Thứ Ba, ngày 02 tháng 2 năm 2016

MỘT VÀI NÉT VỀ BÁO CHÍ VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA (1865-1945)

Đặng Thị Vân Chi
( Bài đăng trong Giảng dạy nghiên cứu Việt Nam học và Tiếng Việt- Những vấn đề Lý luận và Thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, ISBN 978-604-73-3750-7, từ tr 50-67



Tóm tắt: Ra đời cùng với quá trình thực dân hóa của đế quốc Pháp ở Việt Nam, báo chí tiếng Việt đã nhanh chóng phát triển từ vị trí là công cụ của chính quyền thực dân sang vai trò của một kênh thông tin, truyền bá văn hóa. Trong điều kiện  Việt Nam đang chịu ách đô hộ của thực dân Pháp sự phát triển của báo chí đã tạo nên một không gian văn hóa tư tưởng giúp người dân thảo luận về các vấn đề của đất nước, của dân tộc… Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, báo chí đã nhanh chóng trở thành phương tiện tuyên truyền, vận động và hướng dẫn phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc trong  những năm nửa đầu thế kỷ 20
( Từ khóa: báo chí, dòng báo chuyên biệt, giải phóng dân tộc, văn hóa, tư tưởng)

Báo chí tiếng Việt ở Việt Nam mặc dù ra đời và phát triển cùng với quá trình thực dân hóa của chủ nghĩa tư bản Pháp, nhưng đã nhanh chóng trở thành phương tiện thông tin, truyền bá văn hóa, tư tưởng… Đặc biệt, báo chí tiếng Việt đã tạo ra những diễn đàn bước đầu có tính dân chủ cho những cuộc thảo luận về các vấn đề chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội…của các trí thức Việt Nam yêu nước, góp phần tạo nên những thay đổi lớn trong đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập với thế giởi hiện đại. Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu sơ lược các giai đoạn phát triển và những nét nổi bật của báo chí tiếng Việt từ khi hình thành tới Cách mạng tháng Tám năm 1945, với hy vọng đem lại cái nhìn toàn cảnh về báo chí Việt Nam thời thuộc địa.
1.     Từ vai trò là công cụ cai trị của chính quyền thực dân tới vai trò là  phương tiện truyền bá tư tưởng và văn hóa mới của báo chí Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
         Trước khi bị Pháp xâm lược, Việt Nam hoàn toàn chưa có báo chí. Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, và trong thời kỳ đầu của cuộc chinh phục này, thực dân Pháp đã sử dụng báo chí như một công cụ phục vụ quá trình xâm lược của chúng. Lịch sử cũng như nội dung các tờ báo thời kì này phản ánh rõ quá trình xâm lược của thực dân Pháp cũng như vai trò phục vụ công cuộc xâm lược và cai trị của những tờ báo tiếng Pháp thời kỳ này. Ví dụ ngay trong quá trình xâm lược Nam Kỳ, Pháp đã ra tờ Le Bulletin Officiel de L’Expe’dition de la Cochinchine (Tập kỷ yếu công vụ cuộc viễn chinh xứ Nam Kỳ ) năm 1861. Đến năm 1865, sau khi ba tỉnh còn lại của Nam Kỳ bị thôn tính thì tên báo được đổi là Bulletin Officiel de la Cochinchine FranCaise (Tập kỷ yếu công vụ xứ Nam Kỳ thuộc Pháp) và đến năm 1889, khi nền thống trị của Pháp được xác lập trên toàn cõi Việt Nam thì báo lại được đổi tên thành Bulletin Officiel de L’Indochine FranCaise (Tập kỷ yếu công vụ xứ Đông Dương thuộc Pháp) (Đỗ Quang Hưng (CB), 2000): 23) …
          Những tờ công báo này thường đăng tải các  nghị định, công văn, đạo luật, các chỉ thị của bộ máy thực dân, các bài diễn văn của thống đốc Nam Kỳ… và được lưu hành chủ yếu trong giới sĩ quan và viên chức thực dân. Vì vậy, tất cả các báo đều được in bằng tiếng Pháp.        
         Bên cạnh tờ công báo đầu tiên bằng tiếng Pháp, năm 1862 Pháp còn cho ra tờ báo chữ Hán, (được ghi lại trong các tài liệu tiếng Pháp là Le Bulltin Des Communes (Kỷ yếu Làng xã) để phổ biến những quyết định, những mệnh lệnh của đội quân xâm lược tới các chức sắc bản xứ cộng tác với Pháp trong tất cả các làng xã ở Nam Kỳ. Ngoài ra, Pháp còn cho xuất bản những tờ báo phục vụ mục tiêu khai thác kinh tế, như tờ Le Bulletin du Comite’ Agricole et industriel de la Cochinchine (Kỷ yếu của ủy ban canh nông và kỹ nghệ xứ Nam Kỳ) năm 1869Le buuletin du Commit Le’tudes Agricoles Industrelles et Commercialles de L’Annam et du Tonkin (Tập kỷ yếu của Uỷ ban nghiên cứu nông, công, thương Trung Kỳ và Bắc Kỳ) ra đời muộn hơn, vào năm 1886  (Đỗ Quang Hưng (CB), 2000: 23),  Avernir de Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) năm 1884
        Theo bài báo “Thử tìm long mạch của tờ báo ta” do tác giả Quán Chi khảo cứu đăng trên Trung Bắc chủ nhật từ số 101(3/3/1942) đến số 104 (29/3/1942) thì trước khi tờ báo Tiếng Việt đầu tiên, tờ Gia Định báo (xuất bản số đầu tiên ngày 15/4/1865) ra đời, chữ quốc ngữ đã được dùng khá phổ biến ở Nam Kỳ. Gia định  báo lúc đầu chỉ là một tờ tuần báo, chủ yếu đăng tải những thông tư, chính luận của chính quyền thực dân, một số bài thơ, vài câu chuyện hài đàm, chuyện cổ tích... chưa phải là một tờ báo có tính chất thông tin và truyền bá tư tưởng. Sau Gia định báo, tờ báo tiếng Việt thứ hai là tờ Phan Yên báo xuất bản năm 1868 và Nam Kỳ địa phận xuất bản  năm 1883 cũng có nội dung tương tự.
          Về thực chất những tờ báo thời kỳ này chỉ là công cụ của Pháp trong quá trình xâm lược. Nội dung của các tờ báo chỉ đơn giản là dịch đăng những bài viết từ công báo tiếng Pháp sang tiếng Việt cho người Việt đọc, như các công văn, giấy tờ, các văn kiện của chính quyền thực dân hoặc những tờ thông báo, cáo thị, tình hình giá cả, thuế khoá của Sở thuế, Phòng Thương chánh, Toà Thị chánh, quyết định thuyên chuyển công tác của giới sĩ quan... Shawn.F.Mc. Hale trong công trình nghiên cứu “n phẩm và quyền lực” của mình đã nhận xét: “Chính quyền thuộc địa Pháp cần rất nhiều tài liệu in ấn (mẫu đơn từ, hoá đơn, baó cáo...) để hoạt động một cách trôi chảy (có người đã cho rằng chính phủ thực dân cần giấy nhiều như vũ khí để giữ người dân dưới sự kiểm soát của họ)” (McHale.Shawn Frederick 1995: 13) .
        Những người Việt tham gia viết báo thời kỳ này hầu hết là những viên chức của chính quyền thực dân thông thạo chữ Hán, chữ Pháp, chữ quốc ngữ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường, Lương Khắc Ninh...
       Cùng với việc xuất bản báo chí, chính quyền thuộc địạ đã sớm ban hành những đạo luật, sắc lệnh về báo chí ở Đông Dương. Sắc lệnh ngày 30/12/1898 đã đình chỉ việc thi hành luật tự do báo chí ngày 29/7/1881 của chính phủ Pháp ở Đông Dương. Theo sắc lệnh này, quan Toàn quyền có thể  đình chỉ việc phát hành một tờ báo  hay xuất bản một ấn phẩm định kì bằng bất cứ thứ tiếng nào chỉ bằng một nghị định, cũng như không một tờ báo tiếng Việt nào có thể xuất bản nếu không được phép của quan Toàn quyền. Giấy phép xuất bản chỉ được cấp với điều kiện là văn bản các bài sẽ đăng báo phải được quan Toàn quyền Đông Dương duyệt y và giấy phép này có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Việc cấp giấy phép cũng rất hạn chế. Ví dụ ở Nam Kỳ từ năm 1927 đến năm 1933 có hơn 77 đơn xin xuất bản báo, nhưng chỉ có 13 tờ báo được cấp phép xuất bản (Cao Huy Thuần,, 2005: 90) Các bài báo đều bị sở báo chí của chính quyền địa phương kiểm duyệt trước [1].  “Khi báo lên khuôn, thanh tra nhà in đến nhà in đọc từng dòng những bài bình luận, phần tin tức quốc tế và cả những bài tường thuật các cuộc du hành quan phương” (Cao Huy Thuần,  2005: 88) . Cho đến năm 1914, ở Đông Dương có tới 16 sắc lệnh của Tổng thống Pháp và 20 nghị định của Toàn quyền và Thống sứ có liên quan tới báo chí đã được ban hành. Như vậy, thực tế là không có tự do báo chí mà chỉ có lưỡi kéo của chế độ kiểm duyệt.
        Tình trạng này được duy trì và khẳng định lại một lần nữa bằng luật báo chí ngày 4/10/1927 và hiệu lực của bộ luật này còn kéo dài cho đến năm 1938. Nó chỉ được bãi bỏ nhờ phong trào Mặt trận bình dân những năm 1936-1939. Có thể nói, chính sách kiểm duyệt báo chí của chính quyền thuộc địa đã quy định nội dung của báo chí cũng như quyết định sự tồn tại và phát triển của nền báo chí Việt Nam lúc bấy giờ.
         Sang đầu thế kỷ XX, quá trình đô thị hoá cũng như sự phát triển của tầng lớp thị dân, lối sống thị dân, những hoạt động công thương nghiệp của giới doanh nghiệp Việt Nam, và ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng dân chủ mới… đã tạo điều kiện cho báo chí phát triển phong phú hơn. Báo chí thời kỳ này không còn là của riêng chính quyền thực dân nữa mà đã xuất hiện những tờ báo tư nhân. Về nội dung, các báo cũng không đơn thuần là những tờ công báo nữa mà bước đầu phản ánh quyền lợi của giới kinh doanh công thương nghiệp cũng như phản ánh những chuyển biến trong tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá của Việt Nam lúc bấy giờ. Đáng chú ý là có một số tờ như Nông cổ mín đàm (1901- 1924), Đại Việt tân báo (xuất bản số đầu năm 1905), Đại Nam Đăng cổ tùng báo (1907), Lục tỉnh tân văn (1907-1921) đã bàn nhiều về vấn đề văn hoá, xã hội như tuyên truyền cho xu hướng canh tân hoặc đả phá chế độ khoa cử lỗi thời, những hủ tục trong lối sống... Nông cỏ mín đàm là tờ báo kinh tế có mục Thương cổ luận chuyên đăng bài về việc sản xuất, và kinh doanh… Tờ Đại Việt tân báo do E. Babut sáng lập và Đào Nguyên Phổ làm chủ bút. Theo Quán Chi thì Đào Nguyên Phổ là người có công đầu trong việc dịch các học thuyết chính trị mới, các sách Tân thư … và phổ biến chúng trên báo chí, kể cả tác phẩm triết học nổi tiếng “Bàn về tự do” [2] của John Stuart Mill, nhà tư tưởng và hoạt động xã hội người Anh cuối thế kỷ XIX cũng được dịch đăng từ sớm.
        Đại Nam Đăng cổ tùng báo được coi là tiếng nói của trường Đông Kinh Nghĩa thục, cổ vũ học chữ quốc ngữ, duy tân, phê phán các hủ tục trong tập quán sinh hoạt của người dân như đa thê, tảo hôn, đánh bạc, những thói quen sinh hoạt mất vệ sinh... Tuy nhiên tờ báo này chỉ tồn tại khoảng 10 tháng trong năm 1907. Sau khi  Đại Nam Đăng cổ tùng báo đóng cửa, trong suốt 6 năm từ 1907 tới 1913 ở Việt Nam chỉ còn lại hai tờ báo tiếng Việt xuất bản ở Nam Kì là tờ Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn. Ngay từ khi mới ra đời, Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn đã có hàng loạt bài về thực nghiệp, khuyến khích và cổ vũ hoạt động kinh doanh…
        Năm 1913, Đông Dương tạp chí được xuất bản, ra số đầu tiên ngày 15/5 tại Hà Nội. Người sáng lập và chủ nhiệm báo là Schneinder, người đã từng ở Việt Nam từ năm 1882 và cũng là người đã xuất bản tờ Lục tỉnh tân văn và Đại nam đồng văn nhật báo. Vì vậy, lúc đầu Đông Dương tạp chí được coi là một chi nhánh của Lục tỉnh tân văn ở Bắc và Trung Kỳ. Chủ bút của tờ báo này là Nguyễn Văn Vĩnh với sự cộng tác của các tác giả Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Trần Trọng Kim, Nguyễn Khắc Hiếu...
       Trong 2 năm đầu, 1913-1914, Đông Dương tạp chí (ĐDTC) mang tính chất là một tờ báo ngôn luận thông thường: tổng hợp, đăng tải các bài về tin tức thời sự chính trị xã hội lẫn văn chương, học thuật. Tháng 1/1915 báo Trung bắc tân văn (TBTV) được xuất bản ở Hà Nội, chủ nhiệm báo vẫn là Schneider và Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút với các cộng tác viên như của ĐDTC. Lúc đó báo TBTV chuyên “nghị luận về những việc thời vụ” còn ĐDTC sẽ chuyển thành tờ báo mang tính văn học, chuyên giới thiệu và dịch các tác phẩm văn học nước ngoài và các bài về khoa sư phạm; đặc biệt, củng cố và hoàn thiện chữ quốc ngữ. Cũng như ĐDTC, TBTV lúc đầu là tờ tuần báo, đến năm 1916 thì 3 ngày ra một số và đến năm 1919, khi Nguyễn  Văn Vĩnh mua lại tờ báo và nhà in từ Schneider, thì báo ra hàng ngày.
           Nhìn chung, trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các tờ báo đã chuyển dần từ vai trò là công cụ cai trị của chính quyền thực dân, thông báo các mệnh lệnh của chính quyền tới dân chúng sang vai trò là một kênh truyền bá tư tưởng học thuật, tạo nên  một không gian văn hóa tư tưởng, nơi mọi người có thể thảo luận các vấn đề về văn hóa và lối sống, vận động Duy tân, phê phán những hủ tục, chế độ tảo hôn, chế độ đa thê, vận động học chữ quốc ngữ ( Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí),  phê phán tâm lý “trọng nông, ức thương”, tuyên truyền, cổ vũ, đề cao tư tưởng thực nghiệp, phát triển kinh doanh công thương nghiêp, coi chấn hưng thực nghiệp như một giải pháp cho tình trạng yếu kém của Việt Nam… Có một hiện tượng đáng chú ý là ngay từ rất sớm vấn đề phụ nữ đã được đưa lên mặt báo, vừa là bàn về vấn đề của phụ nữ vừa mượn lời phụ nữ để bàn về những vấn đề chung của xã hội như các mục Nhời đàn bà trên Đăng cổ tùng báoĐông Dương tạp chí.
2.         Sự phát triển của báo chí tiếng Việt và sự mở rộng vai trò của báo chí  như một kênh giao lưu, tiếp biến và hội nhập văn hóa ở Việt Nam  từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến 1930
        Từ sau chiến tranh thế giới I, Pháp thực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai. Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai đã chuyển mạnh nền kinh tế Việt Nam sang hướng tư bản chủ nghĩa. Về mặt xã hội, nó làm vững mạnh thêm các giai tầng xã hội mới như công nhân, tư sản và tiểu tư sản, đặc biệt là tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Thời kỳ này, báo chí cũng phát triển mạnh hơn do Pháp không giữ độc quyền báo chí như trước nữa. Do đó, nhiều người Việt Nam đã được phép xuất bản báo chí. Đặc biệt có một số chủ doanh nghiệp đã mở rộng lĩnh vực kinh doanh công thương nghiệp sang lĩnh vực xuất bản báo chí.
           Bất chấp chế độ kiểm duyệt hà khắc của chính quyền thuộc địa, từ sau chiến tranh thế giới I  cho tới những năm đầu thập niên 1930, báo chí tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và nội dung. Năm 1922, cả nước chỉ mới có 19 tờ báo tiếng Việt thì đến năm 1925 đã có 25 tờ, năm 1927 có 36 tờ và năm 1929 lên tới 47 tờ. Các tờ báo tiêu biểu thời kì này là: Đông Dương tạp chí (1913-1918), Trung Bắc tân văn (1915-1945), Nam Phong (1917-1935), Nữ giới chung (1918), Thực nghiệp dân báo (1920-1933), Khai hoá nhật báo (1921-1927), Hữu thanh tạp chí (1921-1924), Đông Pháp thời báo (1923- 1928), An Nam tạp chí (1926-1930), Thần chung (1929-1930), Trung lập báo (1924-1933), Tân dân báo (1924-1925) Pháp Việt nhất gia (1927), Tiếng dân (1927-1943), Hà thành ngọ báo (1927-1929), Báo Đông -Tây (1929-1932), Phụ nữ tân văn (1929-1935), Kì lân báo (1928-1929), Văn minh (1926-1931)...
               Đánh giá chung về báo chí thời kỳ này, có thể thấy nổi bật lên 2 đặc điểm chính: Đó là thời kỳ báo chí do người Việt chủ trương (Nguyễn Việt Chước 1974:,10) và là thời kỳ của xu thế dung hòa văn hóa Đông-Tây (Nguyễn Việt Chước 1974: 17,). Sự phát triển của báo chí tiếng Việt đã tạo nên những không gian tương đối dân chủ cho sự giao lưu văn hóa và truyền bá tư tưởng mới, cũng như diễn đàn trao đổi về các vấn đề liên quan tới đời sống văn hóa, chính trị và tư tưởng ở Việt Nam, nơi phổ biến thông tin, liên kết cộng đồng trong những mối quan tâm chung. Có thể nhận rõ một số khuynh hướng thể hiện trên báo chí thời kỳ này:
·          Giới thiệu và truyền bá tư tưởng, văn hóa, văn minh thế giới.
               Điển hình theo khuynh hướng này là Tạp chí Nam Phong. Ra đời vào thời gian trước khi chiến tranh thế giới I kết thúc, năm 1917, trong bối cảnh chính quyền thuộc địa có chủ trương đẩy mạnh truyền bá văn hóa, văn minh Pháp, Nam Phong dưới sự dẫn dắt của Phạm Quỳnh đã không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền cho văn hóa văn minh Phương Tây mà còn dùng báo chí để giới thiệu, phổ biến di sản văn hóa, văn học phương Đông và Việt Nam. Từ các bài khảo cứu về triết học, lịch sử, khoa học, văn hóa và văn chương của cả phương Đông và phương Tây; dịch các tác phẩm triết học, văn học từ tiếng Pháp và chữ Hán ra tiếng Việt; sưu tầm và giới thiệu văn học cổ của Việt Nam…qua Nam Phong, người Việt Nam có thể tiếp cận với những học thuyết chính trị, những tư tưởng về dân chủ, tư tưởng nữ quyền, các tác phẩm văn chương… không chỉ của nhân loại mà cả di sản của ông cha để lại,… Cơ cấu vận hành, bộ máy quản lý xã thôn cổ truyền của Việt Nam cũng được giới thiệu và phân tích…Không phải không có lý do khi Nam Phong được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao về phương diện truyền bá kiến thức, văn hóa, văn học Thiếu Sơn đã nhận xét về đóng góp và ảnh hưởng của Nam Phong trong cuốn Phê bình và Cảo Luận như sau: “có nhiều người không biết đọc văn Tây, văn Tầu, chỉ nhờ Nam Phong hun đúc mà cũng có được cái tri thức phổ thông, tạm đủ sinh hoạt ở đời” (Thiếu Sơn, 1933: 19)
          Bên cạnh Nam Phong, một số tờ báo khác cũng góp phần vào công cuộc truyền bá tư tưởng, văn hóa, văn minh như Đông Dương tạp chí, Đông Pháp thời báo, Thần chung, Trung Lập, Hà Thành Ngọ báo
·       Vận động và cổ vũ Chấn hưng thực nghiệp.
          Từ cuối thế kỷ XIX, ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân đã đặt Việt Nam đứng trước một thử thách lớn, thay đổi để tồn tại và hội nhập với thế giới hay chấp nhận là người dân một nước thuộc địa ? Đứng trước sự tồn vong của quốc gia dân tộc, nhiều trí thức yêu nước đã đưa ra những đề nghị cải cách nhằm phát triển đất nước theo hướng hiện đại, chấn hưng kinh tế, với mong muốn nước nhà đủ mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Tuy nhiên, những cố gắng cải cách, chấn hưng thực nghiệp đó cuối cùng đều thất bại.
        Đầu thế kỷ XX, bên cạnh khuynh hướng yêu nước chủ trương bạo động chống Pháp giành độc lập, đã xuất hiện khuynh hướng duy tân, chủ trương khai sáng dân trí, chấn hưng dân khí, phục hưng đất nước bằng con đường chấn hưng thực nghiệp. Các trí thức yêu nước thuộc khuynh hướng này đã nhanh chóng nắm lấy báo chí như một công cụ truyền bá tư tưởng duy tân, hô hào đổi mới và cổ động chấn hưng nền kinh tế bằng các hoạt động kinh doanh và sản xuất. Những tờ báo tiêu biểu cho khuynh hướng cổ động thực nghiệp này có thể kể đến là Thực nghiệp dân báo, Khai Hóa, Hữu Thanh tạp chí… Mặc dù chỉ có tờ Hữu Thanh là tiếng nói của Hội tương tế thương mại và kỹ nghệ Bắc Kỳ còn những tờ báo lớn vận động thực nghiệp đều là của các chủ doanh nghiệp như tờ Thực nghiệp dân báo là của Nguyễn Hữu Thu, một nhà tư sản dân tộc, chủ hãng tầu lớn ở Hải Phòng, tờ Khai Hóa nhật báo là của Bạch Thái Bưởi… Nhưng các tờ báo luôn khẳng định, tờ bâo là tiếng nói cổ động cho phong trào thực nghiệp của đất nước.  Ví dụ, trong số đầu tiên, chủ trương của tờ Thực nghiệp dân báo được ghi rõ: “Bản báo không phải là cơ quan cổ động riêng cho một hạng người nào, chính là cơ quan chung cho nền thực nghiệp của khắp quốc dân….” [Thực nghiệp dân báo 12/2/1920]. Nội dung của các tờ báo là cổ động cho phong trào thực nghiệp, phản ánh yêu cầu của tư sản Việt Nam, đồng thời đấu tranh với chính quyền vì quyền lợi của người Việt.
          *Tuyên truyền vận động yêu nước, phê phán chính quyền thuộc địa
        Một khuynh hướng nổi bật của báo chí thời kỳ nay đó là vận động và tuyên truyền yêu nước, lòng tự tôn dân tộc và phê phán chính quyền thuộc địa. Báo Tiếng Dân do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ bút, báo Đông Pháp thời báo của nhóm thanh niên yêu nước, có tư tưởng cấp tiến như Nguyễn Kim Đính, Trần Huy Liệu, báo Đuốc Nhà Nam của Dương Văn Giáo, báo Thần Chung của Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Văn Bá, báo Công luận… đã đăng tải nhiều bài báo về tình cảnh của dân chúng, phê phán chế độ thực dân, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm của người dân trước vận mệnh đất nước. Có một điểm đáng lưu ý, là do chế độ kiểm duyệt hà khắc của chính quyền thực dân, nhiều bài báo thường lấy danh nghĩa tiếng nói của phụ nữ. Ví dụ Nam Kiều (Trần Huy Liệu) trên Đông Pháp thời báo ( ĐPTB), qua việc phê phán quan niệm cho rằng phụ nữ chỉ cần lo công việc gia đình mà quên mất trách nhiệm đối với xã hội, đã nhắc nhở người đọc về thực trạng nô lệ và truyền thống bất khuất chống ngoại xâm của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử. Ông nói: “ Kìa như hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc, bà Triệu Ẩu một mình đánh với quân Ngô, nếu cứ theo như cái thuyết “ thành đổ chúa xây” thì sáu mươi lăm thành Linh biểu can chi phải đến Hai bà Trưng gánh vác, quân Ngô tàn bạo can chi phải đến Bà Triệu liều mình...Buồn thay cho xã hội ta ngày nay, việc công ích không ai tán thành, việc công phẫn không ai phấn khích...[ĐPTB- 13/3/1929]. Hoặc như báo Công luận ngày 19/4/1927 đã phân tích: Hiện nay “quốc gia đang khó khăn” “xã hội đang điên đảo” bởi “phường tham quan ô lại”. Vậy “chị em phải ráng học hành chữ nghĩa, phải ráng rèn tập tánh nết... mà giúp cho xã hội đương lúc khốn nguy, dân tộc đương lúc khó khăn thì mới không hổ với đồng loại”.
   Báo chí cũng là nơi tổ chức, tập hợp quần chúng tham gia các hoạt động yêu nước như đòi ân xá cho Phan Bội Châu, đưa tang Phan Chu Trinh, đòi thả Nguyễn An Ninh, đón tiếp Bùi Quang Chiêu, … Báo Đông Pháp thời báo bình luận về sự tham gia của phụ nữ trong các phong trào này nhưng qua đó lại nhắc nhở người dân về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam: … “Tuy các bà, các cô không đủ sức mà cầm cương lên ngựa đặng như bọn nam nhi mặc dầu chớ cái lòng nhiệt thành của hạng nữ lưu chỉ thiệt ngọn lửa rất nồng nàn để ung đốt lòng ái quốc của bọn nam nhi cho khỏi lụi khỏi tắt. Gương bà Trưng, bà Triệu còn làu làu trong thanh sử Việt Nam.”[ĐPTB-10/3/1926]
·         Hình thành diễn đàn  phụ nữ
Trong lịch sử Việt Nam, do ảnh hưởng của Nho giáo, phụ nữ chưa bao giờ có tiếng nói trong đời sống cộng đồng làng xã, cũng như đời sống chính trị của đất nước. Từ sau chiến tranh thế giới thứ I, phong trào phụ nữ thế giới ảnh hưởng mạnh mẽ tới xã hội Việt Nam, ở Việt Nam đã xuất hiện vấn đề phụ nữ được báo chí và cả xã hội quan tâm. Rất nhiều tờ báo đã dành một số trang để bàn về vấn đề phụ nữ, hoặc có mục dành riêng cho phụ nữ [3]. Các mục như Văn Nữ giới hoặc Tiếng Oanh được coi như một diễn đàn để phụ nữ trao đổi ý kiến về các vấn đề của mình hoặc là nơi để phụ nữ tập viết các bài báo...  Các cuộc thảo luận trên báo chí về vấn đề phụ nữ thời kỳ đó tập trung phân tích vai trò, địa vị của phụ nữ trong  gia đình và xã hội, vấn đề trách nhiệm của phụ nữ đối với vận mệnh quốc gia dân tộc cũng như vấn đề bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ….
3.    Sự phát triển của báo chí và việc hình thành các dòng báo chí chuyên biệt cũng như sự tham gia của báo chí vào công cuộc vận động giải phóng dân tộc  từ năm 1930 đến 1945
        Sang những năm 1930, tình hình chính trị và xã hội Việt Nam có nhiều biến động. Ảnh hưởng của các trào lưu văn hóa tư tưởng thế giới đã dẫn đến nhiều nét mới trong báo chí tiếng Việt. Trước hết, là sự phát triển mạnh mẽ của báo chí. Từ năm 1930 tới năm 1936 có 180 tờ báo mới ra đời. Cùng với khoảng 30 tờ báo có từ trước tiếp tục xuất bản thì trong năm 1936 có tất cả 210 tờ báo  [4].
         Từ năm 1936, với thắng lợi của Mặt trận Dân chủ Đông Dương trong cuộc đấu tranh đòi tự do báo chí, Pháp đã phải thừa nhận hiệu lực của Luật tự do báo chí ban hành năm 1881 được áp dụng ở Đông Dương. Đó là bộ luật quy định báo chí phát hành chỉ cần báo trước 24 giờ. Chính thắng lợi này đã làm báo chí giai đoạn 1936-1939 phát triển mạnh mẽ [5].  Nhiều tờ báo cách mạng được phát hành công khai.[6] Theo Daniel Hemery, Sở An ninh Đông Dương, ước tính vào tháng 11/1938, chỉ riêng Nam Kỳ có tới 18 tờ báo cộng sản, trốtkit, hoặc thân cộng. Số in của báo tiếng Pháp giảm chỉ còn 30.580 bản trong khi số in của báo tiếng Việt là 153.000 bản. Tính đến ngày 1/1/1939 trên toàn cõi Đông Dương số báo tiếng Việt và song ngữ Pháp Việt có 120 tờ trong khi số báo tiếng Pháp chỉ còn 69 tờ.( Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng….. CB) (2005), 88) [7]
        Thời kì từ năm 1939-1945, do điều kiện chiến tranh, kinh tế suy thoái, mực và giấy là hai nguồn vật liệu phục vụ cho ngành in ấn trở nên khan hiếm và đắt đỏ, đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành xuất bản, trong đó có báo chí. Nhiều tờ báo phải đóng cửa hoặc giảm trang, in trên giấy xấu. Mặc dù vậy, do nhu cầu tìm hiểu tình hình trong nước và quốc tế tăng, độc giả ngày càng nhiều, tình hình phát hành báo chí vẫn được duy trì và được phát hành với số lượng khá lớn.
        Từ tháng 7/1939, để chuẩn bị cho tình trạng chiến tranh, ở Đông Dương, chức vụ Toàn quyền Đông Dương cũng thay đổi từ một quan toàn quyền dân sự là Brevie chuyển sang cho một quan toàn quyền quân sự, tướng Catroux và sau đó là Đô đốc Jean Decoux. Hành động đầu tiên của chính quyền thuộc địa là ra sức đàn áp Đảng Cộng sản. Sắc lệnh ngày 28/9/1939 cấm ngặt tất cả hành vi tuyên truyền về Quốc tế III và các tổ chức có liên quan. Đảng Cộng sản, các đoàn thể và các nhóm liên quan đều bị giải tán. Thực dân Pháp đã quy định kiểm duyệt toàn bộ báo chí nước ngoài trong các khu vực thuộc địa của Pháp. Trong vòng 4 tháng cuối năm 1939, Pháp đã ký tới 10 Sắc lệnh và Nghị định về báo chí và liên quan đến báo chí. Giấy và mực in cũng được chính quyền quản lý chặt chẽ thông qua phòng kiểm duyệt Liên đoàn giấy. Năm 1943, Toàn quyền Đông Dương ra một nghị định mới về việc phát hành báo chí. Nghị định này quy định: khuôn khổ báo sẽ bị hạn chế để tiết kiệm giấy. Nếu báo xuất bản hàng ngày thì phải nghỉ ngày chủ nhật. Nếu phát hành ngày chủ nhật thì không được phát hành các ngày khác trong tuần, không được in báo trên giấy khổ 23 x 2000 cm2, nên dùng khổ báo không cần phải cắt giấy để tiết kiệm... [Đông Pháp-1/5/1943]
         Ngay từ trước khi có sắc lệnh trên, một loạt tờ báo đã bị khám xét, bắt bớ và đóng cửa. Tờ Ngày mới bị đóng cửa ngày 26.8.1939, Dân chúng ngày 30/8/1939, Người mới ngày 5/9/1939, Thế giới ngày 13/9/1939, Đời nay ngày 29/9/1939. Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo cách mạng, thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, ra chỉ thị cho những người làm báo và các tờ báo Đảng rút vào bí mật.
         Ngày 23/9/1940, Nhật vào Đông Dương, đặt thêm ách thống trị mới đối với xã hội Việt Nam và từng bước ép Pháp phải nhường cho Nhật một số quyền lợi về kinh tế chính trị, quân sự. Đồng thời, Nhật cũng ráo riết tuyên truyền chính sách Đại Đông Á, văn hoá Nhật... nhằm gây ảnh hưởng trong dân chúng. Nhật cũng thành lập văn phòng kiểm duyệt báo chí, ra thông báo về việc kiểm duyệt toàn bộ báo chí, xuất bản phẩm và các phương tiện tuyên truyền kể cả áp phích quảng cáo và các kịch bản... Dựa vào Nhật, một số đảng phái mới ra đời như Đại Việt dân chính, Đại Việt quốc xã, Phục quốc... và đều ra báo để gây ảnh hưởng. Tháng 5/1941 quyết nghị thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh)
       Phong trào Việt Minh phát triển, ở các vùng căn cứ địa cách mạng, báo chí cách mạng cũng được xuất bản, góp phần tuyên truyền và vận động nhân dân như tờ: Việt Nam độc lập, Cứu quốc, Cờ giải phóng... ở các địa phương cũng có báo cách mạng để vận động tuyên truyền trong nhân dân, như: Báo Đuổi giặc nước của cơ quan tuyên truyền cổ động của Việt Minh Thanh Hoá, báo Hiệp lực của cơ quan cổ động của Việt Minh tỉnh Bắc Ninh ...
Có thể thấy, thời kỳ từ 1930 đến1945, tình hình chính trị ở Việt Nam có rất nhiều biến động, nhưng báo chí đã có sự phát triển vượt bậc, bất chấp tình trạng khó khăn trong chiến tranh. Sự phát triển của báo chí còn thể hiện ở sự phân hóa và hình thành những dòng báo chí chuyên biệt, đại diện cho tiếng nói của các giai tầng  xã hội và các khuynh hướng tư tưởng khác nhau: dòng báo chí cách mạng, dòng báo phụ nữ và dòng báo chí tôn giáo, báo thể thao, báo văn học, báo cho thiếu nhi…Sự phân hóa và sự tồn tại của  các dòng báo chí chuyên biệt này đã phản ánh sự trưởng thành về ý thức công dân, cũng như sự phát triển về nhận thức của các giai tầng trong xã hội
·         Báo chí cách mạng và các cuộc đấu tranh về tư tưởng trên báo chí.
            Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 với vai trò là người tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam đã làm xuất hiện dòng báo cách mạng lúc bí mật, lúc ra công khai của Đảng Cộng sản Việt Nam và dòng báo lưu hành trong các nhà tù của thực dân. Cùng với sự ra đời của Đảng cộng sản là quá trình truyền bá các quan điểm của chủ nghĩa Mac- lê nin vào Việt Nam, điều đó đã làm phong phú thêm nội dung của báo chí công khai, các đảng viên cộng sản đã tham gia vào các cuộc tranh luận học thuật, tư tưởng và có tiếng nói phản biện, thể hiện quan điểm đại diện cho tầng lớp nhân dân lao động.
            Có thể thấy, bên cạnh việc phản ánh trào lưu Âu hoá và lối sống tư sản trong các đô thị đang là xu hướng chủ đạo, báo chí còn đưa tin về hoạt động cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. .Ảnh hưởng của Đảng cộng sản cũng thể hiện rõ trong các cuộc thảo luận trên lĩnh vực tư tưởng như cuộc thảo luận của Hải Triều và Thiếu Sơn về “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” [ Đời Mới-24/3-27/3/1933],  cuộc thảo luận của Hải Triều và Phan Khôi về “Duy vật và duy tâm” [ Phụ nữ thời đàm- 8 và 29/I0/ 1933]; cuộc thảo luận của Phan Khôi và Nguyễn Thị Chính  về “Vấn đề giải phóng phụ nữ với nhân sinh quan” [ Phụ nữ tân văn- 7 và 14/7 và  4/8/1932], cuộc tranh luận về “Phổ thông đầu phiếu” trên báo Công luận năm 1932 và các bài về quyền bầu cử: phổ thông đầu phiểu  và quyền bầu cử của phụ nữ...
Trong thời kỳ vận động dân chủ năm 1936-1939, báo chí cách mạng chuyển ra hoạt động công khai, các  tờ La Lute 1933-1939), Hồn trẻ (1936) Dân chúng (1938-1939),  Tin tức (1938) … trở thành nơi khởi xướng, tổ chức, và lãnh đạo các phong trào đấu tranh của nhân dân trong phong trào vận động đòi dân chủ, cải thiện dân sinh.
Từ năm 1939, do tình hình chiến tranh, Đảng cộng sản bị khủng bố, tất cả báo chí cách mạng phải phát hành bí mật song cũng không vì thế mà báo chí cách mạng không phát triển. Tiêu biểu cho báo chí cách mạng thời kì này là các tờ Tạp chí Cộng sản, Cờ giải ghóng, Cứu quốc, Việt Nam độc lập, Kèn gọi lính, Mê Linh, Phá ngục, Kháng địch, Cởi ách, Chiến đấu, Tiên phong, Dân tộc, Tiếng súng khởi nghĩa…Thời kỳ vận động Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám, các tờ báo này đã góp phần tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia cách mạng, đứng lên giành độc lập dân tộc.
·         Sự phân hóa của báo chí và sự hình thành các dòng báo chuyên biệt.
   Sự phát triển về mặt nhận thức của tầng lớp trí thức đã dẫn đến việc báo chí công khai bị phân hoá thành nhiều khuynh hướng: báo chí thân Pháp như các tờ: Đông Pháp (ĐP), Tin mới, Đàn bà (ĐB), Tân Việt Nam, Nỗ lực; báo chí cấp tiến như các tờ Ngày nay, Thanh nghị, Tri tân... Ngoài ra còn có một số tờ báo của nhóm Trốtkít như tờ Văn mới, Tân thời...,các loại báo văn học, tôn giáo và các loại báo chuyên biệt khác như báo thể thao, báo kinh tế, báo trẻ em...
  Đặc biệt là thời kỳ này đã hình thành dòng báo phụ nữ với sự xuất hiện và tồn tại của hơn 10 tờ báo phụ nữ được xuất bản khắp ba miền[8]. Hầu hết các báo xuất bản thời kì này đều dành riêng một mục cho phụ nữ hoặc có các trang phụ nữ như Công luận, Đông Pháp, Tân thời tuần báo (TT), Dân hiệp (DH), Nam Kỳ tuần báo (NKTB)... Có thể nói, các tờ báo phụ nữ và các diễn đàn dành cho phụ nữ trên các tờ báo đã tạo nên một không gian cho mọi người thảo luận về các vấn đề phụ nữ, như quyền được học tạp, quyền được trả lương ngang bằng, chế độ bảo hiểm, chế độ thai sản, quyền bầu cử của phụ nữ, vấn đề giải phóng phụ nữ khỏi các ràng buộc của lễ giáo phong kiến, phụ nữ tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc như thế nào?...Đây cũng chính là một kênh thông tin để phụ nữ nói lên tiếng nói của mình, về quyền phụ nữ, cũng như đấu tranh cho các quyền đó…
Cũng từ những năm 1930, báo chí tôn giáo khá phát triển, đặc biệt là báo chí Phật giáo ra đời gắn liền với phong trào Chấn hung Phật giáo diễn ra mạnh mẽ khắp 3 kỳ. Chịu ảnh hưởng từ phong trào chấn hưng Phật giáo thế giới, đặc biệt từ Trung Quốc, báo chí Phật giáo Việt Nam đã có mặt từ cuối thập niên 1920 là một trong những phương tiện quan trọng, công cụ sắc bén, góp phần vào sự phát triển của phong trào Chấn hung Phật giáo. Có thể kể một số tờ báo Phật giáo tiêu biểu như: Nguyệt san Pháp Âm, Phật hóa Tân thanh niên Tạp chí Từ Bi Âm Nguyệt san Viên Âm , Tạp chí Đuốc Tuệ , Tạp chí Tiếng Chuông Sớm, Tạp chí Tiến Hóa , Tam Bảo tạp chí, Tạp chí Bát Nhã Âm… Nội dung của báo chí Phật giáo chủ yếu đi vào các trọng tâm hoằng dương Phật pháp, chấn hưng Phật giáo và nuôi dưỡng tinh thần dân tộc. Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ hoằng pháp, xây dựng nền văn học Phật giáo trong văn học chữ quốc ngữ, bảo tồn di sản văn hóa cổ Việt Nam, báo chí Phật giáo cũng đã bước đầu quan  tâm tới vấn đề bình đẳng giới, nhất là vấn đề phụ nữ.[9]
Kết luận.
 Tocqueville trong cuốn Nền dân trị Mỹ nổi tiếng của mình đã viết về vai trò của báo chí trong xã hội hiện đại: “ Khi con người không còn gắn bó với nhau một cách vững chắc và lâu bền, thì khó có thể làm cho đa số họ cùng hành động chung, song ít ra cũng phải thuyết phục từng người mà sự tham gia của người đó là cần thiết rằng lợi ích riêng của anh ta bắt buộc anh ta tự nguyện góp các nỗ lực của anh vào với nỗ lực của mọi người. Điều đó chỉ có thể tiến hành một cách bình thường và thuận lợi nhờ một tờ báo. Chỉ có một tờ báo là có khả năng trong cùng một lần đem cùng một ý tưởng đặt vào trong cả ngàn cái đầu” (Tocqueville 2007: 170 )
   Lịch sử báo chí Việt Nam từ 1862-1945, đã cho thấy mặc dù thời kỳ đầu báo chí là công cụ phục vụ quá trình xâm lược và cai trị của chính quyền thực dân với chức năng truyền đạt thông tin, những trí thức Việt Nam khi nhận ra lợi thế của báo chí trong việc truyền bá tư tưởng, tập hợp lực lượng, định hướng và dẫn dắt cộng đồng đã nhanh chóng sử dụng báo chí như một phương tiện hiệu quả để đạt được các mục tiêu của mình.
 Báo chí đã giúp người dân Việt Nam hiểu biết về một thế giới rộng lớn bên ngoài lũy tre xanh của các làng xã Việt Nam truyền thống. Báo chí cũng giúp họ tiếp cận với các tư tưởng mới, các nền văn hóa mới, các thành tựu văn hóa, khoa học kỹ thuật của nhân loại, báo chí giúp người Việt học hỏi để thay đổi và hội nhập.
Báo chí cũng giúp người Việt Nam được nói lên nguyện vọng và  ý chí của mình trước các vấn đề của cuộc sống, từ quyền được học tập, được lao động, quyền bầu cử và quyền được kết hôn với người mình yêu, quyền tự định đoạt số phận mình. Báo chí cũng liên kết mọi người trong một mối quan tâm chung.
Cách mạng thàng Tám năm 1945 thành công đã đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong sự trưởng thành đó của dân tộc, có phần đóng góp quan trọng của nền báo chí tiếng Việt.trong vai trò là phương tiện truyền bá tư tưởng, vận động, tập hợp, tổ chức và định hướng cộng đồng.
Tài liệu tham khảo
1.      Đặng Thị Vân Chi (2006),” Dòng báo phụ nữ ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945”, T/c NCLS  tháng 11 ( 367)
2.      Nguyễn Việt Chước,(1974), Lược sử báo chí Việt Nam, Nam Sơn, Sài Gòn
3.      McHale.Shawn Frederick (1995), Printing, power, and the transformation of Vietnamese cultture, 1920-1945, dissertation, Cornell University 
4.      Đỗ Quang Hưng ( CB),(2000), Lịch sử báo chí Việt Nam, H, NXB Chính trị Quốc gia,
5.      Tạ Thị Bích Liên ( 2015), Báo chí Phật giáo với vấn đề phụ nữ trước năm 1945, Luận văn thạc sĩ , khoa học Lịch sử, Khoa Lịch sử Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn.
6.      TS. Huỳnh Văn Tòng (2000), Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945, NXB Thành phố Hồ Chí Minh
7.      Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc, Vĩnh Sính, (2005) Từ Đông sang Tây, NXB Đà Nẵng
8.      Tocqueville (2007),Nền dân trị Mỹ, NXB Tri thức, T2,
9.      Thiếu Sơn, ( 1933), Phê bình và Cảo luận, H.
Các tờ báo được  phát hành từ 1862-1945: Gia định báo, Đăng cổ tùng báo, Nông cổ mín đàm, Đông Dương Tạp chí, Nam Phong, Trung Bắc tân văn, Khai hóa, Hữu Thanh, Công Luận, Trung Lập,  Đông Pháp thời báo, Thực nghiệp dân báo, Phụ nữ tân văn, Đàn bà mới, Nữ giới chung, Dân chúng, Ngày mới, Ngày nay, Đàn bà, Tân xã hội, …



[1] Các bài báo được Sở mật thám Pháp dịch sang tiếng Pháp rồi đưa sang sở báo chí kiểm duyệt
[2] Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm ” Bàn về tự do” của John Stuart Mill là : tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do thảo luận ; tự do về sở thích, tự do đặt kế hoạch cho cuộc sống theo sự xét đoán của mình; và tự do hội họp.. Mỗi người cần được tự do mưu cầu hạnh phúc riêng của mình "trong chừng mực ta không mưu toan xâm phạm đến hạnh phúc của người khác hoặc ngăn trở những nỗ lực của người khác đạt được hạnh phúc. Mỗi người là người bảo vệ chính đáng nhất cho sự lành mạnh của anh ta, dù là sự lành mạnh thân thể, tinh thần hay tâm linh". Tự do của mỗi người tìm thấy giới hạn của mình trong tự do của người khác; rằng, tự do xã hội là ranh giới giữa sự kiểm soát xã hội và sự độc lập của cá nhân.J ohn Stuart Mill bảo vệ quyền của các cá nhân để họ được "sống hạnh phúc theo ý của họ, hơn là bắt họ sống hạnh phúc theo ý những người xung quanh".

[3] Nhời đàn bà (Trung bắc tân văn, Đông Pháp thời báo), Văn nữ giới (Khai hoá nhật báo, Đông Pháp thời báo), Phụ nữ diễn đàn ( Thần Chung, Công luận), Tiếng oanh (Hà thành Ngọ báo) Phụ nữ diễn đàn (Văn minh )…

[4] Theo thống kê tên các tờ báo được xuất bản từ năm 1930 đến 1936 trong sách “ Báo chí Việt Nam từ khởi thủy dến 1945 “ của TS Huỳnh Văn Tòng, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000, tr 443-475.
[5]. Ngày 20/6/1935,  Báo Dân quyền phát hành số 1 không được phép của Toàn quyền Đông Dương nên đã bị đình bản. Nhờ phong trào đấu tranh của nhân dân và báo giới, dựa vào điều luật 5,6,7 của Luật Báo chí được ban hành ngày 29/7/1881 quy định báo chí dù xuất bản bằng tiếng Pháp hay tiếng bản xứ đều tự do, ( không cần xin phép trước, không phải nộp tiền kí quỹ) ngoài việc viên quản lý báo có quốc tịch Pháp và đã thành niên và Điều 10 của đạo luật này cũng cho phép áp dụng đạo luật này tại chính quốc và các xứ thuộc địa như Angieri và Nam kì… báo Dân quyền đã thắng trong vụ kiện chính quyền thuộc địa ở Đông Dương. Việc báo Dân quyền thắng kiện đã vô hiệu hóa sắc lệnh ngày 30/12/1898 của Toàn quyền Đông Dương  về việc kiểm duyệt bao chí ở thuộc địa. Sau  sự kiện này, nhiều tờ báo đã được xuất bản không cần xin phép, tạo điều kiện cho báo chí cách mạng phát hành công khai.
[6] Dựa vào thắng lợi của cuộc đấu tranh đòi thực hiện Luật báo chí ban hành ngày 29/7/1881 của Pháp, nhiều tờ báo Cách mạng đã phát hành công khai. Tuy các tòa báo không bị bắt phạt , nhưng Pháp vẫn đình chỉ việc phát hành. Để đối phó lại, các Đảng viên cộng sản vẫn tiếp tục ra báo, tờ báo này bị đình chỉ thì tờ báo khác lại ra đời. Chính vì vậy, nhiều tờ báo chỉ được phát hành  1 vài số,. có tờ báo chỉ ra được duy nhất số đầu tiên như: Báo Dân quyền 2 số, báo Tân Xã hội 2 số, báo Nước Nam chỉ có số ra mắt…
[7] Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng….. CB) (2005), Từ Đông sang Tây, sdd, tr88….
[8] Phụ nữ tân văn ( 1929-1935) Phụ nữ thời đàm 9 (1930 -1931) Phụ nữ thời đàm (tập mới 1933-1934), Phụ nữ tân tiến ( 1932-1933) Phụ nữ tân tiến ( bộ mới 1934) Đàn bà mới (1934-1936) Nữ lưu (1936-1937) Việt nữ ( 1937) Phụ nữ ( 1938-1939) Đàn bà( 1939-1945), Bạn gái (1945), Việt nữ ( 1945-1946).
[9] Tạ Thị Bích liên ( 2015), Báo chí Phật giáo với vấn đề phụ nữ trước năm 1945, Luận văn thạc sĩ , khoa học Lịch sử, Khoa Lịch sử Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn.

Thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2015

VỊ TRÍ CỦA MÔN LỊCH SỬ TRONG NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP


VỊ TRÍ CỦA MÔN LỊCH SỬ TRONG NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP


GS. NGND. Vũ Dương Ninh
(Đại học Quốc gia Hà Nội)
( Tham luận tại Hội thảo của Hội sử học Việt Nam về môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông ngày 15/11/2015) 
Trong nhiều năm gần đây,việc dạy và học Lịch sử luôn trở thành đề tài được xã hội quan tâm, nhất là vào mỗi dịp thi tốt nghiệp phổ thông hay tuyển sinh đại học. Không ít học sinh chán môn Sử, không thích học Sử và tỏ ra vui mừng khi môn Sử không còn là môn học bắt buộc trong các kỳ thi.
Trăn trở nhiều về hiện trạng này, giới sử học đã có nhiều cuộc hội thảo trên quy mô cả nước hoặc trong phạm vi từng địa phương để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục. Có nhiều lý do khách quan và chủ quan, dẫu sao những người làm công tác giáo dục lịch sử cũng thấy rõ trách nhiệm của mình, cần có sự thay đổi lớn từ việc xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến phương pháp giảng dạy trên lớp và hoạt động ngoại khóa. Nhiều dự định được chuẩn bị cho đợt “cải cách căn bản và toàn diện” của ngành giáo dục nói chung và môn lịch sử nói riêng.
*
Bên cạnh sự nỗ lực của các thày cô giáo giảng môn Lịch sử, không thể không nói đến một lý do vô cùng quan trọng có tác động bất lợi đối với vị trí của môn Lịch sử trong nhà trường. Đó là trong một vài thập kỷ qua, cách đối xử không đúng đắn, thiếu công bằng, có phần tùy tiện của cấp quản lý Bộ Giáo dục đối với môn học này. Không nhớ từ năm học nào, lấy lý do “giảm tải” cho học sinh, môn Lịch sử không còn được coi là môn thi chính thức như các môn học khác trong chương trình thi tốt nghiệp phổ thông.
Số phận long đong của nó bắt đầu từ chỗ quy định Sử và Địa là hai môn thi “luân phiên” – năm nay thi Sử, năm sau thi Địa, rồi lại quay vòng như vậy. Không có một cơ sở khoa học nào cho chủ trương này.
Nhưng chưa dừng lại ở đó. Tiếp theo, môn Lịch sử được quy định là môn “thay thế”, nghĩa là chỉ nơi nào, học sinh nào không thi ngoại ngữ thì có thể thi môn Sử. Thế là số đông học sinh ở các thành phố, các vùng tương đối phát triển chọn thi ngoại ngữ, còn vùng sâu, vùng xa và những học sinh không học hoặc học kém ngoại ngữ mới thi môn Sử. Điều đó có nghĩa môn Lịch sử tuy còn đó nhưng đã mất địa vị của một môn học độc lập, bắt buộc, ngang bằng với các môn học khác.
Vẫn chưa hết, trong những kỳ thi gần đây, Lịch sử được coi là môn “tự chọn” nghĩa là hoàn toàn không bắt buộc. Tuyệt đại đa số học sinh chuẩn bị thi khối A hoặc khối B sẽ bỏ rơi môn Lịch sử, do vậy mới có hiện tượng nhiều hội đồng thi chỉ có một số rất ít em thi Sử, nhà trường vẫn phải lập ban bệ đầy đủ theo đúng quy chế.
Và cho đến hôm nay, dưới danh nghĩa “tích hợp”, môn Lịch sử đã biến mất khỏi chương trình với tư cách một khoa học có chức năng riêng biệt và vô cùng quan trọng. Được giải thích rằng nó được vận dụng vào môn “Công dân và Tổ quốc”. (Quả thật, tôi không biết trên thế giới có nước nào dạy môn học mang tên này không?)
Điểm lại quá trình trên, có thể thấy rất rõ môn Lịch sử đã bị đẩy lùi từng bước, loại bỏ từng bộ phận, và cuối cùng không còn vị thế của một môn học riêng biệt ngang bằng như các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
*
Trong lời phát biểu trên báo chí tuần qua, vị lãnh đạo Bộ Giáo dục tuyên bố: “ Tôi khẳng định Bộ Giáo dục – Đào tạo không bỏ môn lịch sử, cũng không coi nhẹ môn Lịch sử khi xây dựng môn học mới” (Báo Tuổi trẻ ngày 4-11-2015, tr. 13). Đúng vậy, từ trước đến nay, chưa bao giờ Bộ Giáo dục có một văn bản, một chỉ thị nào coi nhẹ môn Sử hoặc loại bỏ môn Sử.
Nhưng cuộc sống thực tế hoàn toàn khác. Đáng lẽ “học gì thi nấy” thì với chủ trương của Bộ, các trường và cả xã hội đã vận dụng thành “thi gì học nấy”. Bởi vì mục đích của người học là thi đỗ, tiêu chí của nhà trường là tỷ lệ số học sinh đỗ thật cao. Cho nên, các môn thuộc loại thi “luân phiên”, thi ‘thay thế” …, được Ban Giám hiệu các trường chỉ đạo dạy dồn, học dồn để dành hầu hết thời gian cho các môn thi tốt nghiệp, thi tuyển đại học. Vị trí của môn Sử và một vài môn khác bị đẩy lùi dần thành môn phụ trên thực tế và đến nay, nó mất tên chính danh trong chương trình Trung học cơ sở dưới cái vỏ “Công dân và Tổ quốc”. Nó bị lẫn vào môn Khoa học xã hội (tự chọn) trong chương trình cho học sinh theo phân ban khoa học tự nhiên và chỉ còn là môn học chính thức đối với học sinh chọn phân ban khoa học xã hội. Có nghĩa rằng lớp trí thức trẻ tương lai (trừ số ít chọn ngành khoa học xã hội) sẽ không hiểu hoặc hiểu biết lơ mơ về lịch sử của dân tộc mình, về lịch sử của đất nước mình.
Trong khi đó, nhìn sang nước láng giềng Trung Quốc, môn Lịch sử được giảng dạy từ bậc tiểu học cho đến trung học, nuôi dưỡng tinh thần tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ một cách cẩn thận, có hệ thống. Môn Lịch sử đã giáo dục niềm tự hào chính đáng về truyền thống văn minh Trung Hoa từ thời cổ đại, về công cuộc xây dựng đất nước Trung Quốc, kể cả khơi gợi nỗi nhục vì một thế kỷ bị phương Tây thống trị. Qua đó, môn Lịch sử đã thức tỉnh tinh thần dân tộc khi bước vào thời đại mới đưa đất nước lên vị thế cường quốc hàng đầu thế giới. Đồng thời, môn Lịch sử cũng gieo mầm tư tưởng bá quyền, nước lớn với địa vị thượng đẳng giữa các dân tộc, các quốc gia. Các nhà lãnh đạo Trung Nam Hải cùng bộ máy tuyên truyền của họ đi đâu cũng nói các đảo ở Biển Đông là thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ thời cổ đại. Sách Lịch sử Trung Quốc khai thác về “con đường tơ lụa”, về cuộc hành trình trên biển của Trịnh Hòa và nhiều sự kiện lịch sử khác để gieo rắc vào đầu một tỷ rưỡi người dân của họ về chủ quyền mênh mông của Trung Quốc, về đường ranh giới “hình chữ U”, “hình lưỡi bò” đầy ngụy tạo trên Biển Đông. Các sách sử Trung Quốc đều nói về cuộc chiến tranh năm 1979 như một cuộc “phản kích tự vệ”, một đòn trừng phạt đối với Việt Nam, một bài học “dạy cho Việt Nam”. Rất rõ ràng, môn Lịch sử  đã thực sự được sử dụng như một vũ khí tinh thần để phục vụ tiến trình “trỗi dậy”, cho ý đồ bành trướng, bá quyền của Trung Quốc.
Nhưng Việt Nam đã giữ một thái độ im lặng đến khó hiểu về những sự kiện trên. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 chỉ được viết về cuộc chiến tranh biên giới vỏn vẹn 12 dòng, nhiều bài viết về cuộc tấn công xâm lược của Trung Quốc năm 1979 được các tạp chí lớn của đất nước từ chối không đăng vì “lý do tế nhị” (?!). Cho đến hôm nay, tình trạng này vẫn không thay đổi nếu không muốn nói là có xu hướng nặng thêm. Và cuộc Hội thảo được tổ chức hôm nay là một minh chứng cho tình trạng đó mà các nhà sử học, với trách nhiệm nặng nề của mình buộc phải lên tiếng.
*
Vào thập niên 50 – 60 của thế kỷ trước, trong điều kiện gian khổ của cuộc kháng chiến, sách in lèm nhèm, đèn dầu tù mù, ăn không đủ no, lại vừa học vừa sơ tán … nhưng môn Lịch sử cũng như các môn học khác được thày dạy, trò học một cách nghiêm túc, hào hứng và có hiệu quả. Từ những tấm gương anh hùng của các sự kiện lịch sử qua hàng ngàn năm đấu tranh vì độc lập, thế hệ thanh niên thời đó đã hăng hái lên đường đi cứu nước. Và đến lượt họ lại nêu lên nhiều tấm gương hy sinh vì nước, hình ảnh của họ lại bước vào “trang sách những em thơ”.
Nhớ lại thời đó, hai vị Bộ trưởng bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng bộ Đại học Tạ Quang Bửu rất quan tâm đến môn Lịch sử. Các vị đã có nhiều buổi làm việc với Hội đồng ngành Sử, luôn nhắc nhở sứ mệnh của việc giáo dục lịch sử, và đã từng đích thân xuống dự giờ giảng môn Sử ở các trường để góp ý kiến. Giáo sư Tạ Quang Bửu – một nhà toán học lỗi lạc đã có sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử và sự quan tâm đặc biệt đối với sử học. Ngay sau Hiệp định Paris, Giáo sư chỉ thị tổ chức ngay một đoàn cán bộ sử học của hai trường Tổng hợp và Sư phạm vào vùng Đông Hà (Quảng Trị) vừa được giải phóng để đi thực tế về cuộc kháng chiến, qua đó suy nghĩ về nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Rõ ràng là dưới sự lãnh đạo của những vị cố bộ trưởng tài cao đức trọng, có tầm nhìn xa rộng và sự hiểu biết sâu sắc, môn Lịch sử đã được dặt đúng vị trí của nó, đã gánh vác trách nhiệm nặng nề và đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
*
Từ những điều trên, có thể đi đến một vài giải pháp thiết yếu sau đây:
Một, khẳng định rằng môn Lịch sử phải là một môn học độc lập, có vị trí ngang bằng với các môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông.
Hai, quy định dứt khoát rằng môn Lịch sử phải là một môn thi bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Cần tiến tới coi Lịch sử Việt Nam như một môn thi trong kỳ thi tuyển chọn nhân viên vào các cơ quan, doanh nghiệp… và sẽ trở thành môn thi đối với những người muốn nhập quốc tịch Việt Nam.
Ba, giới sử học cần mạnh dạn cải cách, xây dựng hệ thống chương trình, sách giáo khoa mới, bảo đảm tính khoa học, tính sư phạm, có sức hấp dẫn phù hợp với tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh. Đồng thời bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ các thày cô giáo thực sự có tâm  huyết và năng lực trong việc truyền đạt tinh thần và kiến thức lịch sử đến thế hệ trẻ. Nghĩa là làm thế nào để học sinh thực sự yêu thích môn Lịch sử, hiểu biết về lịch sử và vận dụng kiến thức lịch sử vào công cuộc dựng xây đất nước.
Chỉ có nhận thức đúng đắn về vị trí môn Lịch sử và chuyển đổi mạnh mẽ trong cách dạy và  học từ cả hai phía – người lãnh đạo, quản lý và người trực tiếp giảng dạy – thì môn Lịch sử mới làm trọn nhiệm vụ trong nền giáo dục nước nhà.
Tháng 11 – 2015

GS. Vũ Dương Ninh

Thứ Bảy, ngày 24 tháng 10 năm 2015

VỀ MỘT QUÃNG THỜI GIAN" TRỐNG" TRONG TIỂU SỬ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH *





                                                                      Nguyễn Quốc Phong

   Không chỉ với những nhà nghiên cứu mà bất kể ai đọc tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có chung một nhận xét (cũng là một nỗi băn khoăn) về một thời đoạn lịch sử hầu như có rất ít thông tin. Đó là thời gian của các năm từ 1914 đến 1917. Bộ sách "Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử" (Nhà xuất bản Sự thật, bản 2006), có tới 9 tập, thời gian từ 1914 đến 1917 thuộc về tập I (1890-1929) dày 436 trang (không kể phần sách dẫn) thì 4 năm này chỉ chiếm có...6 trang và với...3 sự kiện. Năm 1916 không có sự kiện nào và 3 năm còn lại mỗi năm có đúng 1 sự kiện.

   Nội dung các sự kiện ấy gồm: Năm 1914  (tháng 8, đầu tháng) thư Nguyễn Tất Thành từ thủ đô nước Anh (London) gửi tới "Nghi bá đại nhơn" (Phan Châu Trinh) nội dung chủ yếu nói cảm nghĩvề cuộc Đại chiến thứ Nhất vừa bùng nổ ở châu Âu (và trong lá thư này cũng nhắc lại rằng trước đó vài tháng cũng đã gửi một lá thư); Năm 1915  (tháng 4 ngày 16) Nguyễn Tất Thành ký tên "PaulThành" từ Anh viết thư cho Toàn quyền Đông Dương qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn nhờ chuyển cho cha đang sống ở Nam Kỳ (nhưng không đến tay vì không tìm thấy địa chỉ); Năm 1917 (khoảng cuối năm) Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp. Về nguồn thông tin thì 2 sự kiện vào năm 1914 và 1915 căn cứ vào các hiện vật gốc của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh ; riêng thông tin của năm 1917 thì căn cứ vào sách "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" (tác giả : Trần Dân Tiên).

  Trước thời gian đó, năm 1913, Biên niên tiểu sử cho biết Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ trở về cảng Le Havre (Pháp) sau đó sang Anh (khoảng quý I) và vẫn duy trì thư từ với Phan Chu Trinh đang ở Pháp. Khoảng cuối năm (1913) thì có một chi tiết đáng chú ý : Để kiếm sống, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho khách sạn và chuyển tới làm phụ bếp cho Khách sạn Carlton tọa lạc tại đường Haymarket nổi tiếng ở London. Nhưng có một chi tiết đáng chú ý là "Anh làm việc dưới sự điều khiển của vua đầu bếp người Pháp Étcốpphiê (Escophier)". 

   Mục sự kiện này còn mô tả : "Công việc của anh là dọn dẹp bát đĩa và đồ đạc. Đáng lẽ vứt thức ăn thừa vào một cái thùng thì anh lại để riêng những thức ăn còn sạch sẽ, có lúc làn một phần tư con gà hoặc còn nguyên cả miếng bit- tết để đưa lại cho nhà bếp.
   Ông già Étcốpphiê chú ý tới việc làm đó và hỏi anh : Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng như những người khác ? Tất Thành trả lời : Không nên vứt đi. Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy. 

     Étcốpphiê vừa nói vừa cười có vẻ bằng lòng : Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dậy cho anh cách làm bếp, làm ngon và anh sẽ được nhiều tiền. Những người trong khách sạn cho đó là một việc lớn vì lần đầu tiên ông vua bếp làm như thế". Nội dung này những người làm sách Biên niên trích ra cũng từ cuốn sách của Trần Dân Tiên (Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch).


  Về nhân vật "Vua đầu bếp" Étcốpphiê có rất nhiều tài liệu giới thiệu vì ông vốn là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử ẩm thực thế giới.Georges Auguste Escoffier sinh ngày 28-10-1846 tại Villeneuve-Loubet và mất vào ngày 12-2-1935 tại Monaco, là một đầu bếp người Pháp nổi tiếng, từng được vị Hoàng đế nước Đức đánh giá là "vị vua của các đầu bếp, đầu bếp của các vị vua"...Tiểu sử của nhân vật này cũng xác nhận là từ năm 1899 Étcốpphiê chuyển sang hành nghề tại Khách sạn  Carlton ở kinh đô nước Anh và làm việc cho tới năm 1919 thì về hưu. Vì thế chi tiết : vào năm 1913, Nguyễn Tất Thành đến làm việc tại khách sạn này có cơ hội được gặp và được vị đầu bếp nổi tiếng nhận làm học trò là hoàn toàn có cơ sở và cũng được hồi ức của hậu duệ Vua Bếp ghi nhận (tham khảo bài "Vua đầu bếp người Pháp Écoffier" của Chu thị Ngọc Lan, Xưa&Nay 9-2015).

   Cũng liên quan đến khoảng thời gian này, có một tư liệu có giá trị và chứa đựng một thông tin rất quan trọng được Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm từ các cơ quan lưu trữ ở Nga (12-2006) và được công bố trong cuốn sách "Hồ Chí Minh với nước Nga"do Ban Tuyên giáo Trung ương cùng Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia tổ chức xuất bản năm 2013( sách có lời giới thiệu của Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh). 

     Đó là Bản khai lý lịch được lập theo lời củachính Nguyễn Ái Quốc khai ngày 16-9-1934 để đến tháng 10 năm đó được nhập học Trường Quốc tế Lênin. Với bí danh Linôp (Linof) có năm sinh là 1894, bản khai này đề cập tới nhiều chi tiết (xem ảnh 1&2) trong đó có một chi tiết đáng chú ý tại mục khai về công việc (nghề nghiệp) qua từng thời gian hoạt động : "Làm lính (tại) Pháp (vào thời gian) 1914-1918 (xem ảnh 3& 4)".






Chú Thích 3 - 4

     Thời gian 1914-1918 là lúc cuộc Chiến tranh thế giới đang diễn ra chủ yếu tại Châu Âu mà hai nước Anh và Pháp là đồng minh chủ chốt (trong khối Entente gồm nhiều nước như Nga, Italia, Mỹ, Bỉ v.v...) chống lại Liên minh Trung tâm gồm Đức, Áo-Hung, Ôttôman, Bungari...). Cuộc Đại chiến này nổ ra vào ngày 28-6-1914 và ngưng chiến ngày 11-11-1918 với chiến thắng của phe Entente.

   Liên quan đến Hồ Chí Minh, khi đó mang tên Paul Thành, thì trong sách "Biên niên tiểu sử" ghi nhận thêm nột số chi tiết : Khoảng cuối năm 1917 Nguyễn Tất Thành từ Anh trở về Pháp (trang 58) ; trong năm 1918, Theo lời kể của Misen Decsini (Michele Zecchini), đảng viên Đảng Xã hội Italia thì Nguyễn Tất Thành lúc đó đang là "đại diện được ủy quyền của Hội Lao động hải ngoại đang náu mình trong một căn phòng cho thuê ở phố Charrone" và chưa có giấy tờ hợp pháp mà vào thời điểm này chiến tranh chưa kết thúc nên chính quyền Pháp đang tăng cường vây ráp, bắt bớ lính thuộc địa đào ngũ, do vậy Nguyễn Tất Thành phải ẩn náu kín đáo trong căn nhà một người bạn gốc Tuynidi tên là Moktar (trang 59). Và cũng trong năm 1918, theo một tài liệu được đăng trên báo Cứu Quốc ngày 6-11-1947 thì Cựu hoàng Thành Thái cho biết Nguyến Tất Thành có gặp Ngài tại nơi cư ngụ là đảo Réunion cũng là lãnh thổ hải ngoại của nước Pháp (trang 60) rồi đến đầu năm 1919 thì gia nhập Đảng Xã hội Pháp (trang 61). 

  Tất cả những dữ kiện ấy cho thấy khớp với lời khai trong Lý lịch được lập vào năm 1934, Nguyễn Tất Thành đã "làm lính" tham gia cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất sau khi đã làm việc tại bếp của Khách sạn Carlton ở Thủ đô nước Anh vào thời điểm Vua Bếp Escoffier đang điều hành tại đây. Những dữ kiện tuy ít ỏi nhưng cũng cho thấy mối quan tâm bao trùm của Nguyễn Tất Thành là cuộc chiến tranh. 

     Trong lá thư gửi Phan Châu Trinh đầu tháng 8-1914, Nguyễn Tất Thành viết : "Tiếng súng đang rền vang và thây người đang phủ trên đất. Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau. Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn giông bão này. Định mệnh sẽ dành cho cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ là người chiến thắng... Cháu nghĩ trong vòng ba, bốn tháng nữa, số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều" (trang 55).

   Còn trong lá thư gửi cho Toàn quyền Đông Dương để nhờ liên hệ với người cha của mình đang sống ở Nam Kỳ đề ngày 16-4-1915, Nguyễn Tất Thành ký với cái tên mới là "Paul Thành". Cả 2 lá thư này đều được gửi từ nước Anh. Và đến cuối năm 1917, người thanh niên Việt Nam này mới trở lại nước Pháp vào thời điểm cuộc chiến chưa kết thúc và lâm vào hoàn cảnh phải "ẩn náu" để tránh các cuộc truy lùng của chính quyền Pháp đối với những binh lính đào ngũ ...Như thế, có thể giả thiết rằng Nguyễn Tất Thành đã tham gia lực lượng quân đội của nước Anh trong thời gian đầu của cuộc chiến tranh thế giới và với một cái tên mới là "Paul Thành".

  . Giai đoạn 1914-1918 này tuy không dài nhưng nó ở vào một thời điểm có ý nghĩa như một bước ngoặc quan trọng đối với Nguyễn Tất Thành ở độ tuổi xấp xỉ 30 (theo tiểu sử chính thức có năm sinh 1890 thì ở độ tuổi từ 24 đến 28 tuổi), chuẩn bị cho những hoạt động chính trị diễn ra ngay sau khi cuộc Chiến tranh Thế giới chấm dứt. Cùng với cộng đồng những người Việt Nam yêu nước ở Pháp (cùng ký tên Nguyễn Ái Quốc trong Bản Yêu sách của Nhân dân An Nam); và với tên gọi Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp và trở thành một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, tất cả chỉ diễn ra trong 2 năm 1919 và 1920. Dù mới chỉ là giả thiết thì việc nhận thức về tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh  trong giai đoạn lịch sử này vẫn còn cần được nghiên cứu sâu sắc hơn nữa trên cơ sở phát hiện thêm những sử liệu mới. 

    Bài viết này được viết bởi một sự thôi thúc sau khi tác giả được tiếp xúc với những thông tin đáng tin cậy từ những nguồn đáng tin cậy. Cách đây 5 năm, tôi được gặp Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình, người đã gắn bó cả cuộc đời nghề nghiệp công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh và từng đảm nhận những cương vị quan trọng, là Phó giám đốc (1997-1999) rồi Giám đốc (1999-2007). Chồng bà, ông Nguyễn Văn Đoàn, từ lúc còn trẻ đã có vinh dự được giao nhiệm vụ  bảo vệ tiếp cận Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông cũng có mặt vào thời điểm các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ túc trực bên giường bệnh chứng kiến giây phút Bác Hồ ra đi đến "thế giới người hiền" vào ngày 2-9-1969. Sau này, ông cũng tốt nghiệp ngành Lịch sử rồi trở thành Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.
 Ông Nguyễn Văn Đoàn, người đứng góc trái ảnh, sau Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn cùng các vị trong Bộ Chính trị lúc Bác chuẩn bị trút hơi thở cuối cùngẢnh tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh

    Chính tại cuộc tiếp xúc này, Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình đã hé cho tôi biết một câu chuyện nghề nghiệp mà bà giữ kín từ lâu. Đó là những lời căn dặn của một trong những người gần gũi nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cương vị là thư ký riênggắn bó suốt từ thời kỳ Cách mạng mới thành công,đó là ông Vũ Kỳ. Một thời gian, ở cương vị Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như sau này khi đã nghỉ hưu, ông Vũ Kỳ cũng đã công bố một số thông tin mà ông nắm được cũng như viết hồi ức liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng với một nguyên tắc rất cẩn trọng, điều mà ông luôn truyền lại cho các đồng nghiệp trẻ trong cơ quan...

Chú thích: Tổng Biên tập Xưa & Nay Dương Trung Quốc trong lần tiếp xúc vợ chồng ông bà Đoàn – Tình để xác minh thêm tính xác thực của tư liệu.
Ảnh: Quốc Phong

  15 giờ chiều ngày 24-6-2004, nằm trên giường bệnh ở Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô, cảm thấy thời điểm "đi theo Bác Hồ" đã đến gần, ông Vũ Kỳ đã triệu tập Giám đốc Nguyễn Thị Tình và một số cán bộ chủ chốt của Bảo tàng Hồ Chí Minh đến để căn dặn lại những điều cần thiết. Tựa như lời "trăn trối" với các đồng nghiệp có trách nhiệm của mình, ông Vũ Kỳ nêu một số vấn đề liên quan đến tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đó có một nội dung gắn với giai đoạn 1914-1918 mà bài viết này quan tâm.

   Trong câu chuyện của mình, ông Vũ Kỳ có nhắc đến việc Bác Hồ mời cơm "Anh Cả" Nguyễn Lương Bằng, một nhà lãnh đạo gương mẫu được Bác Hồ quý trọng và tin cậy. Ông Vũ Kỳ có mặt trong bữa cơm đó và nghe được câu chuyện trao đổi riêng tư giữa hai nhà cách mạng lão thành. Bác Hồ kể cho "Anh Cả" câu chuyện việc mình đã nhận đi lính thay cho con trai Vua Bếp Escoffier khi Chiến tranh thế giới bùng nổ. A.Escoffier là người Pháp đến hành nghề ở nước Anh và có một con trai tên là Paul Escoffier vào thời điểm ấy đến tuổi đăng lính nghĩa vụ. Vua bếp là người giàu có và e ngại con trai của mình phải ra mặt trận. Người phụ bếp "An Nam" trẻ tuổi từng gây ấn tượng và được Vua Bếp giành những ưu ái (như sách của Trần Dân Tiên đã thuật lại), đã nhận lời đi lính thay cho anh con trai của Vua Bếp với lời hứa sẽ giữ kín vụ việc.

  Bữa cơm Bác Hồ mời Anh Cả Nguyễn Lương Bằng theo ông Vũ Kỳ thuật lại thì diễn ra vào những năm cuối đời của Bác, tức là câu chuyện về việc đi lính của Bác đã diễn ra, cùng lời hứa đã được giữ kín hơn nửa thế kỷ. Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình cũng cho biết nội dung toàn bộ những lời của ông Vũ Kỳ đã được Bảo tàng Hồ Chí Minh báo cáo bằng văn bản gửi tới các cơ quan có trách nhiệm.  Ông Vũ Kỳ cũng còn cung cấp thêm chi tiết là sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng tháng Tám và đã tuyên bố nước Việt Nam độc lập, nhưng ngay cả các đồng chí trong Đảng Cộng sản Pháp cũng còn chưa biết "Hồ Chí Minh" là ai ? Để giúp các đồng chí Pháp nắm được thông tin nhằm tạo mối liên hệ giữa cách mạng hai nước, Bác Hồ đã tìm cách thông tin theo những phương thức rất truyền thống mà khi hoạt động ở Pháp với các đồng chí quốc tếcủa mình vẫn sử dụng. Một "bức thư tăm" (viết trên giấy rồi vê nhỏ lại như que tăm) đã được bí mật chuyến tới Maurice Thorez lúc đó đã là Tổng bí thư Đảng Cộng san Pháp vốn quen biết Nguyễn Ái Quốc trong các hoạt động của Đảng ở Pháp hay ở Quốc tế Cộng sản và lúc này cũng tham gia Chính phủ của nước Pháp sau khi được giải phóng khỏi chủ nghĩa phát xít. Bức thư tăm chỉ mang môt nội dung ngắn gọn : "Gửi đồng chí Thorez/ Paul chính là Hồ Chí Minh"...

    Cách đây 5 năm, khi Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình kể lại cho tôi câu chuyện này với lời căn dặn là chỉ biết vậy. Còn việc công bố, cứ theo quy cách của Bảo tàng Hồ Chí Minh thì rất nghiêm nhặt. Nhưng tôi lại nghĩ rằng, việc công bố những chi tiết này sẽ góp phần định hướng cho các nhà nghiên cứu có cơ hội đào sâu hơn các nguồn tư liệu để làm sáng tỏ hơn các hiểu biết về một thời kỳ rất quan trọng trong quá trình hình thành một "nhà cách mạng chuyên nghiệp" để rồi trở thành một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng rộng lớn vượt khỏi khuôn khổ quốc gia, dân tộc của mình. Mọi chi tiết chỉ góp phần làm đậm nét hơn những trải nghiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi còn trẻ đã trải qua một cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất với tích lũy những tri thức về chiến tranh và cách mạng để sau này đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn trong việc biến Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai thành cơ hội cho cuộc Cách mạng Giải phóng dân tộc Việt Nam thành công cũng như trong chỉ đạo các cuộc kháng chiến sau này. Những chi tiết ấy cũng làm sáng tỏ hơn phẩm chất của một con người hành động vì nghĩa tín với những người cùng thời như gia đình của Vua Bếp Escoffier. 

Nghĩ vậy mà tôi quyết định viết bài này sau 5 năm cân nhắc và tôi rất mừng khi thấy ông bà Nguyễn Thị Tình là những người có những tình cảm , cũng là trách nhiệm sâu sắc với Bác Hồ, đồng tình với mong muốn giúp các nhà nghiên cứu có định hướng tìm hiểu sâu sắc hơn cuộc đời và hành trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn lịch sử này với niềm tin vững chắc rằng kết quả của nó càng làm sáng hơn tấm lòng và phẩm cách của Bác Hồ vĩ đại

*. Bài sđăng trên Xưa & Nay", số tháng 10/2015