Thứ Sáu, ngày 13 tháng 3 năm 2015

Tâm thức biển Việt Nam

Bài trên báo Nhân dân ngày 27/2/2015
                                                                                                NGUYỄN QUANG NGỌC
  
Ngư dân các làng biển miền trung vào mùa đánh bắt mới. Ảnh: DƯƠNG HỒNG LÂM
Ngư dân các làng biển miền trung vào mùa đánh bắt mới. Ảnh: DƯƠNG HỒNG LÂM

Từ buổi bình minh của lịch sử đất nước, người Việt Nam luôn nhận mình là con người của biển, sinh ra từ biển, lớn lên trên biển, gắn bó máu thịt với biển. Biển là không gian sinh tồn và phát triển; là biểu tượng của sự hùng cường, sức vươn lên và những điều tốt đẹp, tinh hoa, tinh túy nhất của dân tộc. Tâm thức biển Việt Nam kết quyện lại chính là tình yêu và sự gắn bó số mệnh với biển của mỗi người dân.
Tiếng vọng cội nguồn
Việt Nam nằm ở phía đông của bán đảo Đông Dương, có địa thế tựa lưng vào núi, ngoảnh mặt ra Biển Đông, với bờ biển dài 3.260 km. Biển Đông là không gian sinh tồn, là cánh cửa mở ra với thế giới của Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử.
Không gian biển đảo Đông Bắc là nơi sản sinh nền văn hóa Hạ Long nổi tiếng cách ngày nay hàng nghìn năm. Văn hóa Hạ Long là một dòng văn hóa bản địa góp phần tạo thành nền văn hóa Đông Sơn và tô đậm thêm yếu tố biển của nền văn minh đầu tiên của người Việt. Đây cũng đồng thời là địa bàn căn bản của nước Văn Lang, Âu Lạc.
Ở khu vực miền trung, trên dải đất núi ăn ra sát biển, sông ngắn và dốc, đồng bằng nhỏ hẹp, thật khó có thể bảo tồn được sự sống lâu dài nếu con người hoàn toàn chỉ đánh cược vào nghề nông. Để tồn tại và phát triển, từ cư dân tiền Sa Huỳnh, Sa Huỳnh đến người Chăm không còn con đường nào khác là phải tiến ra biển, tìm ở biển một con đường sống mới. Thông qua các hoạt động mưu sinh, từ vùng biển gần đến các vùng Hoàng Sa, Trường Sa, người Sa Huỳnh, Chămpa trở thành chủ nhân đích thực của biển khơi.
Nam Bộ là một vùng đất cổ, có lịch sử văn hóa lâu đời và gắn bó hữu cơ với môi trường sông biển. Cư dân Nam Bộ suốt trong quá trình hình thành và phát triển luôn là cộng đồng cư dân có truyền thống khai thác biển mạnh hơn nhiều vùng khác.
Lịch sử Việt Nam do được tích hợp từ ba dòng như thế, tuy mỗi khu vực vẫn bảo tồn những truyền thống riêng, nhưng cũng sớm định hình một xu thế thống nhất của một dòng chảy chủ đạo, trong đó năng lực khai chiếm các vùng biển đảo trở thành thước đo sức mạnh và vị thế của một vương triều hay một thời đại.
Chắc chắn các nhà nước Ngô, Đinh, Tiền Lê dưới các hình thức khác nhau, đều đã có chiến lược biển, nhưng do hạn chế về tư liệu mà khó có thể mô tả được cụ thể. Đến thời Lý, đặc biệt vào thời Lý Anh Tông, nhà vua đã có cả một chiến lược tương đối đầy đủ và hệ thống đối với các vùng biển đảo như xây dựng các cơ sở quản lý của triều đình trung ương, đóng mới và tổ chức các đội thuyền lớn chuyên hoạt động trên biển, tiến hành kiểm tra, kiểm soát, xác định ranh giới trên biển, bảo vệ dân chúng và mở rộng các quan hệ giao thương buôn bán với nước ngoài.
Bước sang thời Trần, công việc tổ chức khai thác, quản lý và phòng thủ biển đảo càng ngày càng được tổ chức quy củ. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên thế kỷ 13 của quân dân Đại Việt và Chămpa là một thiên anh hùng ca bất hủ, vì nó đã đánh bại không chỉ một lần mà đến cả ba lần một đại đế chế hùng mạnh và tàn bạo nhất thế giới đương thời. Kỳ tích của quân dân Đại Việt và Chămpa chính là đã khai thác triệt để lợi thế biển đảo để tổ chức các trận tiêu hao, tiêu diệt và dồn đoàn quân xâm lược vào một điểm tử huyệt ở cửa biển Bạch Đằng và nhấn chìm chúng chỉ trong một con nước triều.
Dưới thời Lê, đặc biệt là thời Lê Thánh Tông cuối thế kỷ 15, Biển Đông đã trở thành con đường chủ đạo mở mang quốc gia Đại Việt.
Vùng duyên hải phía nam được kéo dài đến địa đầu Phan Rang và mở rộng ra tận Bãi Cát Vàng, vừa khẳng định sự tiếp nối truyền thống khai thác biển đảo của các vương triều Chămpa trước đây, vừa thể hiện ý chí muốn vươn ra khai chiếm toàn bộ vùng biển đảo quan yếu này. Đấy chính là cơ sở để Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng kết thành nguyên tắc phát triển của quốc gia Đại Việt thế kỷ 16: "Biển Đông vạn dặm giang tay giữ, Đất Việt muôn năm vững trị bình" Tiếp nối truyền thống của cha ông, đầu thế kỷ 17, chúa Nguyễn Phúc Nguyên quyết định thành lập đội Hoàng Sa chính thức khai chiếm, xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông.
Đến cuối thế kỷ 17, chúa Nguyễn còn đặt thêm đội Bắc Hải đặc trách quản lý quần đảo Trường Sa và khu vực nam Biển Đông. Các vương triều Tây Sơn cũng vẫn tiếp tục đưa các đội Hoàng Sa, Bắc Hải ra các vùng biển đảo xa xôi làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ chủ quyền đất nước.
Tâm thức dân tộc
Có một thực tế là dù dưới vương triều hay thể chế nào thì người được điều ra quản lý, khai thác và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa vẫn phần nhiều là người gốc Sa Kỳ, Lý Sơn. Đấy là lý do giải thích tại sao ở Sa Kỳ, Lý Sơn hầu hết các di tích, truyền thuyết, văn hóa vật chất, tinh thần, văn hóa tâm linh... đều gắn với Hoàng Sa -Trường Sa. Người dân đảo Lý Sơn cũng như nhiều làng ở khu vực cửa Sa Kỳ còn lưu giữ được số lượng rất lớn truyền thuyết dân gian, thơ ca hò vè, ghi chép các phong tục tập quán, hội hè, tín ngưỡng trực tiếp hay gián tiếp phản ánh hoạt động của đội Hoàng Sa và sứ mệnh bảo vệ, khai thác vùng biển đảo. Đặc biệt là các miếu Hoàng Sa, những bến bãi đội Hoàng Sa xuất phát, cả những ngôi mộ giả, những nghĩa địa giả với những nghi lễ hết sức đặc biệt của làng quê đưa tiễn những người con quả cảm ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa; nguyện dấn thân vào cõi chết vì sự ổn định và trường tồn của một vùng biển đảo thiêng liêng.
"Hoàng Sa trời nước mênh mông, Người đi thì có mà không thấy về.
Hoàng Sa mây nước bốn bề, Tháng Hai khao lề thế lính Hoàng Sa".
"Hoàng Sa đi có về không, Lệnh Vua sai phái quyết lòng ra đi"...
Sa Kỳ, Lý Sơn, vì thế, từ lâu đã trở thành biểu tượng ngời sáng của truyền thống biển, văn hóa biển và tâm thức biển Việt Nam.
Người Việt Nam từ buổi bình minh của lịch sử đất nước cho đến nay luôn nhận mình là con người của biển, sinh ra từ biển, lớn lên trên biển, gắn bó máu thịt với biển. Biển là không gian sinh tồn, không gian phát triển, không gian linh thiêng, sống cùng biển, chết không rời biển.
Biển mênh mông, biển sâu thẳm; biển là bão tố, phong ba, nhưng biển cũng thật hiền hòa, thân thuộc. Biển Đông vô cùng lớn lao, hùng vĩ, nhưng cũng không phải là không thể chinh phục được bằng sức mạnh đoàn kết và đồng thuận: "Thuận vợ thuận chồng tát Biển Đông cũng cạn/Thuận bè thuận bạn tát cạn Biển Đông". Biển là biểu tượng của sự hùng cường, của sự chung sức chung lòng, của sức sống, sức chịu đựng, sức vươn lên và những cái tốt đẹp, tinh hoa, tinh túy nhất của dân tộc. Tâm thức biển Việt Nam kết quyện lại chính là tình yêu và sự gắn bó số mệnh với biển của người dân Việt Nam. Đấy cũng là một nội dung lớn của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Tâm thức biển hay chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã khắc sâu vào tâm khảm mỗi người, thành hằng số trong cuộc sống của cả cộng đồng dân tộc.
                                                                                            GS, TS, NGND NGUYỄN QUANG NGỌC
Nguồn:http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/thoi-su-chinh-tri/item/25690002-tam-thuc-bien-viet-nam.html

Thứ Hai, ngày 20 tháng 10 năm 2014

BỘ ATLAS UNIVERSEL CỦA PHILIPPE VANDERMAELEN - GIÁ TRỊ TOÀN CẦU, TÀI SẢN QUỐC GIA VIỆT NAM

(Phát biểu của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc tại Lễ bàn giao  bộ Atlas Universel giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Nội vụ)

Năm 1827 Philippe Vandermaelen (1795-1869), nhà Địa lý học kiệt xuất, thành viên Hội Địa lý Paris[1] xuất bản bộ Atlas Universel de géographie physique, politique, statistique et mineralogique (Atlas địa lý tự nhiên, chính trị, thống kê và khoáng sản thế giới, gọi tắt là Atlas Thế giới hay Atlas Toàn cầu) gồm 6 tập:  (1) Châu Âu, (2) Châu Á, (3) Châu Phi, (4) Bắc Mỹ, (5) Nam Mỹ, (6) Châu Úc với 7 bản đồ chung của các châu lục, 381 bản đồ chi tiết, 40 trang bảng thống kê và nhiều thông tin về địa lý tự nhiên, chính trị, khoáng sản của các quốc gia.

TẬP
CHÂU
BẢN ĐỒ CHUNG
BẢN ĐỒ CHI TIẾT
CỘNG
1
Châu Âu
1
29
30
2
Châu Á
1
111
112
3
Châu Phi
1
60
61
4
Bắc Mỹ
1
77
78
5
Nam Mỹ
2
44
46
6
Đại Dương
1
60
61

TỔNG SỐ
7
381
388

Như giới thiệu ở bìa trong, Philippe Vandermaelen vẽ bộ bản đồ này dựa theo những tấm bản đồ tốt nhất thế giới lúc đó, cùng những thông tin từ quan sát thiên văn hay những chuyến du hành ở nhiều nơi trên trái đất và được vẽ thống nhất theo tỷ lệ 1/1641836, kích thước 53,5x37cm. Đây là những tấm bản đồ thế giới đầu tiên được vẽ trên cùng một tỷ lệ, có cùng kích thước, theo phương pháp hình chiếu nón[2] (chứ không sử dụng phương pháp Mercator như trước đây) và cũng là bộ bản đồ đầu tiên trên thế giới được in li-tô (kỹ thuật in tiên tiến nhất cũng mới xuất hiện trước đó vài chục năm). Những bản đồ này còn có thể được ghép lại thành quả địa cầu có đường kính 7,755m. Bộ bản đồ của Philippe Vandermaelen thực sự là một cột mốc đánh dấu giai đoạn phát triển trội vượt cuả công nghệ vẽ và in bản đồ hiện đại ở đầu thế kỷ XIX. Chính vì thế mà ngay từ khi mới hoàn thành Atlas Universel đã trở nên hết sức nổi tiếng, được khai thác sử dụng ở khắp các châu lục và càng ngày càng trở thành tài sản chung của mọi người quan tâm trên phạm vi toàn thế giới[3]. Giáo sư Philippe Papin (Trường Cao học Thực hành Paris) nhận xét: "Trên thế giới có những người ham mê khoa học đến mức quên mình và nhờ đó đó để lại những đóng góp quý báu đối với kho tàng tri thức của nhân loại. Có thể nói Philippe Vandermaelen chính là một trong số những người này, mặc dù ban đầu không ai ngờ rằng nhà khoa học người Bỉ này sẽ trở thành một chuyên gia bản đồ lớn nhất của thế kỷ XIX và không ai có thể hình dung nổi ông sẽ lập được một bộ Atlas chi tiết và chính xác đến mức cho tới ngày nay vẫn là một công cụ không thể thiếu được đối với các nhà khoa học".
Bản đồ các nước Châu Á được xếp chủ yếu trong tập hai của bộ Atlas với 111 tờ bản đồ của hầu hết các quốc gia Châu Á đương thời, (riêng các quốc đảo ở khu vực Đông Nam Á lại được xếp vào tập sáu, châu Đại Dương). Việt Nam hay Đế chế An Nam (Empire d’Annam) khi đó được giới thiệu thông qua 4 tấm bản đồ: Tờ số 97 mang tên Tonquin chủ yếu về khu vực Bắc Kỳ; tờ số 110 mang tên Partie de Camboge chủ yếu về khu vực Nam Kỳ; tờ số 105 mang tên Camboge et Anam, trong đó phần phía Đông của tờ này chủ yếu là khu vực Trung Kỳ đất liền và tờ số 106 mang tên Partie de la Cochinchine là khu vực Trung Kỳ duyên hải, biển và hải đảo[4].

IMG_7714
IMG_7716
Bộ Atlas universel xếp đứng
theo thứ tự từ tập 1 đến tập 6
Bìa trong tập 2 bộ Atlas universel
xuất bản năm 1827 tại Bruxelles

Partie de la Cochinchine vẽ liền một mảnh rộng ngang khổ giấy A3, thể hiện đường bờ biển miền Trung từ vĩ tuyến 12 (khu vực tương đương với tỉnh Khánh Hòa hiện nay, mà trên bản đồ có địa danh BINK-KANG (Bình Khang) và NHIATRANG (Nha Trang)) đến vĩ tuyến 16 (khu vực tương đương với tỉnh Quảng Nam hiện nay, mà trên bản đồ ở phía ngoài bờ biển có địa danh CHAMPELLA (Cù Lao Chàm)).




Tiếp liền Partie de la Cochinchine ở phía trên là tấm số 98 mang tên Partie de la Chine trong khoảng vĩ độ 18-21 và kinh độ 106-114 vẽ khu vực Canton (Quảng Đông) và đảo Hải Nam (Hainan) khẳng định một cách hết sức rõ ràng biên giới cực nam của Trung Quốc là vị trí cực nam của đảo Hải Nam, nằm ở phía trên vĩ độ 18°.
Phía ngoài khơi, PARACELS (Hoàng Sa) được vẽ khá chi tiết và chuẩn xác trong khoảng từ vĩ độ 16° đến 17° và kinh độ từ 109° đến 111°[5]. Quần đảo PARACELS trong bản đồ có các đảo Pattles, Duncan ở phía tây; Tree và Lincoln, Rocher au dessus de l’eau (Bãi đá ngầm) ở phía đông và Triton ở phía tây nam, ngay dưới vĩ độ 16°; Investigateur ở sâu xuống phía nam khoảng vĩ độ 14,5°.


Tấm bản đồ (Châu Á) số 106 mang tên Partie de la Cochinchine
Tấm bản đồ (châu Á) số 98 mang tên Partie de la Chine


Bên cạnh khu vực được xác định là PARACELS, bản đồ có một bản giới thiệu tóm tắt về Đế chế An Nam (Empire d’An-nam), bao gồm  các nội dung Physique (tự nhiên), Politique (chính trị), Statistique (thống kê) và Minéralogique (khoáng sản).


IMG_8151
Vị trí của các tấm bản đồ số 97, 98, 105, 106 và 110
trong bản đồ chung về khu vực châu Á

Cũng thống nhất với các khu vực khác trên thế giới, tấm bản đồ chung về khu vực châu Á xác định vị trí cụ thể của từng bản đồ chi tiết. Tấm thứ 97 Tonquin được xếp trước và ngang liền với tấm thứ 98 mang tên Partie de la Chine. Người xem bản đồ có thể thấy đường biên giới rất rõ ràng của Trung Quốc với Tonquin ở tấm số 97 chạy liền mạch sang tấm số 98 bao lấy đường bờ biển và đảo Hải Nam, không xuống dưới vĩ tuyến 18. Tấm số 105  Camboge et Anam được xếp dưới liền với tấm số 97 và ngang liền với nó là tấm số 106 Partie de la Cochinchine. Phía dưới liền với tấm số 105 là tấm số 110 mang tên Partie de Camboge vẽ về khu vực Nam Bộ của Việt Nam và ngang liền với nó là khu vực quần đảo được đánh dấu bằng cái tên B.du.P.de Galles, nhưng không thể hiện thành bản đồ chi tiết và như thế bộ Atlas Universel của Philippe Vandermaelen chưa có bản đồ chi tiết về khu vực này.
Tất cả các bản đồ của Trung Quốc từ thập kỷ đầu thế kỷ XX trở về trước cũng hoàn toàn thống nhất với bản đồ phương Tây không hề vẽ lãnh thổ cực nam của Trung Quốc vượt xuống dưới vĩ độ 18°[6]. Điều này không chỉ phản ánh tính khách quan, chuẩn xác của Atlas Universel, mà còn góp phần làm tăng thêm giá trị minh chứng chủ quyền của Việt Nam ở Paracels đã được thể hiện trong Partie de la Cochinchine
Bắt đầu từ thế kỷ XVI đã có một số bản đồ phương Tây vẽ về khu vực Đông Ấn có đánh dấu địa danh Pracel hay Paracels (Hoàng Sa) ở giữa Biển Đông và khu vực bờ biển phía tây Pracel hay Paracels (tương đương với bờ biển miền Trung Việt Nam) được quan niệm là Costa de Paracel (bờ biển Hoàng Sa) nói lên mối quan hệ về chủ quyền của Vương quốc Champa và của Đàng Trong (Cochinchine) thời chúa Nguyễn đối với các quần đảo giữa Biển Đông.
Bước sang thế kỷ XVII và nhất là thế kỷ XVIII, trong bối cảnh phát triển bùng nổ của thương mại và công nghệ bản đồ, sự hiểu biết của người phương Tây về khu vực Biển Đông cũng cụ thể và sâu sắc hơn, nhiều bản đồ đã thể hiện rõ ràng hơn vị trí, đặc điểm địa lý và mối quan hệ chủ quyền của Paracels với khu vực Đàng Trong. Tuy vậy có thể dễ dàng nhận thấy hầu hết các bản đồ này vẫn vẽ các quần đảo giữa Biển Đông là một dải đảo và vẫn xếp các quần đảo này vào chung khu vực Đông Ấn hay Đông Nam Á.
Phải đến đầu thế kỷ XIX, khi Vương triều Nguyễn được thành lập với sự khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa (bao gồm cả Trường Sa) một cách đầy đủ, thật sự theo đúng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ được phương Tây thừa nhận và ca ngợi[7], bản đồ phương Tây mới chính thức xác nhận quần đảo Paracels nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và thuộc về nước Việt Nam.
Trước đây chúng ta đã phát hiện và giới thiệu An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Jean Louis Taberd năm 1838, trong đó có vẽ 9 dấu chấm nhỏ tượng trưng cho khu vực được đánh dấu là PARACELS Seu Cát Vàng (Paracels hay là Cát Vàng). Mặc dù vẫn biết đây là bản đồ vẽ toàn bộ đế chế An Nam trong một cái nhìn tổng thể và việc đánh dấu được vị trí của Paracels ở trong đó là vô cùng quý giá, nhưng nếu muốn nghiên cứu về Paracels và chủ quyền của Việt Nam ở Paracels một cách rõ ràng, cụ thể thì phải tham khảo thêm các tài liệu khác, trong đó có bài luận của chính Jean Louis Taberd viết năm 1837[8]. Partie de la Cochinchine trong bộ Atlas Universel của Phillipe Vandermaelen không chỉ đã đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu nhận thức này, mà còn là một bảo đảm bằng vàng cho sự chính xác của An Nam đại quốc họa đồ.
Partie de la Cochinchine thuộc số rất ít bản đồ tính cho đến những thập kỷ đầu thế kỷ XIX đã vẽ một cách tuyệt đối chính xác vị trí (kinh độ, vĩ độ), đặc điểm địa lý, tên gọi phương Tây của các đảo lớn nhất và quan trọng nhất trong quần đảo Hoàng Sa. Bản đồ đặt trong khu vực Cochinchine (Đàng Trong, mà người phương Tây lúc đó dùng để chỉ khu vực miền Trung Việt Nam) là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của Đế chế An Nam, đã minh chứng một cách đầy đủ, rõ ràng và chuẩn xác chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa ít nhất vào những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, khi bộ bản đồ được xây dựng và xuất bản. Tấm bản đồ Cochinchine sau khi được nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan khoa học, đặt trong mối quan hệ với bản đồ của các quốc gia khu vực xung quanh Biển Đông được thể hiện trong tập châu Á và châu Đại Dương; so sánh đối chiếu với các nguồn tư liệu bản đồ, thư tịch cổ của Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây khác xuất hiện trong khoảng những thập kỷ đầu thế kỷ XIX thì chắc chắn nó có giá trị kiểm chứng, làm tăng thêm giá trị khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa của chính bản đồ này và toàn bộ hệ thống bản đồ, tư liệu mà chúng ta đã tập hợp được.
Cũng cần phải nói thêm ở đây là Partie de la Cochinchine thông qua phương pháp vẽ bản đồ khoa học và hiện đại, đã đánh dấu một cách chính xác vùng các đảo ven bờ như Cham Collac ou Champella (Cù Lao Chàm), P. Canton ou Cacitam (Cù Lao Ré)… và phân biệt một cách hết sức rạch ròi với quần đảo Hoàng Sa ở giữa Biển Đông, mà bất cứ những ai có tâm thần và trí tuệ bình thường đều không thể nhầm lẫn được. Partie de la Cochinchine là bản đồ thực sự khách quan, khoa học, có tính chuẩn xác cao, lại được chính thức xuất bản sớm (từ đầu thế kỷ XIX), không chỉ khẳng định một cách mạnh mẽ, tuyệt đối chính xác chủ quyền của Việt Nam ở Paracels (Hoàng Sa), mà còn có đủ cơ sở vững chắc để bác bỏ một cách triệt để lối giải thích mập mờ, tùy tiện, mà thực chất là lợi dụng xuyên tạc của một số học giả Trung Quốc rằng Paracels hay Hoàng Sa, Trường Sa chỉ là các đảo ven bờ (như Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré...), còn Tây Sa, Nam Sa của Trung Quốc mới là các đảo ở giữa biển, không có liên quan gì đến Paracels hay Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX trở về trước[9].

Bộ Atlas Universel của Philippe Vandermaelen nói chung và Partie de la Cochinchine nói riêng xét trên mọi khía cạnh đều có thể được coi là một tài liệu vô giá không chỉ giúp nâng cao giá trị khoa học chuẩn mực của công cuộc tuyên truyền, giáo dục về chủ quyền biển đảo, mà còn là một bằng chứng hùng hồn, đích thực và có giá trị pháp lý quốc tế cao cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.

*
*    *

Đánh giá một cách chính xác giá trị pháp lý quốc tế khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Paracels tương đương khu vực từ vĩ tuyến 17° trở xuống phía Nam và lãnh thổ, lãnh hải cực Nam của Trung Quốc chỉ bắt đầu từ phía trên vĩ tuyến 18° ngược lên phía Bắc, dưới sự chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông, mà trực tiếp là Thứ trưởng Trương Minh Tuấn và Cục trưởng Cục Thông tin đối ngoại Lê Văn Nghiêm, được sự tài trợ kinh phí của ông Ngô Chí Dũng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Dược phẩm ECO, cùng sự cộng tác của các chuyên gia về Sử học, Địa lý học, Bản đồ học, Văn bản học, Thư viện học, Lưu trữ học, Luật pháp quốc tế ở Viện Địa lý Hoàng gia Bruxelles, Thư viện Quốc gia Bỉ, Hội Luật gia Châu Âu, Trường Viễn Đông bác cổ Pháp, Thư Viện Quốc gia Pháp, Đại học Paris VII, Thư Viện Đại học Y Paris, Trường Cao học Thực hành Paris… chúng tôi đã quyết định mua bộ gốc, trọn bộ, nguyên bản Atlas Universel của Philippe Vandermaelen xuất bản tại Bruxelles năm 1827 tại hiệu sách và bản đồ cổ Sanderus, Nederkouter 32, 900 Gent - Belgium (ông Filip Devroe là Chủ hiệu) và Đại sứ quán Việt Nam ở Pháp đã giúp đỡ việc chuyển về Việt Nam trở thành tài sản Quốc gia Việt Nam.
Bộ Atlas được đưa về Việt Nam đúng vào lúc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, ngay lập tức Bộ Thông tin và Truyền thông cho giới thiệu rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và trưng bày trang trọng trong 10 cuộc triển lãm Quốc gia ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, huyện đảo Lý Sơn, Cà Mau, huyện đảo Trường Sa, Quảng Ninh, huyện đảo Cô Tô và nhiều địa phương khác… tạo nên dấu ấn sâu sắc, niềm xúc động mạnh mẽ và củng cố ý chí, niềm tin ở sức mạnh chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia lãnh thổ.
Chúng tôi xin được trân trọng cám ơn Bộ Thông tin và Truyền thông cùng nhà tài trợ và các chuyên gia, các cơ quan hữu quan trong nước và quốc tế đã tạo điều kiện tối ưu cho chúng tôi được khảo sát, nghiên cứu xác định giá trị của bộ Atlas Universel, làm cơ sở bước đầu giới thiệu tới toàn thể quý vị hôm nay. Hy vọng rồi đây Bộ Khoa học và Công nghệ hay Quỹ Quốc gia về Khoa học và Công nghệ sẽ quan tâm đầu tư triển khai đề tài khoa học bài bản và tổ chức hội thảo khoa học quốc tế để các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực chuyên môn ở trong nước và trên thế giới cùng nhau nghiên cứu, đánh giá, trao đổi làm sáng rõ hơn những nội dung của bộ Atlas Universel mà bản thân chúng tôi chưa có điều kiện và khả năng đi sâu tìm hiểu. Đến khi đó chúng ta mới có thể đánh giá được một cách đầy đủ và chuẩn xác giá trị của bộ Atlas Universel cũng như kinh nghiệm khai thác và sử dụng nó, phục vụ hiệu quả cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.



[1] Đến đầu năm 1829, ông trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Hoàng gia các nhà Khoa học và Mỹ văn Vương quốc Bỉ. Năm sau, 1830 ông sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bruxelles. Năm 1836 ông được tặng Huân chương Léopold của Hoàng gia Bỉ. Ông cũng là thành viên của nhiều tổ chức khoa học khác tại Vương quốc Bỉ cũng như quốc tế.
[2] Đã gần 2 thế kỷ trôi qua, kể từ sau khi Philippe Vandermaelen cho xuất bản bộ Atlas này, việc sử dụng phương pháp hình chiếu nón vẫn được coi là phương pháp thể hiện một cách trung thực nhất bề mặt trái đất hình cầu lên mặt phẳng của tấm bản đồ Thế giới.
[3]Theo chúng tôi được biết bộ Atlas này hiện nay vẫn còn được lưu giữ tại nhiều kho sách hay thư viện của các viện nghiên cứu và trường đại học thuộc nhiều nước châu Âu, châu Á và châu Mỹ. Cuối tháng 4 và đầu tháng 5 vừa qua, chúng tôi cùng các cộng tác viên cũng có cơ hội được trực tiếp khảo sát, nghiên cứu 1 bộ ở trường Đại học Y Paris; 2 bộ (1 bộ rời và 1 bộ đóng thành 6 tập) ở Thư viện Quốc gia Paris; 1 bộ đóng thành 6 tập ở Thư viện Viện Địa lý Hoàng gia Bruxelles và 2 bộ (1 bộ rời và 1 bộ đóng thành 6 tập) ở Thư viện Hoàng gia Bruxelles; 1 bộ đóng thành 6 tập ở Hiệu sách và bản đồ cổ Sanderus, số 32 Nederkouter, thành phố Gent nước Bỉ. Ngoài ra nhiều trường Đại học, Viện nghiên cứu, Thư viện và nhiều Hiệu sách và bản đồ cổ ở Đức, Hàn Lan, Pháp, Mỹ... đều có thông tin lưu giữ bộ Atlas Universel của Philippe Vandermaelen. Đặc biệt, năm 2009 Studio kỹ thuật số của Thư viện Đại học Princeton (Mỹ) đã triển khai dự án số hóa bộ Atlas Universel và đến năm 2011 đã đưa lên mạng cho tất cả những người quan tâm trên toàn thế giới khai thác và sử dụng.  
[4] Có nhiều người quen dịch Cochinchine là Nam Kỳ. Tuy nhiên trong trường hợp này phải dịch là Đàng Trong hay Trung Kỳ mới đúng, vì Cochinchine từ đầu thế kỷ XVII cho đến năm 1884 vẫn được gọi chung cho toàn bộ khu vực Đàng Trong (tính từ Đồng Hới, Quảng Bình trở vào Nam). Bắt đầu từ năm 1885 Cochinchine mới trở thành tên gọi riêng cho khu vực Nam Kỳ.
[5] So với bản đồ Thế giới hiện nay thì đường vĩ tuyến trong bộ Atlas Universel hoàn toàn trùng khít, đường kinh tuyến lệch khoảng 2 độ (thí dụ Hải Khẩu, đảo Hải Nam, Trung Quốc trong bản đồ hiện nay là 110°, nhưng trong bộ Atlas Universel là 108°). Sự sai lệch này không chỉ khẳng định độ chuẩn xác của bản đồ mà còn xác nhận tính nguyên gốc của nó, vì Atlas Universel của Philippe Vandermaelen lấy kinh tuyến Paris (Pháp) làm chuẩn. Đường kinh tuyến Greenwich (Luân Đôn, nước Anh) lần đầu tiên được dùng để vẽ bản đồ biển vào năm 1871 và được thống nhất sử dụng để vẽ bản đồ Thế giới từ năm 1884. Hai hệ thống này lệch nhau 2 độ 20 phút 14 giây. (Tham khảo: Marguerite Silvestre : Inventaire raisonné des collections cartographiques Vandermaelen, Tập V L’Atlas Universel (1825-1827), Bibliotheque royale de Belgique, 2011, chú thích 12 trang 17)
[6] Bản đồ Trung Quốc có thể tham khảo Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (1904); Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ... Bản đồ phương Tây có đến hàng trăm bản đồ vẽ về đế chế Trung Hoa nói chung, khu vực tỉnh Quảng Đông nói riêng hay các nước trong khu vực Đông Ấn có biên giới với Trung Quốc mà đường biên giới đất liền và biên giới biển được phân định rất rõ ràng. Ranh giới biển của Trung Quốc từ nhà Thanh trở về trước chưa bao giờ vượt xuống dưới vĩ tuyến 18°. Có một sự kiện được cả Thế giới quan tâm là vào tối ngày 28 tháng 3 năm 2014, nhân chuyến thăm chính thức Cộng hòa Liên bang Đức của Chủ tịch nước Trung Quốc, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã tặng cho Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tấm bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc thời nhà Thanh do nhà bản đồ học người Pháp Jean Baptiste Bourguignon (1697-1782) vẽ và in tại Đức năm 1735, mà bất cứ ai nhìn vào tấm bản đồ này cũng có thể thấy ở phía dưới đảo Hải Nam không có bất cứ một dấu hiệu nào chứng tỏ có đảo hay biển thuộc phạm vi lãnh thổ hay lãnh hải của nhà Thanh. Tất cả các tấm bản đồ phương Tây khác đều vẽ thống nhất như thế này, thậm chí còn chỉ ra một cách chính xác tuyệt đối rằng biên giới truyền thống của Trung Quốc chưa bao giờ vượt quá vĩ tuyến 18°. Thông điệp của Thủ tướng Đức Angela Merkel là các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay không nên quên ranh giới của nước Trung Hoa do tổ tiên, ông cha họ đã tạo dựng trong suốt trường kỳ lịch sử. Sự nhầm lẫn hay thiếu hiểu biết sẽ dễ dẫn đến nguy cơ phá vỡ trật tự, thậm chí gây hỗn loạn toàn cầu.
[7] Thí dụ Jean Louis Taberd cho biết: Quần đảo Pracel hay Paracels là một khu vực chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát... Những người dân xứ Đàng Trong gọi khu vực đó là Cồn Vàng. Mặc dù rằng hình như loại quần đảo này chỉ có độc những tảng đá ngầm mà không có gì khác, và độ sâu của biển hứa hẹn những điều bất tiện hơn là sự thuận lợi, nhưng nhà vua Gia Long vẫn nghĩ rằng ông ta đã tăng cường được quyền thống trị lãnh thổ của mình bằng sự sáp nhập tội nghiệp đó. Vào năm 1816, nhà vua đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc chắn là sẽ không có một ai tìm cách tranh giành với ông ta".
Và đây là nhận xét của M.A Dubois Jancigny:"Chúng tôi chỉ muốn nhận xét rằng đã từ 34 năm nay, (từ 1816 đến 1850), quần đảo Paracels (mà những người An Nam gọi là Cát Vàng), thật là một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát thật sự đã làm những người đi biển kinh hãi và chỉ có thể kể đến trong số những địa điểm hoang vu cằn cỗi nhất của địa cầu, quần đảo do đã bị các người xứ Đàng Trong chiếm giữ. Chúng tôi không rõ họ đã có đặt một cơ sở nào không (có thể với mục đích là bảo vệ công việc đánh cá), nhưng chắc chắn rằng nhà vua Gia Long đã chủ tâm đính thêm đoá hoa độc nhất vô nhị đó vào chiếc vương miện của ông, bởi vì ông đã xét thấy cần thiết phải đi tới việc đích thân chiếm giữ lấy quần đảo đó, và chính vì thế mà năm 1816 ông đã long trọng kéo lá cờ xứ Đàng Trong lên mảnh đất đó"....   
[8] Bản đồ đã vẽ tương đối chính xác vị trí của Paracels nằm ở phía trên vĩ độ 16° và kinh độ 111°. Bên trong đường viền mép dưới bản đồ còn có dòng chữ: Longitude Easte from Greenwich (Kinh tuyến Đông từ Greenwich, (Luân Đôn, nước Anh)). Việc có thêm một dòng chữ tiếng Anh này hẳn cũng lưu ý người sử dụng bản đồ cần tìm hiểu thêm về tính nguyên gốc của văn bản này. Theo chúng tôi An Nam đại quốc họa đồ được Jean Louis Taberd vẽ năm 1838 theo kinh tuyến Paris, (cơ bản thống nhất với bài luận viết năm 1837 cho hay Paracel bắt đầu ở khoảng kinh độ 107° Đông Paris), nhưng đến khoảng cuối thế kỷ XIX được chỉnh theo kinh tuyến Greenwich. Đây chỉ là thay đổi đường kinh tuyến từ hệ Paris sang hệ Greenwich, mà không có ảnh hưởng gì đến các vị trí cụ thể trong tấm bản đồ được vẽ năm 1838. Độ xác thực của tấm bản đồ vì thế cũng không có gì thay đổi.
[9] Đới Khả Lai (Đại học Trình Châu, Hà Nam, Trung Quốc), Hàn Chấn Hoa (Đại học Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Quốc) từ đầu những năm 1980 chủ trương có 2 giai đoạn nhận thức về Paracels: Từ giữa thế kỷ XIX trở về trước thì Paracels chỉ là các đảo ven bờ như Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré, còn từ giữa thế kỷ XIX trở lại đây mới quan niệm vị trí của Paracels như hiện nay. Vu Hướng Đông (Đại học Trình Châu, Hà Nam, Trung Quốc) trong luận án tiến sĩ bảo vệ tại Đại học Hà Môn (Phúc Kiến, Trung Quốc) năm 2008 còn muốn đi xa hơn các bậc tiền bối của mình, cho rằng Hoàng Sa chỉ là Cù Lao Ré (vì ở Cù Lao Ré có đội Hoàng Sa) và Trường Sa chỉ là dải bãi cát Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa ở bờ biển tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay?. Đây là sự xuyên tạc một cách quá lộ liễu mà chỉ cần đọc Partie de la Cochinchine một cách nghiêm túc cũng có đủ cơ sở để vạch trần chân tướng và bác bỏ một cách triệt để. Cũng cần phải nói rõ thêm là Trung Quốc tự cho rằng họ có chủ quyền lâu đời ở Tây Sa (tức Hoàng Sa theo cách gọi Việt Nam hay Paracels theo cách gọi phương Tây), nhưng trên thực tế, đến năm 1909 họ mới bắt đầu đặt chân lên quần đảo này, tự cho mình là kẻ khai sơn, phá thạch và đặt tên mới cho đảo là Tây Sa (mà không biết (hay cố tình không biết) là từ cuối thế kỷ XV, người Việt Nam đã gọi đây là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa), đã xác lập chủ quyền với tư cách nhà nước ít nhất từ đầu thế kỷ XVII và đã thực thi chủ quyền trong điều kiện hòa bình, không có tranh chấp nhiều thế kỷ liên tục, được chính người Trung Quốc đương thời và các nước phương Tây thừa nhận).   

Thứ Ba, ngày 17 tháng 6 năm 2014

Mỗi tấc đất Tổ quốc là một thước đo phẩm giá



Báo Nhân dân hàng tháng. Thứ ba, 05/02/2013 - 02:59 AM (GMT+7) Giải nhất báo chí toàn quốc!

GS, TS Nguyễn Quang Ngọc.
Nơi bắt đầu Tổ quốc, cũng là nơi bắt đầu của lịch sử một dân tộc. Những ngày đầu năm, hướng về nguồn cội, về biên cương hải đảo, GS, TS Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, đã dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện dưới góc nhìn lịch sử.

Chủ quyền lãnh thổ trong tâm thức nhân dân
Thưa Giáo sư, qua những cứ liệu lịch sử, ông có thể cho biết sự hình thành lãnh thổ và chủ quyền đất nước Việt Nam được bắt đầu như thế nào?
- Sau một quá trình phát triển lâu dài của các nền văn hóa tiền sử, vào sơ kỳ thời đại Đồ Sắt, trên lãnh thổ của nước Việt Nam hình thành ba trung tâm văn hóa lớn làm cơ sở cho sự ra đời của những nhà nước cổ đại đầu tiên: văn hóa Đông Sơn ở miền bắc dẫn đến sự ra đời của nhà nước Văn Lang, Âu Lạc; văn hóa Sa Huỳnh ở miền trung và Nam Trung Bộ chuẩn bị cho sự xuất hiện nhà nước Lâm Ấp, Chămpa và văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ quan hệ với sự ra đời của vương quốc Phù Nam.
Nước Việt Nam ngày nay bắt đầu quá trình hình thành từ ba vùng văn hóa lớn đầu tiên ấy. Ý thức truyền thống về chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam cũng bắt đầu từ quá trình ra đời và hợp nhất của ba nhà nước sơ khai này. Nói một cách khác, từ ba vương quốc đầu tiên làm cơ sở nền tảng, cốt lõi, dần dần mở ra quá trình khai phá, dựng xây, quá trình chinh phục núi rừng, biển cả hoang sơ, từng bước mở cõi và định cõi. Không chỉ trên đất liền, dân tộc Việt Nam sinh ra trên bờ Biển Đông, sống cùng biển và sớm vươn ra khai chiếm biển. Và dấu chân đi mòn mở lối của ông cha từ nghìn đời đã rất tự nhiên - hình thành nên những vùng biên cương lãnh hải.
* Vậy cũng theo góc nhìn lịch sử, đường biên giới trên biển cũng như trên bộ, rõ ràng không chỉ là ranh giới hành chính, mà là dấu mốc thiêng liêng của quá trình sinh sống của tổ tiên ta nghìn đời. Đó còn là truyền thống văn hóa, có rất nhiều yếu tố hợp thành?
- Đó là sự ghi dấu quá trình mở đất và giữ đất của các thế hệ tiền nhân. Ngay buổi đầu khai hoang mở đất, lấn biển, chống chọi với thiên nhiên hoang dã, lịch sử được viết bằng những trang mồ hôi, nước mắt, máu xương của bao thế hệ người Việt Nam, thấm đẫm, quấn quyện, chất chồng. Mảnh đất đó vì thế mà trở thành thiêng liêng, thành gắn bó như bộ phận trong cơ thể, không thể và không dễ gì lại có thể để rơi vào tay người khác. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bắt đầu từ đất đai nơi mình chôn nhau cắt rốn, tình yêu quê hương đất nước bắt đầu từ những cái hết sức bình dị như vậy. Những vùng đất, vùng biển xa xôi như Hoàng Sa, Trường Sa chẳng hạn, khi mà tổ tiên chúng ta đi ra đó, thực sự là những cuộc vật lộn, chống chọi với bão tố, phong ba, dấn thân vào cõi chết và vượt lên cái chết: “Hoàng Sa đi có về không/ Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi”. Người dân đảo Lý Sơn ra Hoàng Sa, Trường Sa là vì lệnh vua, phép nước, vì sự toàn vẹn của lãnh hải, lãnh thổ của cha ông để lại, và còn vì sự mưu sinh nữa. Đất đai, biển cả của Tổ quốc, đâu chỉ đơn thuần là đất, là nước, là biển, là đảo đá, bãi ngầm, bãi cạn..., mà còn là cả núi xương, biển máu của lớp lớp các thế hệ người Việt Nam kết tinh trong đó. Vì vậy mà vô cùng thiêng liêng.
Vâng, biên giới hải đảo của Tổ quốc không chỉ rõ ràng trên bản đồ, văn bản, mà còn một cứ liệu lịch sử khác vô cùng quan trọng, đó là sự lưu giữ trong tâm thức của nhân dân...
- Cương vực và lãnh thổ Việt Nam không chỉ được xác định và cố định lại trong hệ thống bản đồ, tư liệu, cứ liệu lịch sử rõ ràng, minh bạch, chuẩn xác, mà còn ghi đậm, khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam.
Điều đó thể hiện xuyên suốt trong lịch sử, thành một ý thức truyền thống bền chặt. Lý Thường Kiệt và quân dân nhà Lý quyết tiêu diệt đến cùng quân xâm lược Tống trên chiến tuyến sông Cầu là để khẳng định một chân lý vĩnh hằng rằng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” (Sông núi nước Nam vua Nam ở). Thời vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết rất rõ: “Từ Triệu - Đinh - Lý - Trần bao đời xây nền độc lập/Cùng Hán - Đường - Tống - Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”. Đến Lê Thánh Tông thì việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đã trở thành mệnh lệnh thiêng liêng: “Kẻ nào dám đem một thước đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc sẽ bị tội tru di”. Ông cho khắc tuyên ngôn bất hủ của mình trên núi Bài Thơ (Hòn Gai, Quảng Ninh): “Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại” (Muôn thuở Trời Nam núi sông còn mãi). Ý thức chủ quyền quốc gia lãnh thổ đã trở thành một nguyên tắc tối thượng: Nếu một người nào đó, bất kể họ là ai, để mất vào tay kẻ thù dù chỉ một tấc đất của cha ông thì đều bị khép tội phản quốc và phải chịu hình phạt cao nhất của triều đình.
Trọng trách tối cao của mọi triều đại
* Vậy, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia lãnh thổ là trọng trách hàng đầu của mỗi triều đại trong lịch sử dân tộc?
- Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, gìn giữ toàn vẹn mỗi tấc đất biên cương, mỗi dặm hải lý biển cả của Tổ quốc không chỉ là trọng trách cao cả của mọi vương triều, mọi thể chế chính trị, mà còn là tiêu chí cao nhất để xác định phẩm giá con người Việt Nam. Điều đó được ký thác trong dân gian. Bất cứ ai, dù nổi tiếng đến đâu, nhưng nếu để mất nước, mất đất thì đều bị lên án gay gắt. Trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XV, Hồ Quý Ly là một bậc anh hùng cái thế, nhưng chỉ vì cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược không thành, mà đã phải “để hận mấy nghìn năm”. Phan Thanh Giản, Tiến sĩ nho học đầu tiên của Nam Bộ, một trí thức lừng danh của thế kỷ XIX, buộc phải thay mặt triều đình ký hiệp ước nhượng bộ thực dân Pháp. Dù đã chọn cho mình cái chết, ông vẫn không khỏi mang tiếng là “mãi quốc” (bán nước). Hay như vua Gia Long, người có tài cầm quân, tổ chức và tập hợp dân chúng, nếm mật nằm gai mở cõi và định cõi, làm nên một nước Việt Nam thống nhất, rộng dài và trọn vẹn. Sự nghiệp của ông không thể nói là không lớn lao và lừng lẫy. Thế nhưng ông vẫn phải chịu trách nhiệm nặng nề trước lịch sử vì đã từng rước quân ngoại bang về dày xéo bờ cõi, và có thể vì thế mà cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách đánh giá rất khác nhau về ông. Lịch sử có những phán quyết nghiệt ngã đến như vậy, bởi vì chủ quyền lãnh thổ quốc gia bao giờ cũng là vấn đề trọng đại.
Điều đó cũng một phần bởi lịch sử đã trao vào dân tộc Việt Nam một số phận khắc nghiệt, luôn phải chống chọi với các thế lực ngoại xâm để bảo vệ chủ quyền quốc gia lãnh thổ?
- Đúng vậy. Có một thực tế là lãnh thổ nước ta ở vị trí trọng yếu, đầu mối của nhiều con đường giao thương, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, nơi tiếp xúc giữa đại lục và đại dương... Từ đó, mà đất nước ta luôn bị đe dọa, nhòm ngó bởi các thế lực lớn mạnh, từ nhiều phía, trong điều kiện tương quan lực lượng hết sức chênh lệch. Vì thế mà trong toàn bộ lịch sử lâu dài và oanh liệt của dân tộc Việt Nam, lịch sử chống ngoại xâm luôn luôn là nội dung xuyên suốt, bao trùm. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người Việt Nam có truyền thống thờ cúng những vị anh hùng, những người có công chống giặc ngoại xâm.
Bài học lịch sử về khát vọng hòa bình
* Vậy bài học lịch sử cho công cuộc gìn giữ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ đất nước là gì, thưa Giáo sư?
- Tôi thấy trong lịch sử, tất cả các vương triều tiến bộ và hùng mạnh đều giữ được trọn vẹn quốc gia lãnh thổ. Tại sao chúng ta đặc biệt đề cao nhà Trần? Vì nhà Trần ba lần chiến thắng Mông - Nguyên, đại đế chế hùng mạnh nhất thế giới đương thời. Vó ngựa của chúng đã dẫm nát cả hai đại lục Âu - Á, nhưng lại bị chặn đứng ở nước ta, không phải một lần mà đến ba lần. Vì sao? Trần Hưng Đạo tổng kết: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Bài học trong lịch sử giữ nước là giữ dân, là cải thiện và nâng cao đời sống của dân. Giữ nước phải vì dân, vì thế mới huy động được sức mạnh của toàn dân.
Tất cả các kẻ thù ngoại bang đều nhằm vào lúc đất nước rối ren mà tấn công, xâm chiếm. Một trong những điểm yếu cơ bản mà kẻ thù dễ lợi dụng, đó chính là sự chia rẽ, mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ. Trái lại, một khi đã đoàn kết được toàn dân thì ngay trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp nhất, chúng ta vẫn hoàn toàn có đủ khả năng lật ngược thế cờ.
Một bài học quan trọng nữa: mặc dù số phận đặt lên vai dân tộc ta một lịch sử đi liền với đoạn trường chinh chiến như vậy, nhưng không mấy dân tộc như Việt Nam lại cháy bỏng khát khao hòa bình đến thế. Lê Lợi, Nguyễn Trãi sau hàng loạt những kỳ tích anh hùng ở Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang, đẩy quân Minh trong thành Đông Quan vào thế “kế cùng, lực kiệt”, chỉ còn chờ bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhưng các vị đã không chọn con đường đánh tiêu diệt, mà sẵn sàng “giảng hòa” kết thúc chiến tranh dưới hình thức hội thề. Hội thề Đông Quan thực chất là hiệp ước đầu hàng của quân Minh, bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ của Đại Việt mà không hao tổn thêm xương máu. Ý chí đó được Nguyễn Trãi viết: “Sửa hòa hiếu cho hai nước/Tắt muôn đời chiến tranh” - đó mới là mục đích cao nhất của cuộc chiến. Đây là chiến công của tầm cao trí tuệ, nhân văn, của “đại nghĩa thắng hung tàn”, của “chí nhân thay cường bạo”, thực hiện trọn vẹn khát vọng hòa bình của một dân tộc đã phải chịu quá nhiều mất mát thương đau.
Để có được những bài học từ thế hệ trước như vậy, rõ ràng việc nghiên cứu lịch sử là hết sức quan trọng. Là chuyên gia về lịch sử Việt Nam, ông có thể cho biết, việc tiếp cận tư liệu cũng như điều kiện nghiên cứu, phổ biến những công trình khoa học lịch sử có gì khó khăn?
- Có thể nói lịch sử chống ngoại xâm được các nhà nghiên cứu quan tâm rất sớm và mảng lịch sử chống ngoại xâm đã quy tụ được những thành tựu to lớn nhất của Sử học Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua.
Tư liệu thì chúng ta không thiếu. Các bộ “Việt sử lược”, “Đại Việt sử ký”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Việt sử thông giám cương mục” và nhiều các bộ sử cũ khác ghi chép về các trận đánh khá kỹ càng. Trong các nguồn sử liệu mà chúng tôi sử dụng, mặc nhiên chính sử, các tư liệu thư tịch cổ, tư liệu khách quan đương đại phải là quan trọng hơn cả. Tuy nhiên cũng phải thấy một thực tế là có những câu chuyện lịch sử thật khó có thể tìm thấy trong chính sử, mà lại ẩn chứa trong các nguồn tư liệu khác như văn bia, thần tích, ngọc phả, sắc phong, đại tự, câu đối, gia phả, hương ước, địa bạ, tục lệ, địa danh, di tích, di vật trên mặt đất và trong lòng đất... Cũng có nhiều tư liệu quý vì những lý do khác nhau đang được lưu trữ ở nước ngoài.
Mùa hè năm 2011, đến thăm Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Pháp ở Aix-en-Provence, tôi có dịp tiếp cận một khối lượng đồ sộ các nguồn tư liệu về khu vực Biển Đông, trong đó có nhiều bản đồ, ghi chép, công văn giấy tờ... minh chứng một cách rõ ràng và hiển nhiên chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả các nguồn tư liệu Việt Nam, phương Tây và Trung Quốc mà tôi đã có dịp khai thác ở trong nước và ngoài nước đều thống nhất xác nhận chủ quyền thật sự và lâu đời của Việt Nam ở đây. Các tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”, “Thanh đại đồ”, “Trung Hoa bưu chính dư đồ” cùng hàng loạt các bản đồ Trung Quốc khác mới được giới thiệu gần đây là thuộc thế hệ các bản đồ truyền thống của Trung Quốc, xác nhận một cách cụ thể, rõ ràng ranh giới phía nam của Trung Quốc chỉ đến cực nam của đảo Hải Nam, ở vào vĩ độ 18 độ 33 phút. Giá trị của hệ thống các bản đồ này là ở chỗ nó đồng thời xác nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía dưới vĩ tuyến 18, không có liên quan gì đến phạm vi lãnh thổ, lãnh hải cổ truyền của Trung Quốc. Những cứ liệu lịch sử ấy hết sức quan trọng và giới nghiên cứu lịch sử hầu như đều biết. Lịch sử hiển nhiên không cần phải chứng minh lại nữa.
* Vậy làm thế nào để những cứ liệu lịch sử khoa học và cụ thể ấy đến được với mỗi người dân Việt Nam?
- Trong cuốn “Lịch sử nước ta”, Bác Hồ viết: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Hiểu được gốc tích chủ quyền lãnh thổ quốc gia là rất quan trọng và thiêng liêng. Còn làm như thế nào, đó là việc mà các nhà sử học, các nhà giáo dục học, nhà trường và gia đình, bản thân mỗi người, với lòng yêu nước và trách nhiệm cao cả đều sẽ phải làm.
Vâng, xin cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện. Xin chúc Giáo sư một năm mới an lành.
HỒNG MINH (Thực hiện)

Nguồn:http://www.nhandan.org.vn/mobile/_mobile_nhandanhangthang/_mobile_chinhtri_ndht/item/193902.html