử Trương Vĩnh Ký thì cần phải có:

- Một là không thể tách rời mọi hoạt động trong cuộc đời của Trương với toàn bộ đường lối chính sách quân sự, chính trị và văn hóa tư tưởng giáo dục của chủ nghĩa thực dân (mà Trương đã chứng kiến và tham gia) trong thời kỳ chúng xâm lược và bình định Việt Nam, nghĩa là thời kỳ mà mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc của xã hội ta đang ngày càng trở nên quyết liệt về mọi mặt. Trên cơ sở đó, mới có thể thấy rõ được Trương Vĩnh Ký đã đứng trên lập trường nào, quan điểm nào để sống và hoạt động cũng như thấy rõ lý tưởng và và nội dung hoạt động suốt đời của Trương.

- Hai là, không thể tách rời các hoạt động chính trị của Trương với các hoạt động văn hóa của Trương trong giai đoạn lịch sử phức tạp và toàn diện của 50 năm đầu của lịch sử cận đại. Bởi vì, như chúng ta sẽ thấy ở phần thứ ba, suốt đời mình Trương Vĩnh Ký có khi nặng về chính trị hay văn hóa, giáo dục, thậm chí có khi bế tắc vì thấy nhiều người ganh ghét tôi một cách xấu xa”[8] nữa, nhưng mục tiêu trọn đời của Trương vẫn nhất quán. Hoạt động văn hóa, giáo dục của “Trương tiên sinh” chỉ là phương tiện, phương pháp thực hiện mục tiêu chính trị.

- Ba là, không thể lầm lẫn hay đánh tráo ranh giới giữa nội dung và hậu quả trực tiếp của những hoạt động văn hóa của Trương Vĩnh Ký đối với chủ nghĩa thực dân Pháp trong thời kỳ xâm lược và bình định với hậu quả khách quan nằm hẳn ngoài mục tiêu của bản thân Trương Vĩnh Ký cũng như mọi trù tính của chủ nghĩa thực dân Pháp. Bởi vì đó chính là hai loại vấn đề mà tính chất khác hẳn nhau, hơn nữa, đó là mâu thuẫn nằm ngay trong bản thân chế độ tư bản được biểu hiện ra ở phương diện văn hóa, khoa học.

  1. II. Về mối  liên hệ đồng hóa giữa Trương Vĩnh Ký với chủ nghĩa thực dân Pháp

Từ thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản phương Tây chính thức xuất hiện thì những cuộc xâm lược thuộc địa được mệnh danh là “các nguồn hàng không bao giờ cạn[9] ở phương Đông cũng bắt đầu. Trong quá trình này, hai thế lực tôn giáo và tư bản gắn liền với nhau như hình với bóng theo thứ tự giáo sĩ, hàng hóa, chiến thuyền.

Trương Vĩnh Ký đã sinh ra trong điều kiện lịch sử bên ngoài và bên trong như thế trong một gia đình quan lại Gia Tô hóa. Mối liên hệ đồng hóa giữa Trương với chủ nghĩa thực dân trong nửa sau thế kỷ XIX cũng bắt đầu với điều kiện lịch sử như thế. Cho nên để có thể nhìn đúng nhân vật lịch sử này, trước hết ở phần thứ hai này, chúng ta cần theo dõi từng bước mối liên hệ đó.

Thoạt đầu, với tư cách là con một gia đình quan lại Gia Tô hóa, mới 5 tuổi, sau một thời gian rất ngắn học chữ Hán, Trương đã bắt đầu liên hệ với thế lực tôn giáo của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng nếu mối liên hệ trọn đời của Trương Vĩnh Ký với chủ nghĩa thực dân vốn đã bắt đầu từ lúc Trương còn để chỏm thì phải chờ tới Tổng chủng viện Pi-năng, mối liên hệ mới được phát triển và củng cố, trước khi mối liên hệ đồng hóa của Trương với chủ nghĩa thực dân chính thức bắt đầu từ 1860. Điều đáng cho chúng ta chú ý là Trương được đem vào Tổng chủng viện Pi-năng đào tạo sau khi Tổng chủng viện này có “những cải cách quan trọng trong sự giáo dục”[10] nhằm đáp ứng đòi hỏi của giai đoạn mới đó, thể hiện ở hai mặt sau đây: Một là, đào tạo trực tiếp các mục sư từ các con chiên ở các nước Đông Nam Á, trang bị cho họ những kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội - vốn từ lâu là độc quyền của các giáo sĩ Tây phương - để mở rộng mạng lưới mục sư trong người bản xứ rồi đây sẽ phải đảm đương trực tiếp nhiệm vụ phát huy thế lực tôn giáo của chủ nghĩa thực dân thông qua việc “chăn dắt” các con chiên bản xứ. Đồng thời chúng còn nhằm chuẩn bị cho việc tổ chức các khu vực dưới sự khống chế của Va-ti-căng thành một hệ thống chặt chẽ trong đó các giáo sĩ Pháp vì số lượng ít và vốn cách biệt về ngôn ngữ nên từ đây họ sẽ đóng vai trò chỉ huy vì họ không cần, hơn nữa không thể đảm đương được hết việc phần đời đối với sự xâm nhập của các đoàn quân chiếm đóng” đang rình rập ngoài biển khơi Đông Nam Á. Mấy năm sau, Tổng chủng viện Pi-năng lại tiến hành một cuộc cải cách thứ hai nhằm hoàn bị thêm cuộc cải cách thứ nhất. Các mục sư tương lai người bản xứ sẽ được đào tạo thêm về khoa học tự nhiên như vật lý học, nghề đạc điền, nghề đồ họa, nghề in,… và đặc biệt “là chữ Hán lúc bấy giờ rất cần thiết cho các mục sư ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Hoa”[11]. Rõ ràng là ngoài nhiệm vụ về phần hồn, “những cuộc cải cách quan trọng về giáo dục” nói trên chỉ là với mục đích mở rộng hàng ngũ các mục sư bản xứ. Hơn nữa - đây mới là điều cốt yếu - là trao cho họ những điều kiện rất đầy đủ để đảm đương được các chức năng “phần đời” cần thiết trước và sau khi tiếng súng của các “hạm đội viễn chinh” bắt đầu nổ rền ở quê hương xứ sở của họ.

“Sự hiểu biết đầy đủ về văn minh Pháp” và việc “tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng để trở thành người Pháp thực sự”[12] của Trương Vĩnh Ký đã trải qua một quá trình đào tạo, liên hệ như thế đó. Hơn nữa, Trương đã tỏ ra “có khả năng thu nhận khác thường” hệ thống tư tưởng và các tri thức khoa học tự nhiên và xã hội của Tổng chủng viện Pi-năng đến nỗi, ngay cả các nhân vật tiếng tăm đương thời của nước Pháp tư bản chủ nghĩa cũng phải ngạc nhiên và khen ngợi cả về “sự hết lòng phò tá Pháp quốc và thuộc địa”[13] và cả về “học vấn uyên bác” của Trương chính ngay ở thời kỳ mà nền thống trị thực dân đang bị phong trào đấu tranh dân tộc bủa vây từ Nam chí Bắc.

Điểm nổi bật nhất trong cuộc đời Trương Vĩnh Ký là tuy gắn bó với chủ nghĩa tư bản Pháp từ thế lực tôn giáo ngay từ khi đầu còn để chỏm, nhưng trọn đời vị giám mục mang tên thánh của Va-ti-căng ấy lại chỉ hoạt động ở “phần đời” và hoàn toàn gắn bó với chủ nghĩa thực dân Pháp về mặt chính trị mà thôi. Mà chính đám học giả thực dân trước đây chẳng đã coi tư cách tín đồ Gia Tô giáo của Trương cũng chỉ là “danh nghĩa” đó sao?

Tháng 2 năm 1859 rồi tháng 3 năm 1860, quân xâm lược Pháp tấn công Gia Định. Lập tức, do giám mục Lơ-phép-bơ-rơ chỉ định, Trương trở thành thông ngôn của bộ chỉ huy “đoàn quân chiếm đóng” ở Gia Định trực tiếp với tên tư lệnh Giô-rê-ghi-be-ry (Jaureguiberry). Từ đó, Trương trở thành “người phò tá có giá trị đặc biệt của chiến dịch đặt cơ sở” (champagne d’installation)[14] của đoàn quân chiếm đóng. "Hai mươi sáu năm sau (1886), bản thân Trương cũng đã tuyên bố rõ ràng như thế: “Tôi rất vinh dự nhận tấm long bội tinh của nước Pháp, nước Pháp mà tôi đã không ngừng phụng sự từ năm 1860”[15]. Sau 38 tháng mẫn cán, tháng 6 năm 1863, bộ chỉ huy “đoàn quân chiếm đóng điều động Trương vào phái bộ “chuộc đất” Phan Thanh Giàn để nắm tình hình với chức vị Thông ngôn. Bạn đồng hành của Trương là Tôn Thọ Tường, một nho sĩ biến tiết theo kiểu “Thà mất lòng anh đặng bụng chồng”. Tới Pháp, Trương đã liên hệ chặt chẽ với các nhân vật cao cấp của chính giới tư bản Pháp từ đám thực dân hiếu chiến của cái Đệ nhị Đế chế Pháp đang hùa nhau phá chuyện “chuộc đất”, “chuộc tội” của triều đình Huế với mưu đồ “cả một đế quốc rộng lớn mà ta cần sáng lập”[16] và “chúng ta không gặp khó khăn gì cả”[17] cho đến “các nhà bác học Thái Tây”, trong số này có cả Pôn-Be, kẻ mà 23 năm sau sẽ lại gặp Trương ở Việt Nam để “áp dụng những phương pháp của khoa học thực nghiệm vào việc tuyển lựa những kẻ tòng sự”[18]. Đến lúc trở về nước, mối liên hệ giữa Trương với chủ nghĩa thực dân tiến lên một bước mới. Sau khi lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông đến 3 ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, bọn “Toàn quyền đô đốc” (gouverneurs- amiraux) của thực dân Pháp bắt tay ngay vào cái chúng gọi là “đấu tranh chống lại nền văn minh An Nam”. Thế là bao nhiêu vốn liếng tinh thần “thu nhận được một cách khác thường” ở thế lực tôn giáo của chủ nghĩa thực dân đã được Trương huy động hết để “không ngừng phụng sự” những đòi hỏi toàn diện và cấp thiết của cái “chính quyền của các đô đốc” ấy. Trương đã mau chóng tham gia vào chính quyền Pháp và “hiển nhiên là vị quan chức An Nam đầu tiên của cái chính quyền đó”[19]. Mặt khác, đúng như đã được rèn luyện, Trương phải trở thành và đã trở thành “nhà thông thái” để phụng sự nhu cầu của Vi-an (Vial) gọi là “những quan chức và thuộc viên của chính quyền chúng ta [thực dân - TG] nỗ lực học nắm tình hình xứ này”[20] cũng như việc “các võ quan của đoàn quân chiếm đóng bắt tay vào việc nghiên cứu xứ An Nam ngay khi vừa cập bến Sài Gòn”[21]. Chính với cái vốn liếng tinh thần ấy và với “lòng trung thành không gì lay chuyển nổi đối với nước Pháp” mà “vị quan chức An Nam đầu tiên của chính phủ Pháp [thực dân - TG]” đã trở thành hội viên của hàng chục Hội Khoa học của nước Pháp tư bản chủ nghĩa ở nửa sau của thế kỷ XIX. Tháng 2 năm 1876, Trương được thực dân Pháp phái ra Bắc Kỳ. Về chuyến đi này, Bu-sô, một học giả thực dân đã khẳng định đó là một nhiệm vụ đặc phái (mission offcielle) đã được hoàn thành với mục đích “làm cho chính phủ [thực dân ở Nam Kỳ - TG] sáng tỏ trạng thái tinh thần của người Bắc Kỳ” và kết luận “chắc chắn chuyến đi này phải có, trong tương lai gần sau đó, một phản xạ quan trọng như chúng ta vừa thấy, bởi vì chính do những mối liên hệ mà Ký đã thắt chặt ở Bắc Kỳ, sự hiểu biết của ông ta về xứ này mà nhà thông thái ấy phải được chọn để nối gót ngài Pôn-Be tới Huế và Hà Nội”[22].

Mối liên hệ đồng hóa giữa Trương Vĩnh Ký với chủ nghĩa thực dân còn được Bu-sô diễn tả như sau: “Ung dung với những nguồn lợi nhỏ cá nhân, cuộc sống của gia đình cũng như của bản thân ông được đảm bảo chắc chắn. Và, trong con mắt của đồng bào của mình, ông không phải là một vị đại thần [An Nam - TG] vì rằng người ta chỉ có phẩm vị này bằng các kỳ thi do Bộ Lễ tổ chức, mà là một cái gì khác và cao xa nữa kia.

Nếu tôi có thể nói, thì như thể là một vị đại thần kiểu những nước ngoài”[23].

Và, tháng 10 năm 1881, Trương cũng đã tuyên bố với nghị viên Bơ-lăng-xuy-bê (Blancsube’) về tâm hồn và lý trí của mình như sau:

“Thật thế, như ngài biết đấy, chính phủ Pháp đã ban cho tôi biết bao là quyền lợi mà nhờ chính phủ Pháp tôi mới có được vị trí ngày nay. Vả ngài cũng đã biết rằng, là thành viên của tất cả những cái gì là tiến bộ và văn minh, tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng trở thành một người Pháp thực sự”[24].

Rồi 5 năm sau, Pôn-Be, người “bạn cũ” trong thời gian năm 1863 tại Pháp của Trương tới Việt Nam để cứu nguy cho nền thống trị thực dân đang sa lầy trong phong trào Cần Vương với phương châm được nêu ra ở nghị viện Pháp ngày 24-12-1885 thì như cá gặp nước, vị đại thần kiểu những người nước ngoài” ấy đã tạm rời Sài Gòn để ra Huế đóng vai Cơ mật viện đại thần với nhiệm vụ “đem vua Huế vào canh bạc chính trị của chúng ta [thực dân - TG]”[25]. Thực tế là nhà thông thái bản xứ đầu tiên của chủ nghĩa thực dân Pháp đã được nhà thông thái thực dân chính cống giao phó sứ mệnh “đại diện có thẩm quyền cho đường lối chính trị điều hòa các quyền lợi ngay trong lòng viện Cơ mật” của tòa Tổng sứ đầu tiên của nền thống trị thực dân. Ở đây, chúng tôi thấy cần thiết nêu lên vấn đề này: ở Nam cũng như ở Bắc, có thể có người băn khoăn, rằng mối liên hệ trọn đời của Trương Vĩnh Ký với chủ nghĩa thực dân là mối liên hệ đồng hóa, thế nhưng trong các tác phẩm, các báo cáo chính trị của bản thân Trương với đám thực dân, người ta cũng thường thấy Trương có bàn đến “nước Nam”, “người Nam”, “dân tộc”, “tình cảm dân tộc”, “đất nước”, “nhân nghĩa”,… và nhất là trong đời mình Trương đã cự tuyệt không “vào làng Tây thì thế nào?

Quả thật, “nhà chính trị khôn khéo” kiêm “nhà học giả uyên bác” Trương Vĩnh Ký có đề cập tới những điều ấy và có khi với tất cả say sưa của mình nữa kia. Nhưng “nước Nam”, “dân tộc”, “đất nước” “nhân nghĩa”, “yêu nước”,… quyết không phải là những khái niệm, những vấn đề trừu tượng đứng ra ngoài giai cấp và thời đại. Lê nin từng nói: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác thông qua những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau người ta vẫn là kẻ ngây thơ bị người ta lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”[26]. Cho nên vấn đề không phải là băn khoăn hiện tượng nói trên kia ở Trương Vĩnh Ký có hay không, số lượng nhiều hay ít,… mà là ở bản chất của chúng. Nghĩa là cần phân tích trong trường hợp cụ thể này, là nội dung và bản chất của những khái niệm những vấn đề ấy ở Trương Vĩnh Ký là thế nào và Trương đã đứng về phía nào trong giai đoạn lịch sử nào của dân tộc Việt Nam để đề cập, hơn nữa còn hô hào người đương thời học và làm theo. Vậy thì, để nhận chân mối liên hệ đồng hóa giữa Trương Vĩnh Ký với chủ nghĩa thực dân thể hiện nhất quán ngay cả ở chỗ này, trước hết chúng ta cần chú ý rằng, trên cơ sở thời đại lịch sử ở nửa sau thế kỷ XIX - nghĩa là thời đại toàn dân ta đang lao vào một cuộc đấu tranh quyết liệt chống sự xâm lược và bình định của chủ nghĩa thực dân, chống triều đình phong kiến “cắt đất thương thay cuộc giảng hòa” để rồi đầu hàng toàn bộ - thì tự ngay trong bản thân nội dung những vấn đề, những khái niệm như là “nhà nước”, “nước Nam”, “người Nam”, “dân tộc”, “nhân nghĩa”,… đã thể hiện rõ rệt nhất sự phân chia rạch ròi giữa địch và ta, giữa chủ nghĩa thực dân cướp nước “làm những điều vô đạo” với toàn thể một dân tộc anh hùng đang “thề nguyền ra sức đánh Tây”[27] từ Nam chí Bắc. Điều này cũng thể hiện tập trung nhất ở hai kiểu mẫu nhân vật của thời đại lịch sử đó: một bên do Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định,… cùng biết bao “dân ấp dân lân mến nghĩa làm quân chiêu mộ”[28], “những người chết theo nạn nước một cách khảng khái không thể đếm hết”[29] làm tiêu biểu; một bên lấy Pô-luyt Của (Paulus Của), cậu ba Tường,… làm đại diện. Tuy cả hai bên đều cùng nói “nước Nam”, “người Nam”, “đất nước”, “yêu nước”, “nhà nước”, “nhân nghĩa”,… cả, nhưng những vấn đề, những khái niệm ấy ở hai bên có nội dung khác nhau như nước với lửa. Ở kiểu mẫu trên thì “nước Nam”, “nhà nước”, “yêu nước”, là thế nào? “Nước Nam là mối mối xuân thu… đời đời trị loạn, sách xưa còn chép bản, lẽ chính là đời trước hãy treo gương”[30] và “bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”[31]. Hơn thế nữa, “đất nước” của họ phải thế nào?. “Nhân dân ba tỉnh không muốn đất nước bị chia cắt, nên họ suy tôn chúng tôi cầm đầu. Chúng tôi không thể nào làm khác hơn điều mà chúng tôi đang làm. Cho nên chúng tôi sẵn sàng tử chiến, lôi địch đằng đông, kéo địch đằng tây, chúng tôi chống địch, đánh địch và sẽ thắng địch. Nếu ngài [Phan Thanh Giản - TG] còn nói hòa nghị cắt đất cho địch thì chúng tôi xin không tuân mệnh triều đình”[32]… Còn ở nhà thông thái Trương Vĩnh Ký thì “nước Nam”, “nhà nước”, “yêu nước”, “đất nước”,… là thế nào?. “Những quan lại thường hỏi tôi rằng nước Pháp có ý muốn chiếm đất nước không? Tôi trả lời rằng không. Sự có mặt của những lãnh sự Pháp và những đồn binh Pháp ở Bắc Kỳ là một sự đảm bảo lớn cho sự yên ổn của nhà nước An Nam… Phải thành thật dựa vào người Pháp để mà đứng dậy, nhưng mà giơ cho họ cả hai tay chứ không phải đưa ra một tay và dè dặt một tay”[33]. Hơn nữa “nước ta”, “nhân nghĩa” là thế này đây: “Vả nay thế nước chia cắt là do lòng giời… Giữ hòa ước chính là để tự cường, làm điều nhân cũng có thể là vô địch… Nếu không có sự tàn bạo của chúng [thực dân - TG] thì sao rõ được sự nhân nghĩa của ta”. Rồi, đồng hóa và đồng lõa với chủ nghĩa thực dân, nhà thông thái Trương Vĩnh Ký đã cùng với Tổng sứ Pôn- Be đặt kế hoạch chia đất nước Việt Nam làm ba kỳ, tách Bắc Kỳ ra khỏi Trung Kỳ với chế độ cai trị riêng dù bản thân Trương biết điều đó sẽ “làm cho trái tim dân chúng An Nam nhỏ máu”[34] để mau chóng xác lập được nền thống trị thực dân. Mặt khác, trong khi chủ nghĩa thực dân chấm dứt cuộc trường kỳ mai phục đất nước Việt Nam bằng cách như chúng nói là: “giai đoạn chinh phục ở giai đoạn này hoàn toàn chỉ là bạo lực, chúng ta [thực dân - TG] hất cẳng những người chủ cũ của xứ này và khắp mọi nơi mà chúng ta [thực dân - TG] đã áp dụng luật lệ của thanh gươm… chỉ thu phục được sự bình yên trong sự vắng lặng cô độc do chúng ta [thực dân - TG] tạo ra xung quanh mình”[35], cho nên nhân dân Việt Nam từ Nam chí Bắc trước hết là Lục tỉnh “mắc hại cùng cờ tam sắc” đã phải đứng cả dậy theo “lẽ chính tà đời trước” bất chấp cả cái mà Trương gọi là “cơ xảo của phương Tây”[36], “để chống lại binh lính thiện chiến có vũ khí đáng sợ”[37], thì Trương Vĩnh Ký coi đó là “niềm vui mà dân chúng An Nam đã cảm thấy vì cuối cùng đã bước vào thời kỳ ổn định và hòa bình”[38]. Đồng thời để cho “rõ được sự nhân nghĩa” và “hòa bình” của mình, Trương đã coi nhân dân “thề nguyền ra sức đánh Tây” là “những kẻ phản loạn”. Rồi Trương tuyên bố với lũ trùm thực dân cướp nước rằng “những kẻ phản loạn không có gì là ghê gớm cả… chúng rất dễ bị giảm sút và dẫn dắt tới chỗ phục tùng”[39] và đề ra kế hoạch “mau mau tổ chức những đoàn lính khố xanh và vũ trang cho chúng” nhằm dùng người Việt “bình định” người Việt bằng cách khôi phục củng cố để sử dụng quân đội phong kiến đầu hàng vốn đã tan rã, vào chiến dịch bình định của tòa Tổng sứ thực dân đầu tiên. Cuối cùng, chính để tỏ ra “yêu Tổ quốc An Nam” mà Trương thề “sẵn sàng xẻ thân làm 4 bốn mảnh” cho chủ nghĩa thực dân Pháp, “nước Pháp mà tôi [Trương - TG] phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó”![40]. Đối với quá trình xâm lược và bình định mà Tổng sứ Pôn-Be đã miêu tả là “cho phép tất cả những sự bạo tàn, những làng thiêu hủy, dân số tàn hại bởi nạn đói, mọi công việc hoàn toàn ngừng trệ”[41] thì Trương tuyên bố “nước Pháp không thể nào hành động khác được”. Nội dung và bản chất của những khái niệm, những vấn đề như “đất nước”, “nhà nước”, “nước Nam”, “yêu nước”, “nhân nghĩa”,… của nhà thông thái Trương Vĩnh Ký chỉ là như trên.

Còn vấn đề Trương Vĩnh Ký cự tuyệt không “vào làng Tây” thì thế nào?

Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XIX, đám thực dân thống trị đề ra chủ trương muốn Pháp hóa nhân dân Việt Nam, trước hết là ở Lục tỉnh. Dĩ nhiên một vấn đề có liên quan đến vận mệnh nền thống trị của chúng như thế, không thể lọt qua “sự chỉ dẫn sáng suốt” của Trương tiên sinh được. Căn cứ vào “tất cả những cái gì cấu tạo nên quá khứ của thuộc địa” nhà thông thái đã chứng minh mối nguy hiểm của chủ trương phiêu lưu đó (bị Tổng sứ Pôn Be bác bỏ sau gần 3 tháng ở Sài Gòn) đối với việc củng cố và duy trì lâu dài nền thống trị thực dân như sau:

“Chính là theo yêu cầu tỏ tường của ngài tôi ưng ý nêu lên với ngài những lời chỉ dẫn về dự án việc lập Pháp tịch kèm theo thư này. Những kết luận của bản nghiên cứu của tôi không phải là sự phản ánh của tình cảm cá nhân tôi mà chỉ là sự suy diễn logic của những sự kiện và những quy chế vốn đã được mọi người biết, đồng thời cũng là sự biểu hiện đúng đắn của tình cảm chung.

Thật thế, như ngài biết đấy, chính phủ Pháp đã ban cho tôi biết bao là quyền lợi mà nhờ chính phủ Pháp tôi mới có được vị trí ngày nay. Vả ngài cũng đã biết rằng, là thành viên của tất cả những cái gì tiến bộ và văn minh, tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng trở thành người Pháp thực sự. Nhưng đó không phải là ý kiến của đa số. Dù ý nghĩ riêng của tôi là thế nào đi nữa, tôi cũng phải cung kính tỏ bày sự thực với ngài. Và vì ngài được chính phủ chỉ định để bàn bạc vấn đề quan trọng này, tôi vinh dự hứa với ngài là sẽ chỉ để ra những chỉ dẫn mà tôi coi là tuyệt đối đúng và mặt khác, chúng cũng chỉ là kết quả logic của đường lối chính trị của chúng ta.

Cũng như bản thân ngài đã nói, vấn đề nhập quốc tịch Pháp, theo ý tôi, chỉ có khả năng là thực hiện được ở hảo tâm của những người An Nam Gia Tô hóa, một nhúm người ít ỏi trong dân chúng bản xứ. Thực thế, nhờ những quy chế Gia Tô giáo, họ đã được chuẩn bị từ lâu cho cuộc biến thân (mestamorphose) đó đến nỗi có thể chưa có điều kiện để thu nạp họ một cách không chút ngần ngại đó thôi. Còn những người khác thì trái lại, là những nhà nho, theo Khổng giáo và Phật giáo, nghĩa là hầu hết dân chúng bản xứ, thì khác hẳn về bản chất với những kẻ nói trên bởi niềm tin và tôn giáo của họ cũng như bởi cơ cấu gia đình và những nguyên lý xã hội của họ và chính chỗ này là hầm trú ẩn của cuộc kháng cự dai dẳng nhất chống lại những thuận lợi của việc nhập quốc tịch Pháp nếu như nó được chính phủ đề ra một cách rộng rãi.

Phương pháp tốt nhất để có thể cảm thấy một cách rõ rệt sức nặng có thể có của những việc đó trong sự quả quyết của những người An Nam phi Gia Tô giáo sau này như thế nào là nhắc lại ở đây vài câu những những nguyên lý cơ bản của cơ cấu gia đình An Nam. Chúng ta có thể tóm tắt trong ba điều cơ bản sau đây:

  1.  1.Can dự  của tổ tiên.

  2. 2. Uy quyền của dòng họ nội.

  3. 3. Chữ hiếu 

Những điều đó liên hệ với nhau chặt chẽ đến nỗi mà một điều nào đó bị xóa bỏ thì sẽ phá hủy toàn bộ tổ chức xã hội. Vậy thì rõ ràng rằng: Những truyền thống cổ, những luật lệ thiêng liêng nhất, những tín điều bất khả xâm phạm nhất, những phong tục lâu đời nhất bị sụp đổ tan tành từ đầu chí cuối và gia đình An Nam tiêu tan vĩnh viễn một khi mà chủ của nó đã nhập quốc tịch Pháp.

Một điều cuối cùng: Chúng ta hãy theo dõi dân tộc An Nam trong lịch sử của nó… rõ ràng là ý thức dân tộc đã tồn tại và ở một mức độ cao trong quả tim người An Nam và giả sử rằng họ bằng lòng với việc giải thể của gia đình thì chỉ riêng ý thức dân tộc đó vẫn cứ còn tiếng nói khá mạnh tới mức làm cho họ từ bỏ việc nhập quốc tịch Pháp”[42].

Rõ ràng là để thực dân Pháp có thể yên ổn và củng cố được nền thống trị của chúng, trong “những lời chỉ dẫn tuyệt đối đúng” của mình, “nhà thông thái” kiêm “nhà chính trị khôn khéo” Trương Vĩnh Ký không thể bỏ qua được truyền thống của ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc trong nhân dân Việt Nam hình thành và vững chắc như bàn thạch trải qua bao nhiêu thế hệ. Rồi sau Trương Vĩnh Ký 5 năm thì Tổng sứ Pôn-Be, sau ba tháng tới Sài Gòn, cũng phải tuyên bố với bè lũ thống trị thực dân ở Sài Gòn rằng “không thể tiêu diệt”  dân tộc Việt Nam, “biến họ thành nô lệ” vì “các ngài hãy để ý đến dân tộc An Nam,… đến một dân tộc đã từng có 4.500 năm lịch sử, hãy đến mà nói chuyện nô lệ với họ, rồi các ngài sẽ thấy các ngài được đón tiếp ra sao”[43]. Nhưng tinh thần dân tộc, truyền thống dân tộc ấy chỉ được Trương Vĩnh Ký rồi Pôn-Be, cũng như chủ nghĩa thực dân nói chung - tìm hiểu để chống lại và cố khuôn vào ý nghĩa cùng phương pháp duy trì lâu dài nền thống trị thực dân mà thôi.

“Người ta đã viết cho tôi ba kỳ thư liên tiếp để bảo tôi nhập quốc tịch Pháp (những bạn hữu quan tâm đến số phận của tôi). Tôi quả quyết cự tuyệt:

1. Tôi không đổi ý kiến.

2. Làm như vậy là tôi đã hành động chống lại ngay những nguyên tắc mà tôi đã đề ra trong bản nhận xét về sự không hợp tình thế của việc ấy[44], hơn nữa bản nhận xét ấy đã được biết ở Paris rồi.

3. Tôi sẽ bị chê cười là nhát gan: người ta sẽ bảo rằng rút cục thì tôi đã phải làm việc đó vì sợ nguy hiểm và cốt là để thoát khỏi những bước khó khăn.

4. Tôi sẽ vĩnh viễn không còn có ích gì cho nước Pháp, nước Pháp mà tôi phụng sự và tôi hoàn toàn thuộc về nó được nữa. Vì chưng đã nhập quốc tịch Pháp rồi thì tôi sẽ mất hết uy thế, mất hết ảnh hưởng và từ đó sẽ không còn chút lòng tin nào của vua An Nam, của triều đình và của dân tộc An Nam nữa”[45].

Thực thế, không thể nào vô tình hay hữu ý lầm lẫn được nữa rằng, việc Trương Vĩnh Ký không “vào làng Tây” vốn “không phải là sự phản ánh của tình cảm cá nhân mà là sự suy diễn logic của những quy chế đã được mọi người biết đồng thời cũng là sự biểu hiện đúng đắn của tình cảm chung” giữa Trương với chủ nghĩa thực dân. Hơn thế nữa, trong mối liên hệ đồng hóa của Trương với chủ nghĩa thực dân thì cái vẻ bề ngoài của một phương tiện, một phương pháp “không ngừng phụng sự” chủ nghĩa thực dân có hiệu lực nhất. Và chính vì sợ mất cái phương tiện ấy, cái “vỏ An Nam” ấy đi thì cái trí tuệ bị đồng hóa của Trương “sẽ vĩnh viễn không còn có ích gì cho nước Pháp, nước Pháp mà tôi phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó được nữa” nên Trương Vĩnh Ký mới “quả quyết cự tuyệt” việc “vào làng Tây” mà thôi.

III. Mục tiêu và chức năng cuộc đời Trương Vĩnh Ký

Qua phần thứ hai, chúng ta đã thấy rằng chủ nghĩa thực dân Pháp đã tạo ra Trương Vĩnh Ký thông qua thế lực tôn giáo - “sức mạnh lớn nhất trong một xứ thuộc địa”[46] của chúng, ngay từ khi Trương đầu còn để chỏm và mối liên hệ trọn đời giữa nhà thông thái đó với chủ nghĩa thực dân là mối liên hệ đồng hóa. Trong suốt quá trình gồm hơn hai phần ba cuộc đời của mình, theo nhu cầu “quan trọng bậc nhất” tùy theo tình thế từng nơi, từng lúc của “chiến dịch đặt cơ sở, tổ chức và chiếm đóng hẳn” đất nước ta của chủ nghĩa thực dân Pháp mà Trương Vĩnh Ký luôn “sẵn sàng xẻ thân làm bốn mảnh” để thực hiện mục tiêu và chức năng của đời mình. Cụ thể như sau:

a). Năm 1860, chủ nghĩa thực dân cần có “người phò tá đặc biệt giá trị (L’auxiliaire d’ eslection) ngay sau khi chúng phải bỏ Đà Nẵng để kéo về Gia Định và tích cực mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Lục tỉnh, thì Trương Vĩnh Ký lập tức trở thành cái mà Bu-sô đã gọi là trung gian giữa đồng bào của ông với các thành viên của đoàn quân chiếm đóng (corps d’occupation)[47] thực dân.

b). Sau hòa ước cắt đất năm 1862 của dòng họ Nguyễn Phúc, chủ nghĩa thực dân cần “hất cẳng những người chủ cũ”[48] để tổ chức cái “chính quyền của các đô đốc” thì từ đó Trương Vĩnh Ký trở thành “vị quan chức An Nam đầu tiên của chính quyền Pháp” và “vị đại thần kiểu nước ngoài”.

c). Chủ nghĩa thực dân cần phải cùng một lúc giải quyết những việc được chúng nêu lên như sau:

1. “Một đội quân những người phò tá mới”;

2. Sĩ quan, nhân viên của chính quyền các đô đốc từ trên xuống dưới nắm được tình hình mọi mặt” để dễ dàng thống trị và bóc lột đồng bào Lục tỉnh;

3. “Đồng hóa dân chúng trong giới hạn có thể”[49];

4. “Chứng minh và hợp lý hóa cuộc chinh phục”;

5. “Hiểu được tất cả cái gì cấu tạo nên quá khứ của thuộc địa”[50]

Thế là, lập tức Trương Vĩnh Ký phải trở thành đúng như Trương đã được chúng thừa nhận là “nhà sư phạm”, “nhà sử học”, “nhà địa lý học”, “nhà văn của thời đại”[51],… tóm lại là trở thành nhà học giả, nhà tư tưởng của người bản xứ của chủ nghĩa thực dân trong nửa sau thế kỷ XIX.

d). Tiếp đó, sau hàng ước 1883-1884, chủ nghĩa thực dân cần “thuyết phục và lôi kéo lý trí và quả tim [người bản xứ - TG] vốn đã bị mọi cách đầu tiên làm cho khiếp đảm”[52] thì lập tức Trương Vĩnh Ký lại “được tin cậy là một nhà chính trị khôn khéo”[53].

e). Chủ nghĩa thực dân cần “đem vua ở Huế vào canh bạc chính trị của chúng ta [thực dân - TG]”[54] thì Trương lập tức lại trở thành Cơ mật viện đại thần, Kinh Diên giảng quan với danh hiệu “Nam trung ẩn sĩ”.

Nói theo lời Trương Vĩnh Ký thì, toàn bộ nội dung của cái “nước Pháp mà tôi phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó” với mục tiêu “là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng trở thành người Pháp thực sự” của Trương từ năm 1860 là như thế. Đi sâu thêm thì chúng ta thấy chúng thể hiện đầy đủ ba chức năng của trí tuệ nhà thông thái bị chủ nghĩa thực dân đồng hóa và đã đồng hóa với chủ nghĩa thực dân, như dưới đây:

Một là, chức năng “người phò tá có giá trị đặc biệt trong chiến dịch đặt cơ sở” (champagne d’instllation) của chủ nghĩa thực dân Pháp trong suốt quá trình xâm lược và tổ chức nền thống trị mệnh danh là trực trị ở Lục tỉnh. Từ Nam chí Bắc, mọi người đều biết Trương Vĩnh Ký bắt đầu mở hàng “không ngừng phụng sự” chủ nghĩa thực dân với chức vụ thông ngôn. Nói đến thông ngôn, người ta có thể cho đó là một việc chuyên môn thuần túy. Nhưng không phải thế. Trong suốt thời gian hơn hai năm trời từ khi “đoàn quân chiếm đóng” từ Đà Nẵng rút về Gia Định và cố thủ trên phòng tuyến dài 10 cây số từ Thị Nghè đến Mai Sơn rồi tỏa đi đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Lục tỉnh thì, “vì quan tư lệnh Giô-rê-ghi-be-ri không có một thông ngôn nào khác nên Đức cha Cơ-rốc (Croc) trong đoàn truyền giáo đối ngoại yêu cầu Giám mục địa phận Sài Gòn tìm một người An Nam có thể phù tá công việc đáng sùng kính của ông ta trong những trách nhiệm không kể xiết phải gánh vác. Giám mục Lơ-phe-bơ-rơ (Lefebre) đã chỉ định Pê-tơ-ruýt -Ký”[55]. Hơn thế nữa “chức vụ thông ngôn của ông [Trương Vĩnh Ký - TG] tự nó cũng đã mau chóng chuyển thành nhiệm vụ đặc biệt đối với ông, lại nữa, những nhiệm vụ đặc biệt ấy càng trở nên khó khăn biết bao khi người ta đòi hỏi ông phải phụng sự nước Pháp với tư cách là trung gian giữa đồng bào của mình với những thành viên của đoàn quân chiếm đóng của nước Pháp, dẫn dắt các quan lại ngang ngạnh của triều đình Huế vào những sự nhượng bộ đắt giá nhất đối với họ. Chính vì thế mà năm 1862, khi quan tư lệnh Xi-mông đuy Phooc-banh (Simon du Forbin) tới Sài Gòn để tham gia vào việc bàn hòa của triều đình An Nam thì ông ta chỉ định Pê-tơ-ruýt Ký để theo ông ta tới Sài Gòn”[56]. Thế rồi trong khi Bộ Chỉ huy “đoàn quân chiếm đóng” thực dân giao cho Trương đi kèm phái bộ “chuộc đất” và “chuộc tội” của Phan Thanh Giản sang Pháp thì các đô đốc tướng lĩnh của “đoàn quân chinh phục” lập tức biến thành những Toàn quyền - Đô đốc”. Để “chiếm lại những vùng đã chiếm được”, để thành lập nền thống trị thực dân, việc đầu tiên của bọn chúng là bắt tay vào cái gọi là “chiến dịch đặt cơ sở”. Theo lời bọn thực dân thì trung tâm của chiến dịch này của chúng là “vắt máu”[57] đất Lục tỉnh để cũng cung cấp nhu cầu kinh tế, coi việc củng cố, mở rộng xâm lược đi đôi với cuộc “đấu tranh chống lại nền văn minh An Nam” và “đặt một cách dứt khoát ảnh hưởng Pháp trong phần đất này của thế giới”[58]. Nhưng chúng phải thú nhận rằng: “cái sức mạnh thực dân ấy đang đng trước mặt một dân tộc có nền văn minh có trước mình, một dân tộc đông đảo, thuần nhất bởi ngôn ngữ, cơ cấu xã hội và phong tục, không có thầy tu, không có giáo quyền, không có tộc đẳng và bộ máy chính quyền bác học và phức tạp thì lấy giáo dục làm nền tảng”[59]. Cho nên “chỉ chinh phục đất đai thì không đủ, chúng ta [thực dân - TG] cần phải chinh phục tâm hồn nữa kia”[60]. Và trong cuộc “chinh phục tâm hồn” đó thì “giáo dục là một công cụ mạnh nhất và chắc chắn nhất nằm trong tay kẻ chinh phục”[61] nhằm “đặt cơ sở ảnh hưởng của chúng ta [thực dân - TG] dựa trên những kết quả cụ thể và có giá trị ngay lập tức”. Vì thế, chẳng l gì mà trong khói lửa rực trời của một cuộc xâm lược và chống xâm lược, Vi-an đã viết rằng “đô đốc La-gơ-răng đi-e, người mà chúng ta [thực dân - TG] phải chịu ơn về việc giữ vững được xứ Nam Kỳ - không bao giờ đô đốc đi thăm một làng mà không ghé vào trường học. Ông ta hỏi han học trò, bảo họ viết một bài tập hay giải thích những phép tính sơ đẳng trên bảng đen. Rồi chính tự ông ta phân phát phn thưởng hay những đồ chơi tới tận tay những ai trả lời tốt hơn cả”[62]. Đồng thời, những tướng lĩnh, chính khách thực dân của “đoàn quân chiếm đóng” đương thời ở Lục tỉnh thi nhau lao vào mặt trận “đấu tranh chống lại nền văn minh An Nam” và bỗng nhiên trở thành những học giả của cái gọi là “tài liệu về xứ An Nam”. Chính trong tình thế như vậy mà sau khi ở Pháp về, Trương liền được cái “chính quyền của các đô đốc” chính thức chuyển thẳng tới mặt trận văn hóa tư tưởng của chủ nghĩa thực dân nhằm “đặt một cách dứt khoát ảnh hưởng Pháp trong phần đất này của thế giới”. Từ đó, đi kèm với các đức cha Le-phơ-bơ-rơ, Cơ-rốc và nhất là Mi-sơ (vốn là người chỉ huy của chủng viện Pin-ha-lu khi Trương đang ở đấy và vừa được đô đốc La-gơ-răng-đi-e đón rước long trọng về làm Tổng Giám mục đa phận ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ), Trương Vĩnh Ký “vốn có nhiều kinh nghiệm thu thập được ở Pin-ha-lu và Pi-năng” đã, như lời Bu-sô, “miệt mài dốc hoạt động của mình vào những trách nhiệm vừa nhiều lại vừa lắm màu vẻ”. Trương là người “phù tá một cách có hiệu lực nhất đức cha Lơ-gơ-răng đơ la -Lia- ray (Legrand de la Liraye) Hội Truyền giáo ngoại quốc và các võ quan của đoàn quân chiếm đóng đang bắt tay vào việc nghiên cứu đất nước An Nam ngay khi vừa cp bến Sài Gòn”. Trương dịch và cung cấp tài liệu toàn diện về tình hình Lục tỉnh lúc bấy giờ, tứ phía đang vang động tiếng súng đạn, gươm đao giữa kẻ cướp nước và những người giữ nước. Đồng thời Trương nghiên cứu để “cung kính tỏ bày sự thực… và chỉ đề ra những chỉ dẫn tự coi là tuyệt đối đúng” về tình hình chính trị, quân sự, kinh tế cho cả “những truyền thống cổ, những luật lệ thiêng liêng nhất, những tín điều bất khả xâm phạm nhất, những phong tục lâu đời nhất” cũng như hệ thống tổ chức cai trị của chế độ phong kiến trước đây ở Việt Nam nhằm mục đích tạo điều kiện cho “đoàn quân chiếm đóng của nước Pháp” có cơ sở thành lập nền thống trị mới dựa vào “luật lệ của thanh gươm” một cách thích hợp với tình thế của chúng lúc bấy giờ ở Lục tỉnh. Cho nên chúng ta không lạ gì khi một người sống và hoạt động với mục tiêu đã nêu lên ở trên, lại còn “được coi là một nhà chính trị khôn khéo” người bản xứ của chủ nghĩa thực dân như Trương Vĩnh Ký, đã từ thông ngôn trở thành giáo sư, trở thành tri huyện hạng nhất nhưng làm nhiệm vụ ở mặt trận “đấu tranh chống lại nền văn minh An Nam”, trở thành đốc học, chủ bút, nhà khảo cứu,… để rồi cuối cùng, “cái trí tuệ uyên bác” bị đồng hóa ấy đàng hoàng trở thành một học giả nổi tiếng đối với nước Pháp tư bản thực dân ở nửa sau thế kỷ XIX.

Trong toàn bộ chiến dịch đặt cơ sở” nói trên, nhất là việc thực dân mệnh danh là “nắm tình hình… để chuẩn bị cho các võ quan [thực dân - TG] cai trị một xứ khác hẳn với các thuộc địa trước đây”[63] của chúng và việc “xây dựng đội ngũ những người phò tá rất cần thiết” mà “ đa số bắt đầu theo kiểu mạt nhất để bước lên địa vị cao”[64] thì chúng rất dễ dàng thấy rằng người học trò xuất sắc của “thế lực phần hồn” của các giáo sĩ thực dân giữa thế kỷ XIX đã trội hơn hẳn đám tướng lĩnh chính khách thực dân mới chuyển sang nghề học giả ở thuộc địa. Bởi vì lúc bấy giờ, Trương là “trí tuệ uyên bác” duy nhất đầu tiên người bản xứ của “chính quyền các đô đốc” nên “có kinh nghiệm trong các vấn đề An Nam”, hơn nữa, cái “trí tuệ uyên bác” bị đồng hóa ấy lại khá thành thạo trong những loại công việc khác nhau và có “sự sáng suốt đảm bảo”[65]. Mặt khác, kết quả trực tiếp của cái trí tuệ đồng hóa ấy đối với chủ nghĩa thực dân Pháp đã được Bu-sô khẳng định như sau: “Chính là từ năm 1863 tới năm 1875, Pê-tơ-ruýt Ký đã xuất bản cả loạt những tác phẩm đáp ứng một cách quý giá nhất và sung sướng nhất cho nhu cầu lúc bấy giờ”[66]. Khỏi phải bàn thêm, cái mà Bu-sô gọi là “nhu cầu lúc bấy giờ” là gì thì chúng ta vừa thấy ở trên rồi. Chính bản thân Trương Vĩnh Ký,  năm trước khi chết, cũng từng tuyên bố về nội dung hoạt động của Trương trên mặt trận “đặt một cách dứt khoát ảnh hưởng Pháp [thực dân - TG] trong phần đất này của thế giới” là “thống nhất quyền lợi” giữa kẻ cướp nước và người giữ nước hòng làm cho chủ nghĩa thực dân xâm lược và một dân tộc chống xâm lược “cuối cùng sẽ yêu nhau và thích nhau” theo cái kiểu nô lệ này: “còn về phần tôi,… tôi chỉ chăm lo việc xuất bản những sách vở, theo ý tôi, có thể góp phần vào việc thống nhất quyền lợi giữa người Pháp [thực dân - TG] và người An Nam giờ đây được kêu gọi sống chung với nhau bởi các biến cố. Tôi tự đặt ra nhiệm vụ là bởi sự dạy dỗ mà thắt chặt dần những mối liên hệ giữa người Pháp [thực dân - TG] và người người An Nam bằng cách làm cho những mối liên hệ ấy được tiến hành kịp thời và thú vị. Hơn nữa, tôi hy vọng rằng cuối cùng họ sẽ yêu nhau và thích nhau…”[67]. Cho nên năm 1886, giữa lúc nền thống trị thực dân đang bị phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của toàn dân Việt Nam dưới ngọn cờ Cần Vương bao vây tứ phía thì thực dân Pháp gắn ngũ đẳng bội tinh “về giáo dục” cho Trương Vĩnh Ký trong “chiến dịch đặt cơ sở” nói trên. Và nhà thông thái bị đồng hóa, nhà tư tưởng đầu tiên của người bản xứ ấy của chủ nghĩa thực dân đã điện cho Tổng thống Pháp Phơ-rây-xi-nết (Freycinet): “Tôi rất vinh dự được nhận tấm Bội tinh này của nước Pháp [thực dân - TG] mà tôi đã không ngừng phụng sự từ 1860”.

Dĩ nhiên, trong chúng ta không ai phủ nhận rằng: trí tuệ đồng hóa của chủ nghĩa thực dân nên để “không ngừng phụng sự” chủ nghĩa thực dân nhằm đạt tới mục tiêu “trở thành người Pháp [thực dân - TG] thực sự”, Trương Vĩnh Ký đã phải “đáp ứng một cách quý giá nhất và sung sướng nhất cho nhu cầu lúc bấy giờ” của việc đặt cơ sở nền thống trị thực dân và vì thế, Trương có viết một số sách, tài liệu và đã sử dụng chữ Qquốc ngữ. Đối với chúng ta thì hiện nay cũng có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu. Nhưng cần chú ý rằng “phải biết nắm lấy, đồng thời cải tạo những thành tựu của những kẻ đó…, và phải biết loại bỏ khuynh hướng phản động của họ, phải biết vận dụng đường lối của chính mình và phải chống lại toàn bộ đường lối của của các thế lực và các giai cấp đối địch với chúng ta”[68]. Trên cơ sở đó và chỉ trên cơ sở đó, chúng ta có thể và trong phạm vi nhất định, cần sử dụng thành tựu chuyên môn của Trương Vĩnh Ký chủ yếu là về mặt tài liệu ngôn ngữ học, văn học và sử học. Vấn đề này đã được nêu lên ở quan điểm thứ ba trong phần thứ nhất, vả chăng phạm vi bài này chưa đặt nhiệm vụ đề cập và giải quyết cụ thể vấn đề đó.

Tới khi Pôn-Be sang Việt Nam thì do “được ngài Pôn-Be hiểu biết và tán thưởng bởi công trình đã làm cũng như bởi lòng trung thành không gì lay chuyển với nước Pháp”[69] nhà thông thái Trương Vĩnh Ký lập tức trở thành “đại diện có thẩm quyền” của Tòa Tổng sứ thực dân “ngay trong lòng Viện Cơ mật”. Bản thân Trương cũng từng nói rõ chức năng của mình: “Tôi cũng gắng công, nhân chỗ kiến thức của tôi mà làm cho đại nhân rõ được cái tình hình quân sự thêm nữa… Phận tôi cũng như người dẫn lộ nên tôi đã lo rộng đường cho đại nhân [Pôn-Be - TG], đi đến đâu tôi cũng tôn trọng cái danh giá của đại nhân đặng cho thiên hạ phục tùng”[70]. Rồi, một mặt thì với tư cách Kinh Diên giảng quan, Trương “giảng” cho cái triều đình đầu hàng và quan lại sĩ phu còn có ảo tưởng về giai cấp phong kiến rằng: “vả nay thế nước chia cắt là do lòng trời… Giữ hòa ước chính là để tự cường, làm điều nhân cũng có thể là vô địch, giá phỏng bọn họ [thực dân - TG] thì sao rõ được sự nhân nghĩa của ta”[71]… nhưng mặt khác thì, vì “nước Pháp mà tôi phụng sự hoàn toàn thuộc về nó”, Trương Vĩnh Ký lại chỉ cốt chăm lo cho Tòa Tổng sứ, và nêu rõ với Pôn- Be “một mặt ngài sẽ lấy lại và giữ gìn cho nước Pháp lòng mến chuộng và sự tín nhiệm mà nó đã mất trong những năm vừa qua và mặt khác ngài sẽ tìm thấy những thuận lợi thiết thực cho những quốc dân của ngài ở xứ Bắc Kỳ giàu có mà sự yên ổn tất nhiên tùy thuộc vào sự yên bình của Trung Kỳ và biên giới phía bắc”[72]. Hơn nữa, không một hành động lớn, nhỏ nào ở Huế có thể lọt khỏi con mắt của người “sẵn sàng trở thành người Pháp thực sự” Trương Vĩnh Ký được, kể cả những lời “thốt ra từ miệng nhà vua”[73]. Mọi vấn đề “nghiên cứu người và việc” từ việc tuyển dụng người bản xứ vào bộ máy cai trị thực dân, nhất là vào triều đình Huế, cho đến việc điều tra tình hình biên giới các tỉnh, việc tổ chức “bình định trong các xứ”, việc giải quyết xung đột giữa thực dân Pháp và Thái Lan về biên giới phía tây Cam- pu- chia… trong suốt một phần ba thế kỷ xâm lược và bình định, luôn luôn, đám tướng lĩnh đô đốc, chính khách thực dân ở Việt Nam đều được “trí tuệ siêu uyên bác” của Trương Vĩnh Ký “cung kính bày tỏ sự thực” và “tự coi là tuyệt đối đúng”. Mà chính bản thân Trương tiên sinh cũng không hề giấu giếm và rất có ý thức về chức năng đó nhằm đạt tới mục tiêu của đời mình đã thấy ở trên: “Tôi hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của ngài Tổng sứ để cung cấp cho ngài tất cả những điều chỉ dẫn mà ngài muốn hỏi tôi về những ý kiến của triều đình An Nam, về trạng thái tinh thần hiện nay, và những nguyện vọng của dân chúng”[74].

Thế là được ngài Pôn-Be hiểu biết và tán thưởng bởi các công trình đã làm cũng như bởi “lòng trung thành không gì lay chuyển với nước Pháp”[75] mà nhà thông thái bản xứ của chủ nghĩa thực dân Trương Vĩnh Ký liền lập tức “phải được chọn” và đã trở thành cố vấn chính trị của nhà thông thái thực dân chính cống, nằm trong mng lưới cố vấn gồm các giám mục Pen-nơ Xi-ê-phe, Puy-gi-ni-ê,…. của Tòa Tổng sứ thực dân đầu tiên ở Việt Nam. Với cái gọi là “đường lối kiểu mẫu” ấy mang từ Pháp sang kết hợp với kế hoạch bình định của tập đoàn cố vấn chính trị - mà “trí tuệ uyên bác” Trương Vĩnh Ký là “một nhân vật có tầm quan trọng” - nói trên, tổng sứ Pôn-Be điều chỉnh lại các hàng ước Hác- măng và Pa-tơ-nôt theo như cái phương châm sẽ: 

Giữ lại pháp luật và một ông vua cho xứ này để tránh động chạm tới ý thức mọi người trong tình cảm hợp pháp và yêu nước của họ nhằm cuối cùng thu hút nhân dân bản xứ một cách dễ dàng nhất.

Bằng con đường bảo hộ, người ta có thể có tất cả quyền lợi của con đường trực trị mà không cần phải - nếu người ta muốn và nếu người ta biết cách làm - chịu những thiệt thòi. Thực ra đó chỉ là một vấn đề danh từ, khôn khéo, biết cách làm và làm thông minh trong hành động mà thôi. Nhưng một nền bảo hộ như thế chỉ có thể lập lên được với một số điều kiện và có những cẩn thận nào đó. Người ta không có thể thực hiện nó và nhất là không thu được kết quả với bộ máy chính quyền hiện nay và đặc biệt là với những quan phụ chính đã quen với chế độ cũ và đều là những kẻ thù đầy kiêu hãnh và thù ghét. Vậy chúng ta [thực dân - TG] cần gạt bỏ họ đi và thay thế vào đó bằng một phần tử mới mà vận mệnh cuộc đời phải gắn liền với nước Pháp [thực dân - TG] và sẽ sẵn sàng tiếp nhận toàn bộ điều kiện [của thực dân - TG] bằng hành động và chỉ có thể tự đứng vững được bằng cách dựa vào nước bảo hộ”[76].

Thế là Trương Vĩnh Ký nghiễm nhiên “phải được chọn” là cái “phần tử mới” ấy để khoác áo Cơ mật viện đại thần, Kinh Diên giảng quan theo kiểu “Nam trung ẩn sĩ” nhằm có thể “đại diện có thẩm quyền cho đường lối chính trị” mệnh danh là “điều hòa các quyền lợi ngay trong lòng Viện Cơ mật” của nền thống trị thực dân đầu tiên, trên “cơ sở của những sự trao đổi chính kiến đầu tiên”[77] giữa Pôn-Be và Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn cũng như ở Huế. Hơn nữa, để “đưa vua ở Huế vào canh bạc chính trị” của chủ nghĩa thực dân là - nói theo lời Trương Vĩnh Ký - “để hướng dẫn đường lối chính trị của nhà vua và triều đình đi theo đường lối chính trị của nước Pháp”. Tòa Tổng sứ của Pôn-Be hoàn toàn giao vai trò giám sát, tổ chức và củng cố lại uy thế của cái xác triều đình phong kiến đứng đầu là Đồng Khánh cho Trương Vĩnh Ký với mục đích tạo nên một chỗ dựa thực sự vững chc cho nền thống trị thực dân ở Việt Nam. Từ đó, Trương Vĩnh Ký “bắt đầu một công việc mệnh danh là thời đại mới”[78] “nhằm tránh những cuộc khởi nghĩa” mà chúng “không có cách gì dẹp được những nguồn người và vũ khí hiện nay”[79] và “trước hết… làm dịu sự sôi sục của những bè phái, làm giảm sự căm thù của những người yêu nước”[80].

Nhưng sau khi Trương Vĩnh Ký “loại trừ tất cả những sủng thần… sắp xếp Viện Cơ mật toàn những người có năng lực” phục vụ nền thống trị thực dân, cái gọi là “thời đại mới” ấy của Trương vẫn không sao ổn được “trước một cuộc tấn công không chống cự nổi do các sĩ phu tung ra để chống lại cả vua và cả chúng ta [ thực dân - TG]”. Thế là Trương Vĩnh Ký bèn nêu kế hoạch “dùng người bổn xứ mà bình phục các xứ… liền tâu cho hoàng thượng và trình với Viện Cơ mật làm theo liền”[81]. Rồi đó, một đạo dụ khép tất cả những người vũ trang yêu nước chống xâm lược và chống đầu hàng của phong trào dân tộc dưới ngọn cờ Cần Vương là “phản quốc” được ban bố. Trên cơ sở ấy, vị Cơ mật viện đại thần lĩnh Kinh Diên giảng quan Trương Vĩnh Ký kêu gọi Tòa Tổng sứ “hãy mau mau tổ chức những đoàn khinh binh người An Nam và vũ trang cho chúng…   không có gì phải lo ngại cả” và “cung cấp những vũ khí cần thiết cho công cuộc bình định và cho sự duy trì an ninh một khi đã lấy lại được”[82]. Đi đôi với những việc làm đó, với địa vị xã hội và uy thế của mình lúc ấy Trương Vĩnh Ký còn mưu đồ “hoàn toàn thuyết phục các sĩ phu rằng nước Nam không thể làm gì được nếu không có nước Pháp và cũng không thể chống cự lại được nước Pháp, phải bước đi tay nắm trong tay không có một ý nghĩ xấu nào” đối với chủ nghĩa thực dân.

Trở lên trên là những cái mà Trương Vĩnh Ký tuyên bố với Tổng sứ Pôn-Be rằng “những phương pháp tinh thần chắc chắn và hiệu nghiệm”[83]. Và chính do “những phương pháp tinh thần chắc chắn và hiệu nghiệm” ấy mà từ đó về sau, giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam, đứng đầu là toàn bộ triều đình nhà Nguyễn từ trên xuống, chỉ còn là chỗ dựa thật sự được duy trì và củng cố để cung cấp những kẻ mang hia, đội mũ “khâm sai”, “kinh lược”, “tiểu phủ sứ”,… cho chủ nghĩa thực dân trong việc chống lại toàn thể nhân dân Việt Nam và thành lập nền thống trị thực dân phong kiến. Đó vốn là điều mà năm 1886, bản thân Trương cũng đã tuyên bố rằng Trương chỉ còn chờ đợi mà thôi. 

Toàn bộ chức năng trên đây của Trương Vĩnh Ký gắn chặt với nhau trong cái mà Trương tự gọi là “hai mối quan hoài của cuộc đời tôi”[84]. Trương đã thực hiện chúng với tất cả “lòng trung thành không gì lay chuyển với nước Pháp, nước Pháp mà tôi [Trương - TG] phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó” nhằm thực hiện ý tưởng sống “là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng trở thành người Pháp thực sự”. Với điều kiện giai cấp và điều kiện xã hội của bản thân Trương Vĩnh Ký, chủ nghĩa thưc thc dân đã có thể đồng hóa Trương Vĩnh Ký và bản thân Trương cũng đồng hóa với chủ nghĩa thực dân từ năm 1860. Trên cơ sở đó chúng đã sử dụng Trương trong suốt gần nửa thế kỷ xâm lược và bình định đất nước Việt Nam bắt đầu là ba tỉnh miền Đông của Lục tỉnh. Hơn nữa, người ta còn có thể thấy rõ sau khi Trương đã mất chúng còn khai thác và sử dụng cả cái uy thế xã hội và tinh thần vốn do chúng  tạo ra cho Trương lúc Trương còn sống để truyền bá hệ tư tưởng thực dân - mà Trương được tôn là “bậc tiền bối” - trong một bộ phận nào đó của xã hội Việt Nam trước năm 1945. Trương Vĩnh Ký đã trở thành nhà học giả, nhà chính trị và nhà tư tưởng người bản xứ đầu tiên của chủ nghĩa thực dân trên đất nước Việt Nam. Năm 1927, “vai tuồng” của Trương được J. Bu-sô khái quát và chứng minh là “người phò tá có giá trị đặc biệt trong chiến dịch đặt cơ sở, tổ chức và chiếm đóng hẳn xứ này” của chủ nghĩa thực dân. Tuy không đóng “vai tuồng” trên chiến trường quân sự, nhưng “vai tuồng” của Trương Vĩnh Ký có tác dụng trực tiếp như một vũ khí trợ chiến có hiệu lực và không thể thiếu được của “đoàn quân chiếm đóng” trong quá trình xâm lược và bình định đất nước Việt Nam từ 1860.

                   IV. Nguyên nhân tấn bi kịch cuối đời của Trương Vĩnh Ký

Trước khi kết thúc, chúng tôi thấy cần thiết xét tới vấn đề nguyên nhân việc “rút lui vào trong đáy cùng của sự ẩn dật” trong 8 năm cuối đời của Trương.

Đấy là một vấn đề phức tạp. Muốn xét nguyên nhân đẩy Trương rút lui vào đáy cùng của sự ẩn dật” thì, cũng những vấn đề đã đề cập tới ở các phần trên, chúng ta phải căn cứ vào thực tiễn lịch sử đương thời, trước hết là thực tiễn đấu tranh dân tộc của nhân dân ta cùng đường lối thống trị của chủ nghĩa thực dân sau hàng ước 1883-1884.

Một vấn đề được đặt ra trong nội bộ bè lũ cướp nước mà Đờ -La-nét-xăng (De Lanessan) đã nói rằng “ngay ở Pháp, trong giới cai trị, người ta cũng chỉ có một khái niệm mơ hồ về đường lối chính trị đeo đuổi bởi các đại diện [của thực dân -TG] ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Hai đường lối cai trị rất khác nhau có thể theo đuổi ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ là trực trị và bảo hộ. Đường lối này hay đường lối kia không bao giờ thật thà và rõ ràng cả”[85]. Cho nên “không một nhân viên nào do nhà nước Pháp phái sang Huế dám tỏ rõ, ít nhất là công khai, là mình thuộc phái trực trị toàn bộ vương quốc [An Nam - TG]. Chính chỉ trong tập đoàn những thống đốc Nam Kỳ thì chúng ta mới tìm thấy những đại biểu của chủ nghĩa trực trị”[86].

Trong tình hình lục đục về đường lối thống trị sau hàng ước 1883-1884 như vậy thì ngày 27-1-1886, Tổng thống Pháp ra nghị định lập Tòa Tổng sứ ở Việt Nam và Pôn-Be là Tổng sứ đầu tiên. Giữa hai phái thực dân trực trị và bảo hộ nói trên, Pôn-Be tuyên bố: “Vậy thì, theo tôi, chỉ khôi phục lại uy quyền cá nhân của vua An Nam là sẽ cung cấp quyền lực cần thiết để ổn định sự phản ứng của sĩ phu và làm thỏa mãn lòng tự hào của dân tộc An Nam”[87]. Nghĩa là Pôn-Be chủ trương không hoàn toàn “hất cẳng những người chủ cũ sử dụng làm quyền lực cần thiết” cho việc chống lại “một cuộc tấn công không chống cự nổi” của nhân dân ta lúc bấy giờ đối với nền thống trị thực dân. Và, như đã trình bày ở phần thứ ba, với chức năng thứ ba của mình, Trương Vĩnh Ký được Tòa Tổng sứ phó thác vai trò cải tổ triều đình phong kiến nhà Nguyễn “để hướng dẫn đường lối chính trị của họ đi theo đường lối chính trị của nước Pháp [thực dân - TG]” nghĩa là biến nó thành chỗ dựa thực sự của chủ nghĩa thực dân. Rồi Pôn-Be cùng với Trương Vĩnh Ký bèn định kế hoạch cho triều đình phong kiến đánh đổi hẳn “13 tỉnh Bắc Kỳ” cho thực dân “để có thể giữ được Trung Kỳ trong trạng thái hữu danh vô thực và độc lập trong những công việc nội trị”[88]. Đáng chú ý là đã thế nhưng Trương Vĩnh Ký còn nhấn mạnh với Pôn-Be: “Trung Kỳ… nhất thiết sẽ phải ở dưới sự đỡ đầu của nước bảo hộ của nó”.

Nhưng “tập đoàn những thống đốc Nam Kỳ” kịch liệt chống lại đường lối cai trị theo kiểu “bảo hộ” đó vì “Trung Kỳ không phải là một xứ nghèo hoang vắng”[89]. Mâu thuẫn trong nội bộ bè lũ thống trị thực dân này bắt nguồn từ chỗ xung đột quyền lợi: đám tư bản thực dân cũng như đám đô đốc tướng lĩnh sau 1/4 thế kỷ bóc lột và thống trị Lục tỉnh của đất nước ta cho rằng công lao chiếm đóng” được đất nước ta là của chúng, hay ít nhất chúng là công đầu và muốn sáp nhập toàn bộ nền thống trị thực dân ở Việt Nam vào quyền lợi bóc lột và thống trị của chúng ở Lục Tỉnh bất cứ với giá nào. Theo Đờ La- nét- xăng thì “riêng những người có kinh nghiệm về xứ An Nam thì quyết tỏ ra đối lập với mọi tư tưởng trực trị đối với bất cứ phần đất nào đó của vương quốc ấy và đã biện hộ cho một đường lối cai trị bảo hộ đồng nhất với Bắc Kỳ và Trung Kỳ”[90]. Và mặc dù cái “đường lối cai trị bảo hộ đồng nhất” ấy đã được thực dân tính toán kỹ lưỡng rằng: “chúng ta [thực dân - TG] chỉ phải cần 4 năm hoặc 5 năm để thiết lập một nền bảo hộ, nhưng phải để ít ra là từ 10 đến 15 năm cho một nền trực trị”[91], hơn nữa, “khi thi hành một cách thông minh và thực tế thì người ta [thực dân - TG] có thể thiết lập được một chế độ bảo hộ mà thực chất là chế độ trực trị được giảm nhẹ và che phủ bằng chếc áo hoàng bào của quốc vương An Nam”[92], nhưng mâu thuẫn trong nội bộ bè lũ cướp nước vẫn xảy ra gay gắt giữa Tòa Tổng sứ của Pôn-Be với Phủ Thống đốc Nam Kỳ. Là “đại diện có thẩm quyền của đường lối chính trị” mệnh danh là “điều hòa các quyền lợi ngay trong lòng Viện Cơ mật” của Tòa Tổng sứ thực dân đầu tiên, dĩ nhiên Trương Vĩnh Ký bị lôi cuốn thẳng vào phạm vi mâu thuẫn giữa Tòa Tổng sứ với đám thực dân cai trị ở Lục tỉnh. Chính bản thân Trương rất biết rõ điều đó:

“Kỳ trung tôi cũng mừng lắm vì đại nhân [Pôn-Be - TG] đã có danh giá là một nhà tâm lý học, không đến nỗi dùng lầm một người nguy hiểm như độc dược (Pen nơ Xi-e-phe - giám mục Pene Siefert) với một tên phản thần [Trương Vĩnh Ký - TG]… Khi ở Sài Gòn đi, 3 tháng không lương. Tôi tỏ việc này với đại nhân là có ý muốn cho đại nhân thấy nhiều người ghen ghét tôi một cách xấu xa y như lời tôi đã nói với đại nhân hồi trước. Họ muốn làm hại tôi, mà họ biết cách làm hại lắm. May mà đại nhân tin cậy tôi thì cũng như tôi đã báo cái thù ấy được rồi”[93].

Thậm chí có khi Trương còn tỏ bày sự lo ngại về vai trò mà Tòa Tổng sứ của Pôn- Be phó thác cho Trương:

“…Tôi vẫn biết trong mấy ngày nay, Tòa Tổng sứ cứ khuyên răn triều đình nước Nam chớ lầm theo ý định đó.: Chắc Tòa Tổng sứ đã tính kế nào khác rồi chớ chẳng không? Vậy xin đại nhân [Pôn-Be - TG] so sánh hai cái kế ấy rồi đại nhân định liệu lấy… Ông Pen (giám mục Pefnee Siefert) có dò ý tôi, muốn cho tôi làm việc khác nữa đó không biết. Vả tôi bị nhiều người dại dột hoặc hung ác họ ganh ghét rồi, nên tôi không muốn vì đại nhân mà thêm một số người ganh ghét nữa”[94].

Nhưng rồi bất thình lình Pôn-Be chết, Pôn -Vi-an (Paul Vial) tạm thay quyền Pôn-Be để chỉ huy đường lối cai trị của Tòa Tổng sứ. Một trong những việc đầu tiên của Vi-an làm là cách tuột chức vị của Trương ở Huế với lý do như sau:

“… Vì trong quyền lợi của xứ này, điều cần thiết là nước Pháp [thực dân - TG] phải được đại diện ở kinh đô Huế bởi chỉ một nhân viên nhà nước mà thôi và không một nhân vật [95] quan trọng nào có thể ở bên cạnh nhân viên đó và dùng một ảnh hưởng mà tới một lúc nhất định sẽ có thể mâu thuẫn với ảnh hưởng của nhân viên đó”[96].

Nhưng trước khi bị cách chức, Trương Vĩnh Ký cũng đã biết rõ điều ấy và đã dùng uy thế của Pôn-Be để chửi mát Tòa Tổng sứ mới của Vi-an:

“Tôi không ngạc nhiên chút nào về việc người ta chửi bới sự nghiệp của ngài Pôn-Be bởi vì sự nghiệp của bậc vĩ nhân đó chỉ bị chửi bới sau cái chết của mình. Tôi chẳng ngạc nhiên gì mấy điều đó bởi vì đối với tôi, tôi đã biết rõ những sự xung đột giữa những nhân vật cao cấp xung quanh ngài Pôn-Be cũng như mối bất bình của các cấp chính quyền và quân sự dưới quyền ngài rồi”[97].

Để làm dịu bớt cái mà năm 1886 Trương Vĩnh Ký gọi là “nhiều người dại dột” và năm 1927 Bu-sô gọi là “những kẻ chỉ biết sự kiện một cách bề ngoài” trong đám thực dân trực trị, tên đô đốc La-gơ-răng-đi-e đã liên tiếp bảo tổng sứ sử dụng Trương Vĩnh Ký nhưng rồi cũng vẫn không được chúng chấp thuận. Trong tình hình đó, thái độ của Trương Vĩnh Ký thế nào? Trương vẫn theo đuổi mục tiêu của đời mình. Năm 1887, bản thân Trương Vĩnh Ký đã tự chứng minh cho lập trường và phương pháp “không ngừng phụng sự nước Pháp [thực dân - TG] của Trương như sau: “Ta không thể nghĩ tới một nền trực trị. Điều đó hiện giờ là không thể được và chắc chắn sẽ tạo ra những kẻ bất mãn trong dân chúng xứ này và có thể cả đến những cuộc khởi nghĩa mà ta không có cách gì dẹp được với những nguồn người và vũ khí hiện nay cả”[98]. Hơn nữa, Trương vẫn tuyên bố rằng Trương “hoàn toàn thuộc quyền sử dụng” của nền thống trị thực dân. Vì thế, tháng 5 năm 1888, Trương Vĩnh Ký lại đề nghị kế hoạch giải quyết vấn đề biên giới giữa chủ nghĩa thực dân Pháp và vương quốc Xiêm. Chỉ cần đọc hết bản kế hoạch ấy của Trương gửi Phủ Toàn quyền Đông Dương là chúng ta đủ thấy rõ thêm lập trường giai cấp mà Trượng Trương tự gọi là “vai tuồng trung gian” của bản thân Trương. Kỳ thực Trương Vĩnh Ký chỉ làm việc và sử dụng giai cấp địa chủ phong kiến cùng hệ tư tưởng phong kiến để phụng sự chủ nghĩa thực dân, ngay cả lúc Trương “rút lui vào trong đáy cùng của sự ẩn dật” mà thôi.

Rồi với đạo dụ ngày 5/7/1887, triều đình phong kiến đã thủ tiêu nốt những gì còn sót lại của hàng ước 1884 và tự biến thành những kẻ chạy giấy ăn lương của chủ nghĩa thực dân. Do đó, từ trong giai cấp địa chủ phong kiến, thực dân Pháp đã tìm thấy những kẻ chúng đang cần đến để đóng vai kinh lược, tiểu phủ sứ, khâm sai kiểu Hoàng Cao Khải, Lê Hoan, Trần Bá Lộc,… mang “lính triều đình” cùng với “lính bảo hộ” đi đàn áp, tiêu diệt những người yêu nước mà đạo dụ năm Đồng Khánh thứ nhất đã khép vào tội “phản quốc” rồi. Chính trong tình thế trên đây mà từ mấy năm cuối đời, Trương Vĩnh Ký đã hầu như bị bỏ ra ngoài những hoạt động chính trị thực dân và Trương “chỉ còn tìm thú tiêu khiển bằng cách ngắm nghía một cách bình yên như một khán giả vô tư, những biến cố qua đó, tôi [Trương - TG] thấy chiều hướng của nó, dành cho mình vai trò của một người thày thy bị hy sinh”[99]. Mặc dù lý tưởng sống của Trương Vĩnh Ký “là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng trở thành người Pháp [thực dân - TG] thực sự”, thế nhưng do mâu thuẫn nội bộ tạm thời của bè lũ thống trị thực dân trong việc định đường lối và phương pháp bóc lột, thống trị toàn bộ dân tộc Việt Nam, Trương tự bắt buộc phải “rút lui vào trong đáy cùng của sự ẩn dật” vùi đầu vào nghề khảo cứu và kinh doanh xuất bản. Nhưng rồi Trương bị hai cái khánh tận, nhà in…nối nhà…mất hơn năm, sáu ngàn đồng bạc. Phần thì sách vở bán không chạy, mắc nợ nhà in Rây-ê Quy-ri-ôn (Rey et Curiol) phần thì bị… phải bảo lãnh nợ cho no hết hơn…lại thêm phát…đau hư khí huyết”[100]. Thế là, “nhìn thấy tình trạng tuyệt vọng của mọi công việc” Trương đành tìm an ủi trong mớ triết lý của Gia Tô giáo kết hợp với kinh viện học phương Đông trước khi chết để lại bài thơ tuyệt mệnh này:

 “Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai

Xô đẩy người vô giữa cuộc đời

Học thức gửi tên con sách nát

Công danh rút cục cái quan tài

Dạo hòn lũ kiến men chơn bước

Bò xối côn trùng chắc lưỡi hoài

Cuốn sổ bình sinh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thừa khai”.

Người ta không lấy làm lạ thấy Thống đốc Nam Kỳ Pi-ca-nông (Picanon) đã nhân danh bè lũ tư bản đó, đô đốc thực dân lớn bé ở Lục tỉnh đến đọc diễn văn ở đám tang Trương Vĩnh Ký được tổ chức rất long trọng để tuyên bố rằng: “Trương tiên sinh hết lòng phò tá Pháp quốc [thực dân - TG] và thuộc địa. Vậy nên Pháp quốc đời đời ghi tạc ơn nghĩa của tiên sinh”[101].

Nhưng Trương Vĩnh Ký chết mà vẫn chưa hết chuyện của Trương với chủ nghĩa thực dân. Mười năm sau (1908), thực dân cho dựng tượng Trương Vĩnh Ký ở cạnh Dinh Thống Đốc và Nhà thờ Lớn Sài Gòn. Rồi từ đó tên tuổi Trương Vĩnh Ký cũng như uy thế tinh thần và xã hội vốn do mối liên hệ đồng hóa của Trương với chủ nghĩa thực dân tạo ra, còn được chủ nghĩa thực dân sử dụng vào cái gọi là “hình ảnh Pháp - Nam gắn bó” trong chính sách thống trị tinh thần nhằm đánh lạc hướng để chống lại truyền thống yêu nước và truyền thống dân tộc chân chính của nhân dân ta.

Cuộc đời của Trương Vĩnh Ký cũng là bài học lịch sử cho những kẻ đã và đang đem trí tuệ, dù là “trí tuệ uyên bác” của mình gắn liền với chủ nghĩa thực dân cũ cũng như chủ nghĩa thực dân mới. 

                                                          Năm 1964



 * Bài viết chung với Hoàng Văn Lân, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 61, tháng 4-1964, tr.16-30, theo thứ tự tên tác giả: Hoàng Văn Lân, Đặng Huy Vận. ( bài đã được lược bớt phần không đi vào trọng tâm như tiêu đề bài báo- Đặng Thị Vân Chi)

Bài cũng được đăng lại trong Đặng Huy Vận ( 2019), Phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIXm đầu thế kỷ XX, NXB ĐHQG T.P Hồ Chí Minh


[2].Lê Thanh, Trương Vĩnh Ký, biên khảo, Hà Nội 1943, tr.30.

[3] Đặng Thúc Luông, Trương Vĩnh Ký hành trạng, Sài Gòn, 1927, tr.5-15.

[4] Đặng Thúc Luông, Trương Vĩnh Ký hành trạng, Sài Gòn, 1927, tr.5-15.

[5] Đặng Thúc Luông, Trương Vĩnh Ký hành trạng, Sài Gòn, 1927, tr.5-15.

[6] Đặng Thúc Luông, Trương Vĩnh Ký hành trạng, Sài Gòn, 1927, tr.5-15.

[7]  Tham khảo: Nguyễn Tiến Lãng, Pestrus Trương Vĩnh Ký, Lettre et Apotre Hranco - Annamrite, 1939, Hà Nội.

[8] Thư của Trương Vĩnh Ký gửi Pôn- Be ngày 7 tháng 7 năm 1886.

[9] Tham khảo: Lavisse,- Histoire de FranceFrance, tập VII, phần I, Nnhà xuất bản Hachette.

[10] Tham khảo: Andrien Launay,- Histoire générale de la Société des missions étrangères, Paris, 1894, quyển III.

[11] Andrien Launay, Sách đã dẫn, tr.104.

[12] Thư Trương Vĩnh Ký gửi nghị viên Bơ-lăng-xuy-bê ( Blanhcsube’) tháng 10-1881.

[13] Diễn văn của Thống đốc Nam Kỳ Pi-ca-nông trong đám tang của Trương Vĩnh Ký năm 1898.

[14] J. Bouchot,- Petrus Trương -Vĩnh -Ký, Erudit cochinchinois Sai Ggon, 1927, tr.15.

[15]   Điện của Trương Vĩnh Ký gửi Tổng thống Pháp ngày 4-9-1886.

[16] Tham khảo diễn văn ở Nghị viện Pháp năm 1863 của Bộ trưởng Chasseloup Laubat và Báo cáo của Chasseloup Laubat gửi lên Napoléon ngày 4-11-1886.

[17] Điện của Đuy- pe- re cho Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp ngày 28-7-1873.

[18] Tham khảo : J. Challey,- Paul Bert au Tonkin, Paris, 1887.

[19] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.6.

[20] P.M. Vial, L’instruction publique en Conchinchine, 2  è Edition, Paris, 1872, tr.1.

[21] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.17.

[22] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.42.

[23] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.17

[24]   Thư của Trương Vĩnh Ký gửi Blancsube’ tháng 10 năm 1881.

[25] Tham khảo: Albert de Poupourville, La politique Iindochinoise, Paris, 1894, tr.89.

[26] nin toàn tập, tập 19.

[27] Hịch chống giặc Pháp (khuyết danh) ra đời ngay sau hàng ước “cắt đất” 1862.

[28] Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

[29] Nguyễn Thông, Kỳ xuyên văn sao.

[30] Hịch chống giặc Pháp (khuyết danh) ra đời ngay sau hàng ước “cắt đất” 1862.

[31] Tuyên bố của Nguyễn Trung Trực trước lúc hy sinh.

[32] Thư của Trương Công Định trả lời Phan Thanh Giản tháng 2 năm 1863.

[33] Báo cáo của Trương Vĩnh Ký gửi Duy- pe- rê ngày 28-4-1876.

[34] Báo cáo của Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-b Be ngày 5-10-1886.

[35] A.de Poupourville, La politique Indchinoise, Paris, 1894, tr.115-116.

[36] Tham khảo : “Nhật ký công văn phúc từ” của Trương Vĩnh Ký, bản nháp để lưu trữ ở Tthư viện Khoa học Hà Nội.

[37] P. Vial, Histoire de la Cochinchine, q.II, tr.183.

[38] Tuyên bố của Trương Vĩnh Ký với giáo hoàng năm 1863.

[39] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn- Bbe tháng 10 năm 1886.

[40] Thư Trương Vĩnh Ký gửi giám mục Siiefert (một trong những cố vấn chính trị quan trọng của Pôn B-be) ngày 15-9-1888.

[41] Thư của Pôn- Bbe gửi Trương Vĩnh Ký trong thời kỳ Trương làm ở Viện Cơ mật của triều đình Đồng Khánh.

[42] Báo cáo của Trương Vĩnh Ký gửi Blancsube’ tháng 10 năm 1881.

[43] Paul Bert, Discours prononce’ à Saigon le 28/3/1886.

[44]   Tức là “những nguyên tắc” mà Trương đề ra trong bản báo cáo gửi Blancsube’ nói trên.

[45] Thư của Trương Vĩnh Ký gửi Pefnee Siefert ngày 15-9-1888.

[46] Puginier,- Noies sur la question du Tonkin, Bản thảo in thạch cao để ở Tthư viện Kkhoa học Hà Nội.

[47] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.16-17.

[48]   Tham khảo Etudes coloniales,. III, Paris, 1894

[49] Paul Vial, Sách đã dẫn, tr.5-10.

[50] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.90.

[51] Ernest Renan, “ Rapport annuel à la séance du 30/6/1880 de la de la société asiatique, và Abrégé Schreiner,- Abre’ge’ de l’histore d’Annam, tr.195-205.

[52] De Pourville, La polotique Iindochinoise 1892-1893, Paris, tr.116.

[53] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.17.

[54]   Etudes colonials, III, Paris, 1894, tr.89.

[55] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.16-18.

[56] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.16-18Như trên.

[57] Tham khảo: Bbáo cáo ở Hhội nghị Thuộc địa, Paris, 1906.

[58] Dumoutier, Les desbuts de L’enseignement Francais, Hà Nội, 1887.

[59] Tham khảo : Báo cáo ở Hội nghị Thuộc địa, Paris, 1906.

[60] Tham khảo: Báo cáo ở Hội nghị Thuộc địa, Paris, 1906Như trên.

[61] Tham khảo: Luro (E.), Lle pays d’An Nam, Paris, 1906.

[62] Vial, L’instruction publique en Cochinchine, 2 e’ edition, Paris, 1872, tr.10.

[63] Tham khảo: Vial, L’Instruction publique en Cochinchine, Paris, 1872 và Cultru (P.), Histoire de la Cochinchine Francaise des origins à 1883, Paris, 1910.

[64] Bernard, L’Indochine, erreurs et dangers, Paris, 1901.

[65] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.15.

[66] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.15.

[67] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Cay- u (Du Caillaud) tháng 8-1888.

[68] nin toàn tập, tập 4, tr.327.

[69] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.53.

[70] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-b Be ngày 10-5-1886.

[71] Tham khảo: “Nam trung tập tấu”, lưu trữ ở Thư viện Khoa học Hà Nội.

[72] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-b Be ngày 5-10-1886.

[73] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Ppôn-b Be ngày 25-9-1886.

[74] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Tòa Tổng sứ ngày 19-2-1887.

[75] J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.53.

[76] Tham khảo Puginier, Notes sur la question du Tonkin, Bản thảo để ở Tthư viện Khoa học xã hội.

[77] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-b Be ngày 5-10-1886.

[78] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-bBe ngày 17-6-1886.

[79] Báo cáo Trương Vĩnh Ký gửi Tòa Tổng sứ ngày 19-22-1887.

[80] Báo cáo Trương Vĩnh Ký gửi Tòa Tổng sứ ngày 19-22-1887Như trên.

[81] Thư Trương Vĩnh Ký gởi Pôn-bBe ngày 10-5-1886.

[82] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-b Be ngày 5-10-1886.

[83] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-be ngày 5-10-1886Như trên.

[84] Thư Trương Vĩnh Ký gửi nghị viên Sa- van (Chavannes) sau khi bị Paulin Vial cách chức.

[85] Tham khảo : De Lanessan,- coloniales Francaise en Indochine, Paris, 1895.

[86] Tham khảo: De Lanessan, coloniales Francaise en Indochine, Paris, 1895Như trên.

[87] Tham khảo : J. Challey,- Paul Bert au Tonkin, Paris, 1887, tr.73.

[88] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-b Be tháng 10 năm 1886.

[89] Thaâm khảo : Joseph Challey, Paul Bert au Tonkin Paris, 1887, tr.40-70.

[90] De Lanessan, L’Indochine Francaise, Paris, 1889, tr.694-698.

[91]  Puginier, Notes sur la question du Tonkin, bản thảo để ở Thư viện Khoa học Hà Nội.

[92] Puginier, Notes sur la question du Tonkin, bản thảo để ở Thư viện Khoa học Hà NộiNhư trên.

[93] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn B-be ngày 7-7-1886.

[94] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Pôn-b Be ngày 10-5-1886.

[95] Thư Pô- lanh Vi-an gửi Trương Vĩnh Ký ngày 11-12-1886.

[96] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Tòa Tổng sứ ngày 8-12-1886.

[97]   J. Bouchot, Sách đã dẫn, tr.83.

[98] Thư Trương Vĩnh Ký gửi Tòa Tổng sứ 3 tháng sau khi bị cách chức.

[99] Lettres sur la natural sation des indigenes en Cochinchine, tr.23.

[100]   Tham khảo tập Nhật ký cuối đời của Trương Vĩnh Ký.

[101]   Le Courrier de Sai Ggon, 7-7-1898.

NHÌN NHẬN TRƯƠNG VĨNH KÝ THẾ NÀO CHO ĐÚNG? *

                                              Hoàng Văn Lân và Đặng Huy Vận   I. Q uan điểm xét vấn đề B ước vào nửa sau thế kỷ XIX, với sự ...