Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới thiệu sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới thiệu sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

NGƯỜI CHĂM HỒI GIÁO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG MEKONG



 Dưới đây là bài viết của William G. Clarence-Smith,( SOAS) giới thiệu cuốn sách  về cộng đồng người Chăm hồi giáo ở Đồng bằng sông Mekong "Cham Muslims of the Mekong Delta: place and mobility in the cosmopolitan periphery" của TS. Philip Taylor,  Copenhagen: NIAS Press, 2007. xvi & 313 pp. ISBN 978-87-7694-009-6,
 Nguồn: http://aseasuk.org.uk/v2/bookreviews/ChamMuslims


Đặng Thị Vân Chi dịch ( mong nhận được sự góp ý cho bản dịch này- xin chân thành cám ơn)


Người Chăm Hồi giáo ở đồng bằng sông Mekong : Không gian và sự di chuyển ở vùng biên quốc tế.
    Với số lượng ít ỏi các tài liệu bằng tiếng Anh về người Chăm ở lục địa Đông Nam Á hiện nay, thì bất kỳ ấn phẩm mới nào về người Chăm cũng sẽ đều được hoan nghênh.Vì đây là một cuốn sách tuyệt vời, nên nó được chào đón gấp đôi. Chủ đề được giới hạn trong việc tìm hiểu về người Chăm ở đồng bằng sông Mekong của Việt Nam, những người sống dọc theo biên giới Campuchia, nhưng cũng có đề cập đến những người Chăm ở Cămpuchia và những người Chăm ở miền Trung Việt Nam. Cộng đồng Chăm ở đồng bằng bằng sông Mekong hoàn toàn theo Hồi giáo, và nhiều thành viên của họ sống ở Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh), cả tạm thời lẫn lâu dài. Taylor đã thực hiện tám chuyến đi thực địa trong thời gian từ năm 1999 đến năm 2005, và đã thu thập một lượng tư liệu dân tộc học phong phú qua các cuộc hội thoại 'mở', chủ yếu là thực hiện bằng tiếng Việt hơn là bằng tiếng Chăm hay tiếng Khmer. Tuy không đặc biệt tập trung vào lịch sử, tác giả cũng đã trình bày một chút về nguồn gốc và sự phát triển của cộng đồng năng động này. Nhìn chung, cuốn sách được viết và minh họa tốt với những giai thoại, bản đồ hữu ích, và các bức ảnh có tính phát hiện. Tuy nhiên, việc nhấn mạnh về mặt lý thuyết tính chất lai và tính chất đa bản sắc đôi khi làm cuốn sách trở nên hơi cầu kỳ và nặng nề.
       Phần chính của cuốn sách là những phân tích tuyệt vời về áp lực giữa chủ nghĩa địa phương mạnh mẽ với khuynh hướng toàn cầu hóa rõ rệt. Điều này dẫn đến việc các khu vực nông thôn quốc tế này hình thành những đòi hỏi quốc tế hóa trong một cách thề hiện rất đặc trưng. Chúng được khắc sâu một cách đầy cảm xúc trong khu vực nhà ở của họ và sự tự bảo vệ nhằm chống lại việc bị đồng hóa bởi các truyền thống có một lịch sử lâu dài của người  Việt Nam. Làng Chăm ở vùng đồng bằng dễ dàng được nhận ra ngay lập tức bởi các thánh đường Hồi giáo, nhà ở, và trang phục (sarongs). Một nét dễ thấy khác là vai trò thứ yếu của nông nghiệp trồng lúa so với thương mại, vận tải đường sông, đánh cá, đóng thuyền và nghề thủ công. Tuy nhiên, người Chăm đồng thời là những người có tính quốc tế. Họ nhận thức được về nguồn gốc của họ ở vùng cao nguyên miền nam Trung bộ Việt Nam, mặc dù hiếm khi họ cảm thấy có mối quan hệ ràng buộc mạnh mẽ với người" Chăm theo đạo Hindu" hoặc có họ hàng gì với những người Chăm theo “Hồi giáo đã bản địa hóa”. Như là những người Hồi giáo ngoan đạo, họ là một phần của cộng đồng Hồi giáo toàn cầu, và họ nhận ra rằng đã từ lâu họ có sự hòa huyết với những người nhập cư Hồi giáo từ khắp nơi trên khu vực Đông Nam Á và ở cả những nơi xa hơn nữa. Những từ vay mượn tiếng Malay khá phổ biến trong ngôn ngữ Nam Đảo của họ, và tiếng Ả Rập cũng được học tập khá rộng rãi. Như là những thương nhân sắc sảo, họ đi du lịch khắp nơi và, một phần do nhiều thế kỷ khủng bố, cộng đồng cư dân đã hình thành ở nhiều nơi trên thế giới. Một số lợi nhuận thu được từ thương mại và cuộc sống tha hương đã được tái đầu tư trở lại vào làng quê, trong một  mô hình quen thuộc từ rất nhiều người dân luôn di động khác.
         Phần lớn của cuốn sách, đáng chú ý từ chương 4 đến chương 6, được dành cho những tác động của việc những người Cộng sản tiếp quản vào năm 1975, tiếp theo là thời kỳ tự do hóa kinh tế. Một số người Chăm đã khá thành công trong việc khai thác sự thất bại trong quản lý kinh tế từ trên xuống sau năm 1975, nhưng nhiều người khác đã bị đưa đến vùng kinh tế mới và đã mất đi đất đai của họ cho những người Việt Nam định cư, những người bị coi là ưa thích chế độ thực dân Pháp và "chế độ bù nhìn" được người Mỹ ủng hộ . 
        Trong những năm 1990, áp lực chính trị giảm bớt, nhưng người Chăm thường thấy khó tồn tại trong chủ nghĩa tư bản tự do của thời kỳ đổi mới. Nghề Dệt trở nên tồi tệ do việc tự do hoá ngành nhập khẩu hàng dệt may, mặc dù "du lịch dân tộc thiểu số”, đã bù đắp phần nào cho tổn thất này. Sài Gòn đã trở nên ngày càng quan trọng đối với người Chăm đồng bằng sông Cửu Long, với khoảng từ bảy đến gần một chục Thánh đường Chăm Hồi giáo truyền thống .
         Một phần quan trọng khác của cuốn sách, chủ yếu là trong chương 2 và chương 3, khảo sát sự tiến bộ của cải cách Hồi giáo, như là bản sắc của cộng đồng dần dần đi đến chỗ được thể hiện trong tôn giáo hơn là trong giới hạn tộc người. Việc phụ nữ người Kinh (dân tộc Việt Nam) kết hôn với thành viên trong cộng đồng, phải đổi sang đạo Hồi mang ý nghĩa  biểu tượng quan trọng. Sự ủng hộ, cả về tài chính và đạo đức, đến từ thế giới Hồi giáo rộng lớn hơn, và sự đền đáp sau những chuyến hành hương là những nguồn quan trọng từ ảnh hưởng bên ngoài.
       Như những nơi khác ở Đông Nam Á, cải cách  "Wahhabi" có xu hướng được thể hiện bằng cách xây dựng Thánh đường Hồi giáo riêng biệt, từ chối sự tôn kính các 'thánh' và tổ tiên, không tán thành  lễ kỷ niệm sinh nhật của Thiên sứ, có thái độ thù địch với chủ nghĩa thần bí Sufi, và quy định nghiêm ngặt trang phục của phụ nữ. Nền tảng tri thức của Taylor nằm trong các nghiên cứu về đa dạng tôn giáo và phân loại tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long, và ông thỉnh thoảng có một chút do dự về các vấn đề liên quan đến Hồi giáo và hàng hải khu vực Đông Nam Á. Ông dường như không biết gì về vai trò của người Hồi giáo Tamil, những người đã tới Việt Nam dưới sự bảo trợ của thực dân Pháp, mặc dù ông đề cập đến, trong quá khứ, người 'Ấn Độ' đã xây dựng nhà thờ Hồi giáo Vĩnh Trà vào năm 1921 (trang 118).
      Mặc dù có đề cập đến một vị thánh Ả Rập của dòng truyền thừa của 'Ali (trang 77), gần như chắc chắn là một sayyid Hadhrami, ông gần như là mơ hồ về ảnh hưởng của Ả Rập, không nhận thức được các hoạt động của cộng đồng người Ả Rập Hadhrami hải ngoại trong khu vực Đông Nam Á. Các cửa hàng cà phê có tầm quan trọng rất lớn như là một nơi dành cho giao tiếp xã hội, và uống cà phê nói chung, nhưng nó không có vẻ hào nhoáng bên ngoài của nơi uống cà phê giao tiếp có thể có trong thế giới Hồi giáo, và rất khác với nơi uống trà trong thế giới Trung Hoa.
         Những điểm mạnh thực sự của cuốn sách này nằm trong một sự hiểu biết sâu sắc và phức tạp về các xã hội bị phân mảnh vùng cực Nam của Việt Nam. Như Taylor viết trong kết luận của mình, “đồng bằng sông Mêkong vẫn còn bị chia rẽ, trớ trêu thay, bởi cái nhìn cạnh tranh về sự đơn nhất của con người, chứ không phải do một trong số những quyền lực phổ quát áp đặt trên toàn bộ khu vực". Câu chuyện về người Chăm của một địa phương quốc tế hóa này là chuyện của một cộng đồng Hồi giáo, và ngày càng có xu hướng quốc tế như vậy, và nó vẫn còn chưa rõ liệu những căng thẳng dựng lên quanh cải cách 'Wahhabi' có thể dẫn đến bạo lực theo thời gian hay không? Trong bất kỳ trường hợp nào, có nhiều điều để hy vọng rằng cuốn sách tốt này sẽ kích thích hơn nữa việc nghiên cứu về người Chăm, bao gồm cả những người của vùng cao nguyên phía nam miền trung của Việt Nam, những người đã giữ lại nhiều đặc điểm Ấn Độ giáo như là những đặc điểm tiêu biểu của họ khi họ là một trong những dân tộc mạnh mẽ nhất  của khu vực Đông Nam Á.

Còn đây là lời giới thiệu của tác giả cuốn sách -Philip Talor


Đặng Thị Vân Chi dich
        Cuốn sách lý giải về sức sống mãnh liệt của một cộng đồng Hồi giáo ở vùng biên giới bị giằng xé bởi những cuộc tranh chấp ở khu vực đồng bằng hạ lưu sông Mekong và thích nghi một cách sáng tạo trước những cải cách hiện đại hóa của chính phủ Việt Nam. Chính thức được coi là một trong những tộc người thiểu số ở Việt Nam, người Chăm nói được nhiều ngôn ngữ là một phần của cộng đồng xuyên quốc gia có xu hướng quốc tế hóa, và như những thương nhân, những người hành hương và lao động di cư trên khắp vùng đất chính ở Đông Nam Á và ở cả những vùng đất xa xôi khác. Tạo ra một mạng liên kết địa phương và ngoài địa phương phát triển trong suốt chiều dài lịch sử bao gồm nhiều lần di cư, người Chăm vượt lên sự cô lập về chính trị và kinh tế của họ bằng một chiến lược sử dụng không gian và sự di chuyển với  Hồi giáo như là tâm điểm của sự thống nhất
          Nghiên cứu dân tộc học rất nên đọc này đã mô tả lịch sử định cư và nguồn gốc của người Chăm Hồi giáo ở đồng bằng sông Mekong và giải thích về thực hành tôn giáo của họ, cuộc sống vật chất và mối quan hệ với nhà nước Việt Nam và Campuchia. Nó cung cấp sự hiểu biết sâu sắc về sự khác biệt giữa  tôn giáo và dân tộc ở đồng bằng sông Mekong mà sự hiểu biết này sẽ làm phong phú thêm những nghiên cứu so sánh trong những xã hội đa nguyên văn hóa và là đóng góp có ý nghĩa cho việc nghiên cứu đạo Hồi, quốc tế hóa, thương mại, phát triển nông thôn và khả năng bảo tồn bản sắc của cộng đồng Malay ở hải ngoại.



Philip Taylor ( mặc áo đen đứng thứ 2 từ trái sang) khi đang là NCS ở Đại học Quốc gia Úc năm I995. Người mặc áo trắng ( thứ 3 từ trái sang)  là GS Sử học David Marr, đứng đầu tiên từ phải sang là TS Nguyễn Quang Ngọc, thứ 3 từ phải sang là TS Thaveeporn Vasavakul người Thái Lan.

Xem thêm bài giới thiệu nghiên cứu khác về  người Chăm ở đây:
http://dzunglam.blogspot.com/2012/05/vickery-va-champa-revised.html

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011

Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng

Đó là tên cuốn sách của PGS.TS Choi Byung Wook ( Đại học Inha Hàn Quốc) vừa ra mắt bạn đọc hôm nay tại sảnh tầng 5 nhà E Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong lời phát biểu, GS Choi đã nói, đây chính là Luận án TS của ông  được bảo vệ tại Đại học Quốc gia Úc và ông đã rất vui mừng khi nó được xuất bản bằng tiếng Anh lần đầu tiên. Trong lần xuất bản bằng tiếng Việt này ông cảm thấy sung sướng hơn vì 3 lý do: Một là công trình của ông đã đến được với độc giả Việt Nam, thứ hai là nó đã được trở về nơi nó hình thành và  đi ra với thế giới và thứ 3, điều rất tuyệt vời là nó được ra mắt vào đúng dịp hội ngộ của các nhà sử học Việt Nam tại cuộc Hội thảo" Sử học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa: những vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận" được tổ chức ngày 4/3/2011, với sự có mặt của những  nhà sử học Việt Nam đến từ mọi miền đất nước.





Trích lời giới thiệu của PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ : " Nhìn một cách tổng quát, cuốn chuyên khảo của tác giả Choi Byung Wook là một công trình nghiên cứu bổ ích, có giá trị. Nó cung cấp cho chúng ta những tư liệu mới, một số lập luận kiến giải mới, một phương pháp tiếp cận khoa học và đưa ra những gợi ý mới, những vấn đề mới có thể trao đổi trong những cuộc thảo luận rộng rãi sau này"
Cuốn sách được thiết kế với 2 phần chính có liên quan với nhau: quá trình vận hành và đặc điểm cấu trúc của vùng đất Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XIX.
Phần I: Quyền lực địa phương và sự tiêu vong của nó
 Chương 1. Di sản của hệ thống chính quyền Gia Đinh
 Chương 2.Gia Định thành tổng trấn( 1808-1833) và Lê Văn Duyệt
 Chương 3. Giải thể quyền lực ở vùng đất Nam Bộ
Phần II: Những nét đặc thù dứơi thời Minh Mạng
Chương IV: Chính sách giáo hóa ngừơi Nam Bộ của Minh Mạng
Chương V: Hậu quả của chính sách đồng hóa của Minh Mạng
Chưng VI: Đạc điền và bảo vệ tư hữu ruộng đất
Kết luận
" Cảm nhận bao trùm của người đọc cuốn sách là Choi Byung Wook bằng một phương pháp nghiên cứu thực chứng và  phân tích định lượng khá hiện đại, tác giả đã phục dựng cho chúng ta toàn cảnh một  vùng đất Nam Bộ dưới thời Minh Mạng, một mảnh đất đầy tiềm năng , xung lực nhưng cũng hàm chứa nhiều mâu thuẫn nội tại. Tác giả đã có ý tô đậm  hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa triều đình trung ương với thực thể di sản truyền thống địa phương và mâu thuẫn giữa các cộng đồng cư dân trong đó có mâu thuẫn dân tộc và sắc tộc. Người đọc có thể nhận thấy một sự quan sát sắc sảo ở luận cứ thứ nhất, đồng thời còn băn khoăn về sự toàn diện và tính thuyết phục của luận cứ thứ hai. Có thể ở đây lý luận về một " chủ nghĩa địa phương- vùng trong nghiên cứu là một lợi thế tích cực, nhưng nó sẽ trở thành một điểm yếu nếu chúng ta quá tin cậy khi sử dụng, nhất là những dữ liệu còn ở mức khiêm tốn. Điều đó cũng có thể áp dụng cho phương pháp phân tích định lượng. Lịch sử vốn là một ma trận phức hợp luôn luôn biến động ẩn hiện với vô vàn những tham số mà sự tiếp cận, nắm bắt và hiểu biết được bản chất những sự kiện, thông tin xác thực của chúng ta thì chỉ hạn hẹp. Vậy mọi sự quy nạp, khẳng định và kết luận phải chăng nên để ngỏ và mềm dẻo? Tuy nhiên đặt ra đựơc câu hỏi đã là tìm được một nửa câu trả lời." PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ nhận xét.

PGS. TS Choi Byung Wook chia sẻ: " Tôi rất vui vì qua bản dịch này được chia sẻ cùng với quý độc giả Việt Nam  những thông tin và cách nhìn về vùng đất Nam Bộ Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIX. Nội dung của cuốn sách không chỉ là ý kiến cá nhân của một ngừơi nước ngoài nghiên cứu lịch sử, mà là của một ngừơi bạn ở đất nước đồng văn láng giềng, một đất nước cũng giống như Việt Nam, với nhiều sự kiện lịch sử sôi động trong cả hai thế kỷ XIX và XX. Tôi hi vọng cuốn sách này sẽ mang lại cho độc giả Việt Nam  những tri thức mới trên cả hai phương diện: một là tri thức về lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, hai là tri thức về cách nhìn lịch sử của một ngừơi nghiên cứu lịch sử đến từ một đất nước có truyền thống lịch sử, văn hóa và những kinh nghiệm lịch sử rất gần gũi với Việt Nam..."

Choi Byung Wook trồng cây lưu niệm trước tượng đài Quang Trung ở Huế  tháng 2/2010

"

Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2010

Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945


" Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945" là công trình do Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội phát hành năm 2008 trên cơ sở Luận án TS Sử học của Đặng Thị Vân Chi .Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Quang Hưng.

Tổng quan về luận án:
    Quyết định chọn đề tài Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt đến với tôi một cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Đó là trong khi xem xét một số trang báo Nam Phong và Đông Dương tạp chí với ý định tìm hiểu về việc phổ biến chữ quốc ngữ đầu thế kỷ XX cho luận văn thạc sỹ của mình, tôi bắt gặp mục Nhời đàn bà trên Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương dưới tên phụ nữ Đào Thị Loan. Một nhận xét chợt đến với tôi, đó là Phụ nữ chiếm một nửa xã hội, những thay đổi trong xã hội Việt Nam về mặt kinh tế, chính trị và văn hóa dưới tác động của chủ nghĩa thực dân Pháp, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây những năm đầu thế kỷ XX chắc chắn ảnh hưởng nhiều đến phụ nữ, đặc biệt trong một xã hội phong kiến chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo như Việt Nam. Và tôi đã quyết định chọn đề tài " Vấn đề phụ nữ trên báo chí đầu thế kỷ XX" cho luận văn Thạc sỹ của mình. Lúc đó tôi hoàn toàn chưa có hình dung gì về vấn đề này. Do điều kiện thời gian cũng như yêu cầu của một luận văn thạc sỹ, tôi đã giới hạn việc tìm hiểu qua việc khảo sát một số tờ báo tiêu biểu như : Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam Phong, Nữ giới chung và Phụ nữ tân văn.
    Đăng cổ tùng báo là một trong những tờ báo hiếm hoi được xuất bản bằng tiếng Việt từ khá sớm,   Đông Dương tạp chí cũng là tờ báo khá điển hình đề cập đến nhiều vấn đề về văn hóa, xã hội, điều  đặc biệt là cả hai tờ Đăng cổ tùng báo và Đông Dương tạp chí đều có mục "Nhời đàn bà" dành cho phụ nữ và bàn về các vấn đề của phụ nữ, Nam Phong là tờ tạp chí nổi tiếng xuất bản sau chiến tranh thế giới I. Và cuối cùng là hai tờ báo phụ nữ: Nữ giới chung- tờ báo phụ nữ đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam và Phụ nữ tân văn, tờ báo Phụ nữ được đánh giá là thành công nhất trong số các tờ báo phụ nữ trước 1945. Quan trọng hơn, đây là những tờ báo còn được lưu trữ khá đầy đủ tại các thư viện và điều này đảm bảo  tính khoa học cho luận văn khi xem xét các tờ báo như những nghiên cứu trường hợp.  Sau khi hoàn thành luận văn thạc sỹ, tôi có một hình dung chung về vấn đề. Đó là trong thời kỳ cận đại, ảnh hưởng của tiếp xúc văn hóa Đông -Tây, nhận thức về vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội, vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ là những vấn đề được thảo luận nhiều trên báo chí. Và rõ ràng vấn đề phụ nữ đang trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Kết quả của luận văn cũng gợi ra cho tôi một hướng nghiên cứu mới đó là tìm hiểu vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trong cả một giai đoạn dài từ đầu thế kỷ XX- là thời điểm hình thành nền báo chí tiếng Việt- cho tới  cách mạng tháng Tám năm 1945- mà thành công của cuộc cách mạng này với bản Hiến pháp năm 1946 công nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện đã đặt những nền móng đầu tiên cho việc thực hiện quyền phụ nữ ở Việt Nam.
     Tôi nhận thấy việc nghiên cứu “Vấn đề phụ nữ trên báo chí trước Cách mạng tháng Tám năm 1945” không chỉ có ý nghĩa góp phần nghiên cứu lịch sử phụ nữ - một bộ phận của lịch sử dân tộc, mà còn làm sáng tỏ sự phát triển của quá trình nhận thức về vai trò và vị trí phụ nữ trong xã hội nói chung, cũng như sự tự nhận thức của chính bản thân phụ nữ về các vấn đề của giới mình. Qua đó, nghiên cứu vấn đề phụ nữ trên báo chí còn góp phần làm phong phú thêm mảng lịch sử tư tưởng Việt Nam thời kì cận đại.
     Từ nhận thức rằng phụ nữ muốn được giải phóng trước hết họ phải tự giải phóng mình, cuộc đấu tranh đòi nữ quyền và giải phóng phụ nữ phải xuất phát từ nhận thức của bản thân phụ nữ. Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi nhằm:
    + Tìm hiểu quá trình nhận thức của phụ nữ về các vấn đề của mình qua báo chí tiếng Việt xuất bản ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và vấn đề phụ nữ ở Việt Nam đã hình thành như thế nào trong một xã hội thuộc địa nửa phong kiến?
    + Tìm hiểu những thay đổi trong đời sống của phụ nữ, phong trào phụ nữ và bước đầu tìm hiểu những đóng góp của phụ nữ đối với cuộc đấu tranh chung của toàn dân tộc
    + Tìm hiểu vai trò của Đảng Cộng sản trong việc thúc đẩy quá trình nhận thức của phụ nữ và xã hội đối với vấn đề phụ nữ, cũng như việc giải quyết vấn đề phụ nữ ở Việt Nam thời kì cận đại.
      Mặc dù những công trình nghiên cứu về lịch sử phụ nữ và những đóng góp của phụ nữ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc thì có nhiều, nhưng những nghiên cứu về quá trình nhận thức của phụ nữ về vai trò và địa vị phụ nữ trong gia đình và xã hội thì  hầu như chưa có ai nghiên cứu ngoài công trình của David Marr cuốn Vietnamese Tradition on Trial 1920-1945 (Truyền thống Việt Nam trong thử thách 1920-1945. Trong cuốn sách này có chương 5 - Women questions (Những vấn đề phụ nữ) được đánh giá là có nhiều nhận xét độc đáo. David Marr đánh giá cao tầm quan trọng của những thay đổi trong xã hội và trong ý thức chính trị của một bộ phận dân cư ở Việt Nam những năm 1920-1945. Đặt trong bối cảnh của những thay đổi đó, tác giả đã nhận thấy nổi bật lên “vấn đề phụ nữ”. Theo ông, ngay từ những năm 1920, vấn đề phụ nữ đã nhanh chóng trở thành “trung tâm điểm mà các cuộc thảo luận khác thường xoay quanh nó”. Cũng trong chương này, tác giả đã chú ý đến các quan niệm truyền thống về vai trò và địa vị của phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Ông cho rằng: mặc dù sự áp bức đối với phụ nữ “khác nhau tuỳ theo từng giai cấp, nhưng tất cả phụ nữ đều chịu ảnh hưởng ở mức độ nào đó” [tr199] và đó là lý do đầu thế kỷ XX, phụ nữ bắt đầu lên tiếng phản kháng. Ông cũng quan tâm tới sự ra đời của các tờ báo Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn, Hội nữ công của bà Đạm Phương ở Huế, chủ nghĩa Mác và vấn đề phụ nữ, cũng như sự bùng nổ của các cuốn sách và cẩm nang cho phụ nữ... Năm 1995, chương trình Đông Nam á của Đại học Cornell của Mỹ xuất bản tập Essays into Vietnamese pasts (“Những bài tiểu luận về Việt Nam xưa) trong đó có bài: “Printing and power: Vietnamese Debates over Women’s Place in Society, 1918-1934” (ấn phẩm và quyền lực: Các cuộc thảo luận ở Việt Nam xung quanh vấn đề vị trí của người phụ nữ trong xã hội 1918-1934) của Shawn Mc Hale. Bài báo đã phân tích ảnh hưởng của báo chí và sách trong thời gian đầu thế kỷ XX đối với nhận thức của phụ nữ về vấn đề nam nữ bình quyền, cũng như ý nghĩa của cuộc thảo luận trên hai tờ báo Nữ giới chung và Phụ nữ tân văn về vị trí của người phụ nữ trong xã hội.
     Đây là hai công trình nghiên cứu hiếm hoi của học giả nước ngoài có liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án. Là những người đầu tiên đặt “vấn đề phụ nữ” trong bối cảnh những thay đổi về kinh tế, xã hội và văn hoá ở Việt Nam thời kì cận đại, các tác giả chủ yếu mới khảo sát hai tờ báo phụ nữ là báo Nữ giới chung và Phụ nữ tân văn, mà chưa có điều kiện khai thác các tờ báo khác xuất bản ở Việt Nam thời kì này, trong khi hầu hết các báo xuất bản thời kì này đều có nhiều bài viết về phụ nữ. Đặc biệt là sự xuất hiện của dòng báo phụ nữ, cũng như ảnh hưởng của đường lối vận động phụ nữ của Đảng Cộng sản Việt Nam tới cuộc thảo luận trên báo chí thì chưa được khai thác bao nhiêu. Do đó, việc nghiên cứu “Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước Cách mạng tháng Tám năm 1945” là một việc làm cần thiết và đòi hỏi người nghiên cứu phải biết giải quyết vấn đề một cách độc lập.
     Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát báo chí, chủ yếu những bài báo có tính chính luận đề cập tới quan niệm, nhận thức về vấn đề phụ nữ và một số tin tức có liên quan tới đời sống phụ nữ...
    Với các sáng tác văn học trên báo, chúng tôi chỉ khảo sát một số tác phẩm được coi là những sáng tác tiêu biểu cho khuynh hướng vận động giải phóng phụ nữ của nhóm Tự lực văn đoàn.
    Vì báo chí tiếng Việt chủ yếu mới xuất hiện từ đầu thế kỷ XX nên giới hạn về thời gian khảo sát của chúng tôi là báo chí tiếng Việt từ đầu thế kỷ XX đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
      Nguồn tư liệu chủ yếu mà chúng tôi khai thác là 92 tờ báo tiếng Việt tiêu biểu xuất bản từ những năm đầu thế kỷ XX đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 với đầy đủ các loại báo: nhật báo, tuần báo, báo đăng tin thời sự, báo chuyên mục với hàng ngàn trang báo về phụ nữ và 10 tờ báo phụ nữ xuất bản trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
     Bên cạnh tư liệu báo chí, chúng tôi cũng quan tâm đến các loại sách lý luận của chủ nghĩa Mac- Lênin về vấn đề phụ nữ, các loại sách chuyên khảo về lý thuyết nữ quyền, tác giả, tác phẩm, lịch sử báo chí, đặc biệt các hồi ký của các nhà văn, nhà báo, các nữ chiến sĩ cách mạng...
     Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận án là phương pháp phân tích, mô tả và so sánh các quan điểm phản ánh nội dung của vấn đề dưới các dạng thông tin khác nhau của báo chí như xã luận, tin tức hay cả các mục như tạp trở, văn uyển, chuyện cười...
      Trong quá trình khai thác tư liệu báo chí, chúng tôi luôn đặt nó trong mối quan hệ lịch đại và đồng đại để có thể rút ra những nhận xét khách quan, sát với thực tế lịch sử.
     Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp thống kê để nhận rõ khuynh hướng tư tưởng của tờ báo trong một thời kì lịch sử trong trường hợp tờ báo còn được lưu trữ đầy đủ trong một thời gian nhất định.
     Với nguồn tư liệu báo chí, chúng tôi cũng chú ý đến những thông tin về hoàn cảnh của tác giả, điều kiện chính trị, xã hội mà tờ báo phụ thuộc vào.

      Ngoài phần mở đầu, nội dung cuốn sách gồm 3 chương:
    Chương 1 chúng tôi trình bày về Bối cảnh Xuất hiện “vấn đề phụ nữ” trong xã hội Việt Nam
     Sau khi khảo sát những điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến vai trò và địa vị của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử và ảnh hưởng của Nho giáo đối với địa vị phụ nữ, chúng tôi đi vào tìm hiểu những điều kiện mới của “vấn đề phụ nữ" ở Việt Nam dưới tác động của các chương trình khai thác thuộc địa, chính sách cai trị của Pháp, và ảnh hưởng của tình hình thế giới, sự xuất hiện của tư tưởng dân chủ phương Tây ở Việt Nam, cũng như ảnh hưởng của phong trào nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên thế giới. Đặc biệt tìm hiểu tình hình phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa và  phụ nữ đã trở thành một "vấn đề" đòi hỏi cần phải giải quyết ngay trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX như thế nào, cũng như nội hàm của vấn đề phụ nữ ở Việt Nam thời cận đại.

     Chương 2 chúng tôi đi sâu tìm hiểu "vấn đề phụ nữ" trên báo chí Tiếng Việt từ đầu thế kỷ XX đến năm 1929. Trong chương này, chúng tôi khảo sát vấn đề phụ nữ được đề cập đến trong những tờ báo tiếng Việt hiếm hoi được xuất bản từ những năm đầu triên của thế kỷ XX như tờ Nông cổ mín đàm (I900),  Đăng cổ tùng báo( I907) và Đông Dương tạp chí ( I9I3)... Đặc biệt chú ý tới những vấn đề phụ nữ được đề cập trong tờ báo phụ nữ bằng tiếng Việt đầu tiên ở Việt Nam- báo Nữ giới chung năm 1918 và bối cảnh bùng nổ các “Diễn đàn phụ nữ” trên báo chí sau chiến tranh Thế giới thứ nhất. Trong chương này chúng tôi cũng  khảo sát sự phát triển của báo chí và vấn đề phụ nữ được thảo luận trên các diễn đàn phụ nữ.
      Có thể thấy các cuộc thảo luận về vấn đề phụ nữ giai đoạn này phản ánh ảnh hưởng của phong trào nữ quyền thế giới ở Việt Nam, đồng thời phản ánh cuộc đấu tranh giữa tư tưởng cũ và tư tưởng mới trong bối cảnh của tiếp xúc văn hoá Đông- Tây. Có thể phân thành hai loại quan điểm: quan điểm thủ cựu và quan điểm cấp tiến.
      Những người thủ cựu quan niệm vị trí của phụ nữ là trong gia đình, do đó việc giáo dục dành cho phụ nữ là nhằm giúp họ làm tròn trách nhiệm của người mẹ hiền, vợ thảo và cũng vì thế họ phê phán phong trào nữ quyền và giải phóng phụ nữ, coi đó là nguyên nhân làm phong hoá suy đồi, gia đình tan nát...Họ cực lực phê phán các“cô gái mới”, coi các cô là kết quả của phong trào nữ quyền và giải phóng phụ nữ. Bên cạnh đó những người cấp tiến- những trí thức yêu nước, tiến bộ, thấy được vai trò và trách nhiệm của phụ nữ đối với việc xây dựng xã hội nên họ ủng hộ phong trào nữ quyền và bình đẳng nam nữ. Họ quan niệm nam cũng như nữ đều phải có trách nhiệm đối với đất nước.
    Trong điều kiện bị kiểm duyệt một cách chặt chẽ, mục phụ nữ, tiếng nói của phụ nữ trở thành nơi những trí thức yêu nước khích lệ lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm của nhân dân, trong đó có phụ nữ đối với dân tộc đang chịu đè nén dưới ách thực dân. Trên Đông Pháp thời báo, báo Thần Chung, báo Công luận... các tác giả thường mượn lời phụ nữ để kêu gọi trách nhiệm của nhân dân đối với đất nước. Cuộc thảo luận này một mặt phản ánh những đòi hỏi của thực tế cuộc sống phụ nữ trước những thay đổi trong xã hội, mặt khác phản ánh sự hoà nhập của xã hội Việt Nam với thế giới hiện đại.
    Chúng tôi cũng đặc biệt quan tâm tới quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề phụ nữ trên báo Thanh niên và báo Thân ái. Đó là quan điểm hướng tới phụ nữ lao động. Người đã vạch ra dưới chế độ thuộc địa, phụ nữ là những người phải chịu nhiều bất công và bị áp bức nặng nề nhất. Vì vậy phụ nữ muốn được bình quyền, muốn được tự do và hạnh phúc trước hết phải làm cách mạng giải phóng dân tộc. Những quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về vấn đề này đã trở thành những luận điểm cơ bản của đường lối vận động phụ nữ của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.

     Trong chương 3 chúng tôi tiếp tục làm rõ "Vấn đề phụ nữ" trên báo chí tiếng Việt từ 1929 đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 dưới ảnh hưởng sâu sắc phong trào nữ quyền thế giới và quan điểm nữ quyền macxit, đặc biệt vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam và báo chí cách mạng trong việc định hướng nhận thức của phụ nữ cũng như xã hội về vai trò và địa vị của phụ nữ trong xã hội và các vấn đề như vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ, phụ nữ có vai trò gì trong cuộc vận động giải phóng dân tộc?
    Có thể nói với sự ra đời của tờ Phụ nữ tân văn, báo chí Việt Nam đã bước vào giai đoạn phát triển mới, đồng thời đánh dấu sự ra đời và phát triển của dòng báo phụ nữ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Từ 1930, phụ nữ đã trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Không chỉ hầu hết các báo phát hành thời kì này đều có mục dành cho phụ nữ, mà từ năm 1930 đến năm 1945, ở Việt Nam đã hình thành nên dòng báo chuyên biệt dành cho phụ nữ, của phụ nữ và vì phụ nữ. Vào thời kì phát triển 1930 -1935, ở cả ba kỳ đều xuất hiện báo phụ nữ. Sau đó có thể nói ở Việt Nam thời kì nào cũng có một tờ báo phụ nữ lưu hành, tờ này đình bản thì tờ khác ra đời.
     Nội dung của các tờ nữ báo phản ánh quá trình nhận thức của phụ nữ về vai trò và địa vị của phụ nữ trong xã hội, vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ, phản ánh đời sống của các tầng lớp phụ nữ dưới chế độ thuộc địa, phản ánh phong trào phụ nữ tư sản... Đặc biệt, với tư cách là những tờ báo cho phụ nữ, của phụ nữ, và vì phụ nữ, các tờ nữ báo quan tâm tới những vấn đề thuộc tâm tư tình cảm của phụ nữ, cũng như việc xây dựng hình ảnh người phụ nữ lý tưởng của thời đại. Các nhà báo nữ đã đưa được những vấn đề của phụ nữ lên một diễn đàn công khai để thảo luận, làm nên một diện mạo riêng, một sắc thái riêng cho những tờ báo nữ. Với các tờ nữ báo và các tác giả nữ, vấn đề phụ nữ được nhận diện một cách chân thực hơn, sâu sắc hơn và phản ánh được nguyện vọng cũng như tâm tư, tình cảm của phụ nữ chính xác hơn.
     Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, ngay từ khi mới thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ và quan tâm tới việc vận động phụ nữ tham gia vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng lãnh đạo. Đảng cộng sản cũng chủ trương sử dụng báo chí như một phương tiện hiệu quả để vận động, tổ chức và hướng dẫn phụ nữ trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc- tiền đề thực hiện nữ quyền và giải phóng phụ nữ.

Kết luận
      1.Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong xã hội Việt Nam đã hình thành “vấn đề phụ nữ”. Có thể nói đây là một vấn đề của lịch sử Việt Nam cận hiện đại, là vấn đề của cuộc vận động xã hội, vận động giải phóng dân tộc. Trong trào lưu vận động nữ quyền trên thế giới của những năm đầu thế kỷ XX, vấn đề phụ nữ ở Việt Nam không chỉ mang yếu tố nội tại mà còn là vấn đề mang tính thời đại. Từ những thay đổi trong nhận thức về vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội, phụ nữ bắt đầu nhận thức về quyền lợi chính trị của họ. Họ lên tiếng đòi quyền được bầu cử và ứng cử, quyền có tiếng nói đại diện trong các cơ quan quyền lực và từ đó họ ý thức được sứ mệnh của họ trong việc cải tạo xã hội- Họ tham gia vào các cuộc đấu tranh cách mạng nhằm thay đổi xã hội đồng thời thay đổi thân phận của chính họ. Đó là quyền bình đẳng nam nữ.
      2. Trong những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt từ sau chiến tranh Thế giới thứ nhất, vấn đề phụ nữ được phản ánh trên nhiều lĩnh vực văn hoá, văn học, nghệ thuật và nhanh chóng trở thành đối tượng phản ánh của báo chí.
      Từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX, trên báo chí đã xuất hiện vấn đề phụ nữ. Tuy nhiên, thời kì này, vấn đề phụ nữ được đề cập trên báo chí mới phản ánh nhận thức của một số trí thức Tây học và Nho học thức thời trước ảnh hưởng của văn minh phương Tây. Họ quan tâm hơn tới việc cải thiện việc giáo dục cho phụ nữ, nâng cao dân trí và chuẩn mực đạo đức của xã hội trong khuôn khổ của phong trào vận động Duy tân và trong bối cảnh của sự hợp tác Việt- Pháp hay dung hoà văn hoá Đông-Tây. Quan niệm Nho giáo vẫn giữ vai trò nền tảng trong việc tiếp thu và truyền bá các tư tưởng mới. Những bài viết của họ có thể coi là sự dạo đầu cho các cuộc thảo luận về vấn đề phụ nữ, cũng như đặt cơ sở cho sự ra đời của tờ nữ báo đầu tiên - báo Nữ giới chung vào năm 1918. Báo Nữ giới chung với chủ bút báo là bà Sương Nguyệt Anh và đội ngũ tác giả nữ, đã mở đầu cho thời kì tự nhận thức của bản thân phụ nữ về những vấn đề của mình.
      Sau chiến tranh Thế giới thứ nhất, cùng với sự phát triển của báo chí, sự bùng nổ các “diễn đàn phụ nữ” trên các tờ báo, vấn đề phụ nữ trở thành mối quan tâm chung của xã hội. Đặc biệt từ năm 1930, sau sự ra đời của báo Phụ nữ tân văn năm 1929, sự phát triển của dòng báo phụ nữ với sự tham gia của các cây bút nữ, vấn đề phụ nữ trên báo chí đã trở thành sự tự nhận thức của phụ nữ về các vấn đề của mình cũng như trách nhiệm của họ đối với xã hội, đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức của phụ nữ cũng như của xã hội về vai trò của phụ nữ, nữ quyền và giải phóng phụ nữ. Cùng với sự phát triển của báo chí, mối liên hệ cộng đồng cũng như ý thức cộng đồng phát triển. Báo chí đã làm cho phụ nữ Việt Nam xích lại gần nhau hơn trong mối quan tâm chung về các vấn đề của giới mình.
       3. Dưới chế độ phong kiến, quan niệm “nam tôn, nữ ty”, “nam ngoại, nữ nội” đã kìm giữ phụ nữ trong gia đình. Mặc dù phụ nữ Việt Nam luôn được thừa nhận là có đóng góp quan trọng cho kinh tế gia đình và nền sản xuất xã hội, nhưng phụ nữ chưa bao giờ có tiếng nói trong đời sống chính trị của đất nước. Phụ nữ không được đi học, không được tham gia vào bộ máy quyền lực ở bất cứ cấp nào từ địa phương cho tới trung ương.
      Đầu thế kỷ XX, ảnh hưởng của tiếp xúc văn hoá Đông - Tây và sự ra đời của nền của báo chí tiếng Việt, lần đầu tiên phụ nữ được dành cho một diễn đàn của riêng mình. Nhưng ở thời điểm này, phụ nữ chưa sẵn sàng cho việc tham gia vào trường ngôn luận.
      Sau chiến tranh Thế giới thứ nhất, trên báo chí bắt đầu xuất hiện tiếng nói của tầng lớp phụ nữ trí thức trong xã hội. Cuộc thảo luận về vấn đề phụ nữ trên báo chí đã thúc đẩy xã hội quan tâm hơn tới phụ nữ. Mục Phụ nữ trên các tờ báo đã trở thành phương tiện giúp phụ nữ nâng cao trình độ về mọi mặt. Sự phát triển của dòng báo phụ nữ- mà sự có mặt ngày càng đông của phụ nữ trong các vai trò từ chủ nhiệm báo đến chủ bút báo, đặc biệt là đội ngũ nữ phóng viên đã thể hiện sự trưởng thành của nữ giới trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng, trong ý thức trách nhiệm đối với xã hội, đối với bản thân cũng như sự trưởng thành về mặt chính trị, về ý thức công dân của phụ nữ.
      4. Vấn đề phụ nữ trên báo chí kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên trên Nông cổ mín đàm năm 1902 đến những vấn đề được đề cập trên báo chí trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước hết đã phản ánh ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng dân chủ trên thế giới về vấn đề phụ nữ. Đó là ảnh hưởng rất rõ nét của phong trào nữ quyền tư sản trên dòng báo chí hợp pháp. Những vấn đề phụ nữ trên báo chí hợp pháp và phong trào phụ nữ đô thị đã đi những bước đi của các nhà nữ quyền thế giới. Đó là những phụ nữ trí thức tổ chức ra báo, viết bài, diễn thuyết về vấn đề phụ nữ chức nghiệp, giáo dục phụ nữ, phụ nữ với thể thao, quyền bầu cử, ứng cử; tổ chức Hội chợ phụ nữ để khuếch trương công nghệ phụ nữ, tổ chức các hoạt động từ thiện...
     Là một nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vấn đề phụ nữ trên báo chí ở Việt Nam còn tập trung vào việc vận động giải phóng phụ nữ: phê phán các nguyên tắc đạo đức Nho giáo, phê phán chế độ đại gia đình, các nguyên tắc tam tòng, quan niệm về trinh tiết... Báo chí đã có vai trò định hướng nhận thức của xã hội về các vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ; đề ra giải pháp cho vấn đề mãi dâm; thế nào là người phụ nữ lý tưởng?...
     Quá trình nhận thức vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên báo chí trước năm 1945 đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội sang lĩnh vực chính trị xã hội, gắn giải phóng phụ nữ với giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.
     Cuộc thảo luận khẳng định vai trò của phụ nữ là tiền đề quan trọng hình thành nên nhận thức về trách nhiệm của phụ nữ đối với vận mệnh dân tộc, làm dấy lên phong trào phụ nữ giải phóng, giúp cho phụ nữ nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về quyền và nghĩa vụ của mình đối với gia đình và xã hội. Nhận thức này là sự chuẩn bị quan trọng cho phụ nữ dấn thân vào các phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo sau này.
       5. Năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã khẳng định giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, tiền đề quan trọng để giải phóng phụ nữ. Đảng cũng đề cao công tác vận động phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ lao động và coi báo chí là cơ quan tuyên truyền giáo dục và tập hợp phụ nữ. Trong các tờ báo cách mạng, dù phát hành công khai hay bí mật, vấn đề phụ nữ luôn được quan tâm đúng mức với những yêu cầu về quyền lợi cho phụ nữ.
       Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trong các cuộc đấu tranh, các khẩu hiệu đòi quyền lợi cho phụ nữ luôn gắn liền với các khẩu hiệu đấu tranh cách mạng của quần chúng đã động viên được đông đảo phụ nữ tham gia đấu tranh trong cao trào 1930-1931. ảnh hưởng của cuộc vận động phụ nữ do Đảng lãnh đạo đã làm xuất hiện trên báo chí những bài viết về thực trạng đời sống và làm việc của hầu hết phụ nữ lao động Việt Nam, cũng như cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng giữa khuynh hướng nữ quyền tư sản và nữ quyền mác xit.
     Thời kì vận động dân chủ 1936-1939, trên các tờ báo của Đảng, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vận động phụ nữ được phổ biến rộng rãi hơn. Qua sách báo, phụ nữ không chỉ nhận thức rõ về vấn đề giải phóng phụ nữ theo quan điểm mác xít, mà còn được giác ngộ về đấu tranh giai cấp. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ công khai bàn về quyền lợi chính trị của mình, cũng như tham gia một cách có tổ chức và hiệu quả vào cuộc đấu tranh của dân tộc, đòi quyền lợi về kinh tế, văn hoá, đòi tự do dân chủ, đòi quyền lợi chính trị...
      Trong cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945, báo chí cách mạng đã có vai trò to lớn trong việc tuyên truyền, giác ngộ quần chúng đấu tranh chống chiến tranh, hướng dẫn quần chúng phụ nữ tham gia hoạt động cách mạng, động viên phụ nữ tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng lãnh đạo.
     Cách mạng tháng Tám thắng lợi là một bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 khẳng định: “Phụ nữ bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực” là một thắng lợi quan trọng của phụ nữ trên con đường đấu tranh vì quyền con người và quyền phụ nữ, là kết quả của cuộc đấu tranh gần nửa thế kỷ của phụ nữ Việt Nam. Trong thành tựu hết sức vẻ vang này báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng.

Tạp chí Đông Nam Á số 3+4 năm 2008 có bài của Hương Phố/ GS Sử học Đinh Xuân Lâm giới thiệu về công trình đã đánh giá:
" 1. Vấn đề vai trò của phụ nữ có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử Việt Nam, xét cả về mặt dựng nước và giữ nước xuyên qua các thời kỳ lịch sử.
Dưới thời kỳ thống trị của thực dân Pháp, vấn đề phụ nữ càng trở nên cấp bách, mang tính thời đại gắn liền với giải phóng dân tộc. Giải quyết tốt đề tài này sẽ góp phần tích cực vào việc làm sáng tỏ một số vấn đề của lịch sử Việt Nam thời kỳ này, như quyền lợi và vai trò cùng vị trí của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội thuộc địa, sự trưởng thành của người phụ Việt Nam dưới ảnh hưởng của tiếp xúc văn hóa phương Tây và du nhập những tư tưởng dân chủ tư sản để tiến tới sự tự nhận thức về vai trò và vị trí của mình trong xã hội, thông qua một hoạt động tiêu biểu và sôi nổi là hoạt động báo chí. Từ những hiểu biết đó sẽ dẫn tới một nhận thức về yêu cầu quan trọng của công tác phụ nữ hiện nay, trong công tác này có vai trò lãnh dạo của Đảng là phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phụ nữ phát triển về các mặt một cách mạnh mẽ toàn diện để cùng góp phần tích cực vào công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Do đó nghiên cứu về phụ nữ trên báo chí như đề tài luận án xác định không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giái trị về mặt thực tiễn góp phần đẩy mạnh tiến trình thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam
2. Tác giả Luận án đã khai thác một nguồn tư liệu gốc rất phong phú- gồm các bài đăng trên 100 tờ báo tiếng Việt- một công phu sưu tập trước đây chưa ai thực hiện được, có sự kết hợp cần thiết với nghiên cứu các sách lý luận của chủ nghĩa Mac- Lenin về vấn đề phụ nữ, các sách chuyên khảo về lý thuyết nữ quyền..., có liên hệ tham khảo cả một số tác phẩm văn học đương thời, trên cơ sở đó đã hoàn thành được một công trình tổng kết vấn đề một cách toàn diện, tương đối hoàn chỉnh.
Độ tin cậy và tính hiện đại của phương pháp nghiên cứu vận dụng trong triển khai và hoàn thành luận án cũng cần được khẳng định. Đó là sự kết hợp khá chặt chẽ việc vận dụng các phương pháp phân tích mô tả và so sánh các loại hình thông tin trên báo chí để rút ra những quan điểm phản ánh nội dung vấn đề- đó là công việc rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi tác giả có sự thận trọng và tỉnh táo cần thiết- với các phương pháp lịch sử trong mối quan hệ lịch đại và đồng đại của các sự kiện, với phương pháp thống kê để qua đó nhận rõ khuynh hướng tư tưởng của tờ báo trong từng thời kỳ lịch sử trước khi đi tới một nhận định đánh giá sát hợp.
3. Với các ưu điểm trên, luận án của Đặng Thị Vân Chi đã làm rõ quá trình hình thành, cũng như thực chất của vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp trước cách mạng tháng Tám năm 1945, những thay đổi của xã hội Việt Nam trong đời sống gia đình, sinh hoạt văn hóa ngoài đời dưới ảnh hưởng của chính sách cai trị của Pháp và của tiếp xúc văn hóa Đông -Tây; quan trọng hơn mà cũng lý thú hơn là đã vạch được quá trình nhận thức của phụ nữ nói riêng riêng và của xã hội nói chung về vai trò, địa vị của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. một quá trình từ thấp đến cao về những khái niệm dân chủ tư sản về nữ quyền và giải phóng phụ nữ; cũng là lần đầu tiên giới thiệu cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng nữ quyền mac xít với khuynh hướng nữ quyền tư sản, từ đó làm rõ vai trò của Đảng cộng sản Đông Dương trong cuộc vận động phụ nữ tham gia cách mạng giải phóng dân tộc vì hạnh phúc và tiến bộ xã hội của nhân dân Việt Nam , từ đó trực tiếp giáo dục, bồi dưỡng phụ nữ đi vào công tác xã hội và đời sống, đóng góp cho sự nghiêp cách mạng trước mắt, thông qua đó vai trò của báo chí trong cuộc vận động phụ nói riêng, trong vận động cách mạng nói chung đã được làm rõ. Luận án này đã góp thêm một nguồn sử liệu phong phú, một nguồn sử liệu sống động cực kì quý cho công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn."
(Tr 15)

Ghi chú: Ai có nhu cầu đọc toàn văn, có thể mua sách ở hiệu sách trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tầng 1 nhà H ( 8 tầng), 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, hoặc liên hệ qua email: vanchi.dang106@gmail.com. Xin cám ơn. 

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010

Nghề in, quyền lực và sự chuyển biến của văn hoá Việt Nam 1920-1945 *

Shawn Fredrick Mc Hale ( Dissertation, Cornell University)

Người dịch: Đặng Thị Vân Chi ( Do hạn chế của người dịch, bản dịch chắc chắn còn nhiều thiếu sót, mong được các bạn góp ý kiến để bản dịch được tốt hơn. Làm ơn xin dẫn nguồn khi sử dụng. Xin cám ơn)

Lời nói đầu
Văn hoá in ấn Việt Nam - sức mạnh và lịch sử. Một số chú giải.

      Việt Nam từ lâu đã được biết đến là quốc gia có một truyền thống văn tự với chữ Hán và chữ Nôm. Những tài liệu này gồm rất nhiều thể loại và hình thức tài liệu như bia kí, kinh Phật, sách đạo đức Nho giáo, địa bạ, thơ, đài kỉ niệm, triết lý, sử học và các tài liệu địa lý. Nhưng bất chấp sự phong phú của các tài liệu chữ viết này, việc lưu hành và xuất bản chúng bên ngoài nhà nước cho tới đầu thế kỉ XX thì còn rất hạn chế. Thế kỉ XX có một sự chuyển biến lớn trong việc lưu hành và xuất bản các văn bản, một sự chuyển biến tạo nên đối tượng của nghiên cứu này.
     Giữa năm 1920-1945, việc sử dụng tài liệu ấn phẩm trong xã hội Việt Nam có bước đột biến, và trong quá trình phát triển nó trở nên gắn bó chặt chẽ với nhau, với cách mà người Việt Nam nghĩ về bản thân mình và thảo luận về những vấn đề chung của họ. Luận văn này vừa kiểm tra cách mà những thay đổi này mang lại và phân tích cách sử dụng ấn phẩm tăng lên bắt đầu thay thế cách truyền miệng các khái niệm và sự mở mang hiểu biết. Sự hiểu biết về những thay đổi này là điều cốt yếu để hiểu biết đầy đủ về lịch sử Việt Nam hiện đại, đã từng bị bóp méo bởi đã tập trung vào sự phát triển về chính trị và quân sự mà bỏ qua việc nghiên cứu những chủ đề không kém phần quan trọng.
      Sự mở rộng việc xuất bản và sự phát triển của “nền văn hoá in ấn” được gắn chặt với sự chinh phục của Pháp ở Việt Nam vì sự thúc đẩy lớn nhất cho việc lưu hành chữ la tinh đến từ các quan chức thuộc địa và các nhà truyền giáo. Nhưng vào những năm 1920 và 1930, thành viên của giới trí thức Việt Nam đã sử dụng chữ in cho việc thảo luận về tôn giáo ( Cao Đài, Phật giáo), triết học, gia đình, địa vị của phụ nữ cũng như tìm kiếm những điều kém tao nhã như xuất bản các sách nấu ăn hay việc quảng cáo). Chỉ riêng lý do này, việc nghiên cứu sự phát triển của việc xuất bản và sự phát triển của văn hoá in ấn đã có giá trị. Nhưng thậm chí nó còn có giá trị hơn nếu đặt những phát hiện như vậy vào trong khung cảnh rộng hơn. Những điều mơ hồ đã dẫn dắt Roger Charrtier đến phát hiện của ông về chế độ cổ đại Pháp đã dẫn dắt tôi ở chỗ: Làm thế nào “sự phát triển của việc phát hành ấn phẩm văn bản đã làm thay đổi các hình thức giao tiếp xã hội, làm thay đổi cách suy nghĩ và thay đổi những quan hệ quyền lực”(1).
      Việc in ấn và việc xuất bản chiếm một vị trí trung tâm cả trong việc thực hành quyền lực nhà nước lẫn chống lại quyền lực đó. Chính quyền thuộc địa Pháp cần rất nhiều tài liệu in ấn (mẫu đơn từ, hoá đơn, báo cáo) để hoạt động một cách trôi chảy. ( Có người đã cho rằng chính phủ thực dân cần giấy nhiều như vũ khí để giữ người dân dưới sự kiểm sóat của họ).
      Chúng ta đã giảm bớt sự phức tạp của quá khứ và xoá bỏ dĩ vãng của những tiếng nói đó nếu chúng ta đặt tất cả sự kiện ở Việt Nam thuộc địa trong khung cảnh của việc khẳng định quyền lực nhà nước cũng như việc chống lại quyền lực đó.
     Người Việt Nam đã chống lại chủ nghĩa đế quốc văn hoá Pháp. Khung cảnh trong quá khứ của người Việt chỉ giới hạn trong sự kháng cự và hợp tác, dù có giảm bớt những giới hạn này đến đâu. Hầu hết mọi hành động không làm giảm bớt sự đối lập phân đôi như vậy.

     Việc sử dụng chữ in làm sáng tỏ những điểm trên. Ấn phẩm, một vũ khí lợi hại cho sự nô dịch hoá và thực dân hoá, được sử dụng để chống lại nền thống trị của Pháp. Nhưng người Việt Nam cũng sử dụng nó trong vô số những mục đích khác. Từ sự thử nghiệm các loại hình văn học tới việc bán thuốc.
     Xuât bản phẩm giới thiệu người Việt Nam với một thế giới mới chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những tư tưởng hiện đại ( Về vải vóc, hôn nhân, tình yêu và cách mạng...) những điều được du nhập vào Việt Nam từ Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc. Người Việt Nam bắt đầu đọc Kinh Phật bằng chữ quốc ngữ nhiều hơn chữ Hán và những văn bản này thường được in ấn, bắt đầu vươn tới số độc giả ngày càng được mở rộng. Đối mặt với sự tấn công lớn vào Nho giáo như một triết học chính trị, và một sự mê hoặc ngày càng lớn với bất cứ điều gì “mới’, phụ nữ và nam giới bắt đầu đau khổ trong các sách in về số phận của gia đình Việt Nam.
     Việc sử dụng sách in là cuộc cách mạng theo nhiều cách khác nhau. Nó là chìa khoá để mở ra những cuộc đàm luận về tôn giáo, chính trị và xã hội của người Việt Nam. Nhờ có các ấn phẩm từ áp phích, pa nô và các quyển sổ tay tới báo chí, và các nhà văn đều liên quan tới cuộc thảo luận, giới thiệu những khái niệm mới với người khác và sáng tạo cái mà Bêndict Andeson coi như một cộng đồng giả định của những con người có cùng tư tưởng. Nhờ có chữ in mà những cuộc thảo luận mới đã được hình thành một cách rộng rãi - ví dụ, cuộc thảo luận về chính trị bằng tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc. Những cuộc thảo luận này có cội nguồn từ những bài viết nhiều hơn là bài nói ( trừ một nhóm nhỏ) cho tới khi chúng đánh mất tính cách ngoại lai của chúng và được phát hành ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Cuộc đối thoại này tôi đồng ý là không luôn luôn giới hạn trong một nhóm nhỏ người Việt, những người có văn hoá vì bài viết thỉnh thoảng có thể đọc to cho những người thất học nghe và những tư tưởng có thể chia sẻ với những người không biết đọc. Không nghi ngờ gì là nhiều cuộc tranh luận đã được tiến hành trên báo chí ở Sài Gòn như cuộc tranh luận giữa những người Trôt kit và những người chỉ trích họ có một sức lôi cuốn nhất định. Nhưng trên một mức độ chủ yếu hơn, việc sử dụng chữ in có một hiệu quả cả về việc nó mang đến tin tức của Sài Gòn, Hà Nội và những nơi khác trên thế giới tới độc giả, cung cấp những tin tức nông nghiệp cũng như giúp đỡ tín đồ Phật giáo và các nhóm tôn giáo khác như Cao Đài mở rộng ảnh hưởng của họ.
     Những thay đổi lâu dài của chữ in thì to lớn. Mặc dù một vài tư tưởng đầu tiên xuất hiện trên ấn phẩm nhanh chóng bị quên đi, những tư tưởng khác còn lại đầy quyến rũ và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tiến trình lịch sử Việt Nam. Quan trọng hơn Việt Nam đã phát triển một lĩnh vực công khai chống đối một cách mạnh mẽ từ sự thống trị của nhà nước. Và văn hoá in ấn, được bắt đầu phát triển một cách đầy đủ trong những năm 1920 và 1930 trở thành di sản bền vững từ thời kì này. Ngày càng nhiều người Việt Nam đã chuyển từ phương pháp truyền miệng sang việc sử dụng ấn phẩm.

Ý nghĩa nhận thức của việc nghiên cứu văn hoá in ấn

       Hai thập kỉ trước, các nhà sử học châu Âu và châu Mỹ quan tâm trở lại việc xuất bản và in ấn, chuyển từ sự quan tâm sưu tầm đồ cổ đối với văn bản chữ in sang việc xem xét lại mối quan hệ giữa việc đọc, viết, xuất bản và quyền lực. Tuy nhiên, ngoài cuốn sách bị gián đoạn“ Nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc Malây” của William Roff (1967), có ít công trình tập trung vào mối quan hệ giữa in ấn và sự biến đổi xã hội trong lịch sử Đông Nam á. Những điều được viết có khuynh hướng tập trung quá tỉ mỉ và quên đặt vấn đề xuất bản trong một khung cảnh chính trị, kinh tế và xã hội rộng lớn hơn.
     Văn hoá in ấn là một khái niệm đầy mơ hồ. Trong luận văn này tôi theo định nghĩa đầy am hiểu về nhân loại học của Roger Chartier. Theo ông ta, văn hoá in ấn có hai đặc trưng cơ bản: một mặt khái niệm được cho là sự thay đổi sâu sắc được tạo ra trên tất cả mọi địa hạt của đời sống cá nhân cũng như cộng đồng bởi sự phát hiện và tiếp đến là công dụng đa năng của kĩ thuật mới cho việc sao chép lại các bài viết. Đối với định nghĩa truyền thống này, Chartier cộng thêm ý nghĩa thứ hai:
“Nhưng văn hoá in ấn cũng được hiểu trong ý nghĩa hẹp hơn như toàn bộ hành động mới được phát lại trong ấn phẩm có hình ảnh và được viết lại dưới hình thức mới. Không có cách duy nhất để đọc, nói riêng, mọi khía cạnh đều có thể dùng làm đối tượng của ấn phẩm : hội hè, lễ nghi, thờ cúng, nghĩa vụ và giáo dục được sử dụng từ tập hợp ban đầu được giả thiết nhờ việc giải mã tập hợp... Với việc xuất bản, đội ngũ những người sử dụng tài liệu in ấn ngày càng tăng, và như một kết quả tất yếu, tạo ra mạng lưới chuyên gia thực hành có thể chỉ rõ nguồn gốc của văn hoá”.
      Trong những công trình khác, định nghĩa thứ hai về văn hoá in ấn đã giúp chúng tôi vượt lên sự liên quan một cách tốt nhất là sao lại các bài luận. Nó tập trung sự quan tâm vào việc làm thế nào những thay đổi trong mối quan hệ giữa một bài luận với độc giả và bạn đọc của nó đã làm biến đổi một cách sâu sắc đời sống xã hội. Từ một phân tích tranh cổ động , áp phích, báo chí và ấn phẩm khác và ảnh, sự phân tích như vậy có thể giúp chúng ta hiểu tốt hơn loại hình nổi bật về khả năng xã hội mà một văn hoá xuất bản mới ủng hộ và nuôi dưỡng. Triển vọng lý thuyết của Chartier về ấn phẩm đã ảnh hưởng lớn đến cách tiếp cận của tôi đối với việc sử dụng ấn phẩm ở Việt Nam. Nhưng như bài luận này đã chỉ ra, việc sử dụng ấn phẩm ở Việt Nam khác về chất so với việc sử dụng ấn phẩm ở Pháp thế kỉ XVIII.
       Những nhà Đông Nam á và các sinh viên dân tộc chủ nghĩa có lẽ băn khoăn tại sao tôi dùng thuật ngữ “ văn hoá in ấn” khác với ghi chép của Benect Anderson về “ chủ nghĩa tư bản in ấn”. Anderson đã tạo ra thuật ngữ sau trong cuốn sách của ông về “những cộng đồng tưởng tượng” để giải thích sự nổi lên của chữ in và mối liên hệ của nó với những phong trào quốc gia mới. Như luận văn này gợi ra “ chủ nghĩa tư bản in ấn” là một thuật ngữ quá hạn chế. Nó không thể dùng để biểu thị đặc trưng của việc sử dụng chữ in trong cả cuộc thảo luận về tôn giáo lẫn không tôn giáo hoặc trong cả việc xuất bản hợp pháp lẫn không hợp pháp. Ví dụ, lô gic là những nỗ lực của các nhà sư trong việc xuất bản kinh Phật và các báo tôn giáo chắc chắn không phải là vì lợi nhuận mà là mong ước được đền ơn. Hơn nữa nó không hoàn toàn rõ ràng cái gì là lợi nhuận tư bản đối với việc sử dụng ấn phẩm trong các phong trào cách mạng và những nhà dân tộc chủ nghĩa ở Việt Nam.
     Việc phân tích văn hoá in ấn có vị trí quan trọng trong lịch sử trí thức và xã hội. Nó thách thức một khuynh hướng nổi bật trong lịch sử trí thức và phê bình văn học, tâm điểm của bài luận là sự bất lợi của việc hiểu biết bối cảnh. Trong luận văn này, tôi coi những công trình nền tảng của tôi như những công trình của Harry Harootunian, một đại diện của cái thông thường được gọi là bước ngoặt về ngôn ngữ trong lịch sử. Trong những điều đã biết và chưa biết : cuộc đàm luận và lý thuyết ở chủ nghĩa bản địa ưu việt Tokugaoa.(1988) Harootunian đã giải thích cách tiếp cận nghệ thuật diễn kịch của ông: Chiến lược mới được thảo luận vì định nghĩa tham khảo này đối tượng của việc nghiên cứu là các bài luận hơn là quá khứ, mà có thể không bao giờ được biết. Chúng cũng cho phép chất vấn những bài luận vì sự tham vấn mà chúng là hiện thân của phong trào, chúng xuất hiện trong một lĩnh vực văn hoá nhất định, không phải vì sự thật không thay đổi của thời gian và nơi mà chúng có thể không bao giờ phản ảnh.
       Cách tiếp cận của Harootunian là mới mẻ. Nó cũng bị xé toạc ra bởi hai mâu thuẫn. Thứ nhất, trong khi tranh luận rằng quá khứ “ có thể chưa được biết đến” ông cũng giải thích rằng chúng ta có thể biết lĩnh vực văn hoá xác định trong đó những bài luận được phát hành. Trong câu khác ông tranh cãi rằng quá khứ là cả cái không thể hiểu biết lẫn cái có thể hiểu biết. Thứ hai ông không phân biệt một cách rõ ràng giữa sự hiểu biết của ông về các bài luận và cách mà những bài luận này được hiểu trong quá khứ vì vậy đã làm hỏng lập luận của ông về việc xác lập lĩnh vực văn hoá xác định trong các bài luận đã được phát hành.
        Trong khi mô tẩ sự nổi lên của văn hoá in ấn, tôi đã mô tả sinh động lĩnh vực văn hoá xác định đã góp phần thúc đẩy sự hình thành có ý nghĩa của Việt Nam thuộc địa. Lĩnh vực này không đơn giản là được tạo ra bởi các nhà văn và các bài viết của họ; nó được tạo thành bởi tất cả các thông lệ ví dụ như việc kiểm soát nhà nước đối với các ấn phẩm, những điều tác động đến sự xuất bản , việc phát hành và việc đọc các văn bản.
      Việc phân tích này khác với những cách tiếp cận khác đối với xã hội Đông Nam á và Trung quốc được đặt cơ sở vào việc mở rộng phân tích các văn bản quan trọng. Ví dụ, Reinaldo Deto cho thấy làm thế nào mà những bức điện của quân nổi dậy và những lời kháng nghị được mã hoá ở Taaglog Pasyon, mở ra con đường mà chúng ta sử dụng những bài báo như vậy để hiểu thực tế xã hội một cách rộng rãi hơn. Nhưng ông và những người khác như Vicent Rafael tập trung một cách quá mức vào sự thể hiện văn bản của các nhà sử học. Ngược lại bài luận này đặt sự phân tích nguyên bản trong một văn hoá xuất bản rộng lớn hơn. xem xét cả mối quan hệ của những bài được in ra với độc giả và thính giả và tác động của sự kiểm duyệt với các bài luận đã được in ấn.
        Mục đích của luận văn này nhằm tìm hiểu sự nổi lên của văn hoá in ấn ở Việt Nam, những thực tiễn đã ảnh hưởng đến nó ( ví dụ sự kiểm duyệt của Pháp) và đặt nó trong đời sống công cộng. Đó là một câu chuyện bị làm cho lu mờ một cách không chính đáng bởi các nhà dân tộc chủ nghĩa và sự tường thuật chống chủ nghĩa thực dân của các nhà sử học Việt Nam hiện đại.

Những ghi chú về việc nghiên cứu luận văn này.

      Từ khi tôi bắt đầu việc nghiên cứu của tôi, tôi đã hiểu rằng mục tiêu của luận văn này đã được hình thành rồi. Đầu tiên tôi thấy văn hoá in ấn như một khái niệm có tính bao quát toàn bộ có thể đưa ra một sự liên kết với một chủ đề rộng lớn. Tôi đã đặt kế hoạch bắt đầu với sự phân tích kinh tế của việc xuất bản bao gồm mọi vấn đề từ tư bản hoá các nhà xuất bản tới cuộc đình công của các công nhân nhà in. Rồi tôi có kế hoạch phân tích xã hội về vị trí các bài báo trong xã hội và để kết luận với việc phân tích các bài báo văn học.
      Bây giờ tôi thấy văn hoá xuất bản không phải là một khái niệm bao quát có thể mang đến tất cả mọi khía cạnh của bài luận văn này nhưng như một sự bắt đầu chỉ ra cho một sự nghiên cứu sự tác động của những nhóm đặc thù viết về xã hội Việt Nam. Hình thức bài luận văn của tôi đã thay đổi vì hai lý do chính. Thứ nhất, kế hoạch ban đầu của tôi thì quá nhiều tham vọng. Thứ hai, có lẽ quan trọng hơn cơ quan lưu trữ Việt Nam và Pháp có ít tài liệu xuất bản Việt Nam là cơ quan kinh tế và xã hội. Không hề bất ngờ, các tài liệu lưu trữ phản ánh sự ám ảnh của bộ máy hành chính Pháp với các vấn đề chính trị, đặc biệt sự bất đồng chống lại Pháp. Chắc chắn những chủ đề tôi quan tâm đến nhiều như tình hình Phật giáo hoặc về phụ nữ được miêu tả nghèo nàn trong các nhóm tài liệu lưu trữ chính mở ra cho những nhà nghiên cứu.
       Luận văn này được kết hợp mở rộng nghiên cứu tài liệu lưu trữ ở Pháp và Việt Nam. Tôi đã sử dụng tài liệu lưu trữ từ ba nguồn; Trung tâm lưu trữ Pháp, trung tâm lưu trữ quốc gia I, trung tâm lưu trữ quốc gia II. Các tài liệu lưu trữ ở hai trung tâm sau đặc biệt có giá trị vì hai lý do: thứ nhất rất ít người Phương Tây đã kiểm tra những hồ sơ hiện nay nằm ở Việt Nam và bản thân người Việt Nam hiếm khi sử dụng những tài liệu gốc này một cách rộng rãi. Thứ hai, tập hợp những tài liệu lưu trữ này thì nhiều hơn trong lịch sử địa phương là những tài liệu lưu trữ Pháp.
      Luận văn này kết hợp việc nghiên cứu những tài liệu lưu trữ với sự mở rộng đọc những cuốn sách và bài luận ngắn của Việt Nam từ thời kì này. Viện nghiên cứu tiểu sử ( Pa ri) có tập hợp tư liệu được tổ chức tốt nhất và hoàn hảo nhất về thời kì được nghiên cứu. Từ năm 1992 trở về trước, thư viện này đã nhận được nhiều bản copy nhiều loại sách tiểu luận ngắn và bâo chí được xuát bản hợp pháp ở Đông Dương. Mặc dù một vài ấn phẩm không có trong thư viện này nó được giữ lại trong thư viện những ấn phẩm Việt Nam được xuất bản trong thời kì thuộc địa. Thư viện quốc gia ở Hà Nội vẫn cực kì đầy đủ, đặc biệt những tài liệu được xuất bản sau khi Pháp rời khỏi Việt Nam. Cuối cùng, thư viện của bảo tàng cách mạng có giữ một số lượng nhỏ nhưng có giá trị các truyền đơn cách mạng.
------
* Đây là Luận án TS của Shawn Fredrick Mc Hale thực hiện tại Cornell University. Luận án này đã được hoàn chỉnh và xuất bản dưới tên: Print and power: Confucianism, Communisism, and Buddhism in the Making of Modern Vietnam, University ofHawai'i press, Honolulu
1. Roger Chartier : le monde comme represtation( Thế giới như sự hình dung), Annles E S C ( tháng11-12) 1989, 1509

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010

Truyền thống Việt Nam trong thử thách(1920-1945)

David Marr
Người dịch: Đặng Thị Vân Chi ( do trình độ tiếng Anh của người dịch còn nhiều hạn chế, rất mong các bạn góp ý để bản dịch được tốt hơn- Những ai sử dụng, làm ơn xin dẫn nguồn- Xin cám ơn.)


Lời nói đầu


       Với tư cách là một nhân viên của cơ quan tình báo hải quân Mỹ ở Việt Nam trong những năm 1962-1963, tôi không thể không bị tác động bởi khả năng của Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam trong việc chỉ đạo kết hợp các hoạt động chính trị và quân sự giữa những điều kiện khó khăn nhất có thể hình dung được. Mặc dù ở rải rác trong hàng trăm địa phương khác nhau, bị săn lùng cả trên không, ngoài biển, trên mặt đất, dường như thiếu tất cả mọi thứ trừ sự kiên cường, MTDTGPMNVN đã xoay xở để tránh được việc bị chia cắt và tiêu diệt từng phần. Hơn nữa vào năm 1963, MTDTGP đã đạt tới đỉnh cao ở chỗ nó đã có thể đối đầu trực tiếp và có lẽ vượt lên trên, chế độ được Mỹ ủng hộ ở Sài Gòn.
        Sự quan tâm của tôi bị lôi cuốn một phần bởi sự thách đố trí tuệ này. Chúng tôi biết rằng, MTDTGP có một hệ thống thông tin cực kì thô sơ, nhưng chúng tôi cũng quan sát thấy thậm chí những đơn vị thấp nhất trong tổ chức nhìn chung đã hiểu được họ mong đợi gì và cố gắng hành động theo điều đó. Rồi cũng có lần khi tất cả những người lãnh đạo Mặt trận của một làng, một huyện hoặc một vùng bị giết, bị bắt hoặc bị buộc phải dạt sang vùng khác, nhưng các hoạt động “chống chính phủ” không chấm dứt hoàn toàn. Trong thực tế sau khoảng vài tháng hoặc một năm các hoạt động như vậy có xu hướng tăng trở lại. Đường dây liên lạc với quan chức cấp cao của Mặt trận được thiét lập lại và bộ máy chính quyền Sài Gòn được Mỹ ủng hộ thì ở trong điều kiện ngày càng xấu đi so với trước.
        Có nhiều lần khác tôi đã nhận thấy rằng hai nhà lãnh đạo đơn vị của Mặt trận ở hai nới rất xa nhau, phải đối phó với tình hình mới giống hệt nhau mà không thể chờ đợi sự chỉ đạo từ bên trên, có khuynh hướng phản ứng lại về cơ bản theo cùng một cách như nhau. Họ không luôn luôn lựa chọn đúng nhưng hầu như họ đã có cùng một sự sắc bén về chính trị, cách giải quyết xác đáng mà không phụ thuộc vào hệ thống tổ chức ban đầu. Trong nhiều điều khác, điều này gợi ý rằng những chuyên gia chống nổi dậy, những người lập kế hoạch chống lại mặt trận bằng cách theo đuổi chiến lược “da báo”, cô lập vùng và cố gắng thúc đẩy sự phân hoá trong hàng ngũ đối phương đã phải chịu số phận thất bại. Mặt trận có thể còn chưa hồi phục nhưng không phải do chính sách chia rẽ và cai trị của chính quyền Sài Gòn.
      Tôi bắt đầu nghi ngờ rằng có sự nhất trí về tư tưởng trong các thành viên của Mặt trận đến mức làm cho các cán bộ địa phương hoạt động hàng tuần hoặc hàng tháng mà không cần các mệnh lệnh từ cấp trên đưa xuống. Hơn nữa, khi các nhà lãnh đạo địa phương bị loại bỏ như là kết quả của các hành động của chính quyền Sài Gòn, thì ở đó thường vẫn duy trì đủ ý chí trong những người kế tục để phục hồi phong trào trong thời gian ngắn.
       Tôi đã rời khỏi hải quân vào năm 1964, nhưng vẫn còn quan tâm tới vấn đề ý thức hệ này. Làm thế nào để tiếp tục? Tôi đã bác bỏ khoa học chính trị như một phương pháp luận thích hợp trong một năm bắt đầu nghiên cứu của tôi ở trường đại học Caliphocnia, Berkeley. Thật là buồn cười khi nghĩ như vậy, ví dụ như tôi có thể đến một làng Việt Nam và tiến hành những cuộc khảo sát thích hợp. Không làm được điều đó, tôi ao ước được tập trung vào việc phỏng vấn các tù nhân. Tôi đã cố gắng hài lòng với việc phân tích và đọc kĩ các văn bản, báo chí và các quyển sách bướm của các nhà lãnh đạo Mặt trận và Miền Bắc hiện nay, nhưng rõ ràng là, kĩ thuật thì hời hợt, và nguồn gốc tư liệu thì không rõ ràng trong một số vấn đề chủ yếu.. Năm 1965, tôi đã phỏng vấn một số trí thức ở đô thị miền nam Việt Nam, nhưng thật ngạc nhiên khi phát hiện ra là họ biết về chủ nghĩa chống thực dân hiện đại và sự phát triển của phong trào cộng sản Việt Nam mới ít làm sao. Đến nỗi tôi đã có suy nghĩ rằng, từ bỏ lịch sử như là sự lựa chọn duy nhất. Không đặc biệt vội vã trong vấn đề này, vì sau năm 1966 tôi không còn coi những người cộng sản Việt Nam như kẻ thù phải chiến thắng và đánh bại. Thực tế, trong khi nghiên cứu để làm luận văn tiến sĩ ở miền Nam Việt Nam năm 1967 tôi đã trở nên tin chắc rằng những người cộng sản Việt Nam sẽ chiến thắng, nói rộng ra, bởi vì họ được thừa hưởng một truyền thống chống ngoại xâm và truyền thống dân tộc mạnh mẽ. Năm 1971 tôi đã xuất bản quyển sách “Chống chủ nghĩa thực dân của Việt nam” 1885-1925 ( Đại học Caliphocnia xuất bản ). Vào lúc đó thay vì viết một quyển tiếp theo, có vẻ như việc làm có ý nghĩa hơn là góp phần vào bất cứ hiểu biết nào mà tôi đã có được cùng với những người khác cùng tư tưởng, cố gắng làm cho những anh bạn Mỹ tin rằng hành động của chúng ta ở Đông Nam Á là tàn ác và vô nhân đạo. Cuối cùng chúng tôi đã thành lập trung tâm nghiên cứu Đông Dương. Mặc dù chúng tôi chưa bao giờ chờ đợi cạnh tranh với khối thông tin khổng lồ của ngành hành pháp Mỹ, những nỗ lực của chúng tôi không phải là không có cơ hội thành công. Vị đại sứ Mỹ cuối cùng của Sài Gòn thậm chí đã cho trung tâm nghiên cứu Đông Dương công trạng về việc “nhất định thua Việt Nam” một cách châm biếm. Với tất cả sự công bằng, lịch sử đã ghi nhận rằng vào năm 1975, quân đội nhân dân Việt Nam - bây giờ có quyền làm chủ một cách nguỵ biện và một hệ thống cộng sản- đã chắc chắn thành công.
       Đến Đại học quốc gia Úc vào năm 1975, kế hoạch ban đầu của tôi là nghiên cứu và viết một tập sách thứ hai về chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam. Tuy nhiên ý tưởng đó đã bị thay đổi khi tôi phát hịên ra nguồn tư liệu gốc đa dạng và phong phú về thời kì 1920-1945. Hầu hết 10.000 đầu sách tiếng Việt đã được đặt ở Hội sưu tập sách chỉ riêng ở Pa ri, vài trăm loại sách bằng tiếng Việt và tiếng Pháp có giá trị ở Vecsai hoặc có thể đặt bằng microphim. Ít nhất có 80 cá nhân đã xuất bản hồi kí về các hoạt động chính trị và văn hoá của họ cho tới cách mạng tháng 8-1945. Trung tâm lưu trữ tư liệu ( ở Pa ri) có lưu trữ một số sách báo bí mật của người Việt Nam, và một số khác đã được tái bản bởi một số tạp chí học thuật ở Hà Nội. Mặc dù rõ ràng là không thể đọc tất cả những tài liệu này, tôi cảm thấy rằng không tài liệu nào có thể bị bỏ qua trước vì không liên quan.
       Điểm nổi lên mạnh mẽ nhất từ nguồn tư liệu gốc này là tính cách thử nghiệm, đầy tư tưởng kích thích, các thông tin bổ sung cho nhau, sự chán ngán sâu sắc, sự nhận thức lại đầy đau đớn, và cuối cùng là sự phân hoá của giới trí thức cùng với hàng ngũ những người thân thuộc đối với bất kì sinh viên nào trong những thập kỉ sau đó ở Việt Nam. Trong khi có thể nó vẫn còn đáng ao ước với các học giả khác để vẽ phác ra những mảng cân bằng giữa những người thực dân và những người chống thực dân, những người dân tộc và những người cộng sản, những người theo quan điểm truyền thống và những người theo quan điểm ôn hoà thì nó dường như làm cho tôi đòi hỏi nhiều hơn và thành công nhiều hơn trong việc cố gắng truyền đạt môi trường trí thức chung này, sự bùng nổ thực sự của sự ham hiểu biết và những bài nói chuyện tiếp theo bằng cách tập trung hơn vào việc nghiên cứu và thực hiện.
        Kết quả là cuốn sách bao gồm 8 chương theo chủ đề cơ bản, không có chương nào trong số đó được xác định trước, khi tôi bắt đầu klhai thác nguồn tư liệu gốc. Phải thừa nhận về cơ bản nghiên cứu của tôi ưu tiên vào thế hệ tầng lớp các học giả Việt Nam. Tôi đã không ngạc nhiên khi nhận thấy tầng lớp trí thức này đã tiếp tục quan tâm tới mối quan hệ giữa đạo đức và chính trị, ý nghĩa của quá khứ, và những vấn đề hoà hợp xã hội và đấu tranh xã hội. Tôi cũng đã có linh cảm mạnh mẽ rằng làm thế nào để kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn và sự đồi bại cá nhân, có thể điều chủ yếu đối với giới trí thức này, những người hoặc do lựa chọn hoặc do hoàn cảnh đã trở nên tham gia vào các phong trào chính trị có tổ chức. Mặt khác tôi chưa được chuẩn bị cho một số lượng lớn các bài luận và bài báo về giáo dục đạo đức. Mà tôi cũng không nhận thức được quy mô của cuộc thảo luận về cải cách ngôn ngữ. Và mức độ mãnh liệt của cuộc thảo luận về việc thay đổi vai trò của phụ nữ cho thấy tôi hoàn toàn chưa được chuẩn bị.
       Ít nhất có ba chủ đề khác cho thấy là có ý nghĩa nhưng không may là chưa có khả năng mô tả hoặc phân tích cụ thể trong cuốn sách này. Tiểu thuyết bình dân đã được sử dụng hiệu quả đáng kể ở Việt Nam trong suốt thời kì này. Tuy nhiên sau khi đọc một số tiểu thuyết và truyện ngắn đỉnh cao trong số hàng ngàn quyển có giá trị, tôi đi đến kết luận rằng việc nghiên cứu tiểu thuyết phải có một phương pháp phức tạp mà tôi thì được chuẩn bị quá ít. Cũng có thể nói như vậy với các văn bản về tôn giáo và tín ngưỡng trừ khi đó là vấn đề không quá nhiều phương pháp luận đến nỗi cần phải thông thạo những thuật ngữ chuyên môn cao. Cuối cùng đó là vấn đề văn hoá bình dân của người Việt Nam, cả từ triển vọng của nhà văn thời kì 1920-1945 cũng như ảnh hưởng còn lại của văn học truyền miệng. Sau một vài lần lưỡng lự tôi chọn cách để các chủ đề này lại cho tập thứ ba, liên quan với thái độ của người nông dân Việt Nam, chiến dịch vận động quần chúng của Việt Minh và thực tiễn của cuộc chiến tranh nhân dân sau năm 1945. Hi vọng rằng cuốn sách sẽ gợi ý để trả lời hai câu hỏi còn lại ở cuối của những cố gắng hiện nay: quy mô gì đã làm nên những khái niệm tinh tuý nhất và động cơ thúc đẩy người nông dân Việt Nam, và ở mức độ nào người lãnh đạo Việt Nam buộc phải tạo nên sự thích nghi nào đó với quan điểm truyền thống trong việc quan tâm xây dựng một phong trào quân sự và chính trị hiệu quả ?
        Đồng nhất 8 chủ đề có tính trí thức này để thảo luận, vẫn cần thiết đặt chúng trong một khung cảnh lịch sử thích hợp và sắp xếp chúng thành một chuỗi có ý nghĩa. Chương giới thiệu và chương I là phác thảo để gặp gỡ lần đầu là cần thiết, mặc dù tôi có lẽ là người đầu tiên nhận ra việc nghiên cứu không đầy đủ của tôi đã theo đuổi những chủ đề như, nền kinh tế thuộc địa ở Việt Nam, các tầng lớp xã hội, hệ thống chính trị và hành chính của Pháp và quan hệ của tất cả những điều này với những đòi hỏi về tâm lý và tài chính các loại của Mẫu quốc. Mỗi một chương tiếp theo gắn liền với một số nền tảng lịch sử của những chủ đề tiếp mà tôi hi vọng nó đủ cho độc giả nói chung và không quá nhiều cho các chuyên gia. Vì các chương tiếp theo có một sự tiến triển mạnh trong cuốn sách , từ nỗi ám ảnh trí thức ban đầu cho tới sau này, từ tư tưởng chính trị ôn hoà cho tới tư tưởng chính trị cấp tiến, và từ tư tưởng tới hành động. Tôi tin rằng điều này phản ánh chiều hướng lịch sử của giai đoạn, mặc dù tôi cũng sẽ không phủ nhận vai trò của sự nhận thức lại.
         Mặt khác một vài độc giả cũng có thể cảm thấy rằng tôi ít dành sự quan tâm tới Đảng cộng sản Đông Dương đặc biệt là Hồ Chí Minh. Một câu trả lời có lẽ được hướng vào các loại chuyên khảo, các cuốn tiểu sử và các bản dịch sang tiếng châu Âu về những vấn đề này. Tuy nhiên, cơ bản hơn, tôi nghĩ rằng chỉ tập trung vào những người chiến thắng sẽ có nguy cơ không hiểu được tại sao người thua đã thua. Thắng cũng như thua, có quá trình sáng tạo của riêng nó, có xung lượng lịch sử của riêng nó. Bác bỏ cả một khung cảnh rộng lớn, hoặc hạ thấp tất cả mọi người trừ những người cộng sản để có lợi cho khuôn mẫu, trớ trêu thay sẽ có nguy cơ hạ thấp những thành tựu lịch sử của cả Hồ Chí Minh lẫn Đảng cộng sản. Bên cạnh đó sự tin tưởng vẫn tồn tại trong toàn bộ nghiên cứu của tôi về khả năng của đảng cộng sản hai lần sống lại sau những sự phá huỷ hầu như hoàn toàn và rồi để dẫn đầu một cuộc cách mạng, thiết lập một chính phủ có thể đứng vững và đi vào một cuộc đấu tranh kháng chíên dân tộc hơn 30 năm, đã không thể giải thích được bằng lịch sử của một tổ chức cũng như bằng sự lỗi lạc của một con người .
        Trong các nhà sử học đương thời ở Việt Nam có khuynh hướng cho rằng thành công của Việt Nam đầu tiên là đánh bại Pháp và rồi sau này là Mỹ là nhờ chủ yếu ở sức mạnh của truyền thống, ví dụ: quan hệ giữa tộc người và sự đồng nhất về ngôn ngữ, nền văn minh lâu đời và một trang sử đáng tự hào về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm phương Bắc. Những nhân tố như vậy chắc chắn là quan trọng như tôi cũng đã làm rõ trong cuốn sách đầu tiên của tôi. Tuy nhiên kết quả dồn lại của tất cả những nghiên cứu này ( bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp ) nhằm nhấn mạnh sức mạnh của truyền thống đã làm hạ thấp ý nghĩa lịch sử của những biến đổi trọng đại trong thời kì thực dân ở Việt Nam (1858-1945). Tại sao những luận văn liên tiếp được đón nhận rộng rãi như vậy tự nó đã là một vấn đề thú vị. Có lẽ một vài nhà sử học đã tìm thấy trong đó một sự xác nhận dễ chịu đối với triết lý sống bảo thủ của riêng mình. Những người khác có khuynh hướng làm rối tung lên để kết án chủ nghĩa đế quốc một cách đạo đức với nhiều vấn đề khách quan của việc xác định chính xác những nhân tố gì đã giúp đỡ hoặc cản trở đế quốc và động cơ chống đế quốc. Trong các nhà sử học mác xít Việt Nam có thêm vào những khao khát vì việc chép sử luôn luôn phục vụ chính trị- cả khi được sử dụng như một công cụ phân tích cũng như khi được sử dụng để tuyên truyền. Điều đáng chú ý như chúng ta sẽ thấy sau này là cách mà các tác giả Mac-xít Việt Nam nhấn mạnh sự thay đổi lịch sử khi phân tích xã hội thuộc địa cũng như khi đóng bìa cho cuộc cách mạng sau đó mà còn tiếp tục khi động viên phong trào giải phóng dân tộc lan rộng hơn nữa. Đâu là chỗ những điêù đó từ bỏ họ, bây giờ cuộc đấu tranh giải phóng đã được kết luận, và công việc xây dựng một xã hội công nông nghiệp tiên tiến đã bắt đầu, là vấn đề được đề cập đến trong kết luận của tôi.
        Trải qua 8 năm làm việc có nhiều người đã giúp tôi trong việc hoàn thành cuốn sách này. Trước tiên tôi muốn cảm ơn Christiane- Rageau viện tiểu sử quốc gia, vì không có sự cho phép đặc biệt của cô ấy tôi sẽ không thể khảo sát tập hợp tư liệu về Việt Nam một cách có phương pháp . Trong suốt giai đoạn nghiên cứu đầu tiên của tôi, năm 1972, Phạm Như Hổ đã dành cho sự hỗ trợ đáng kể . Rồi sau đó một số nhân viên của trung tâm tư liệu ở Pa ri và Provence đã sẵn lòng chỉ dẫn chính thức như có thể được phép. Cũng như vậy với các nhân viên thư viện của Viện sử ở Hà Nội. Phạm vi công việc có thể làm được vào năm 1971-1972 nhờ vào sự tài trợ của chính sách bảo hiểm nhân đạo quốc gia (gửi ở chương trình nghiên cứu Đông Nam á của Đại học Cornell) và năm 1977-1978 nhờ tài trợ của viện nghiên cứu Thái Bình Dương học của Đại học Quốc gia Úc.
      Vài chương bản thảo đầu tiên được sự góp ý sâu sắc của Frderic Wakeman, Jr, Alexander Woodsie, John Whitmore, Joseph Esherick, Jeffrey Barloww, va David Elliott. Trong sự nỗ lực viết những chương sau tôi đặc biệt biết ơn David Chandlet, Christine White, Jennifer Brewter vì những gợi ý và phê bình cụ thể của họ. Một số người khác cũng đã dành những lời nhận xét bổ ích cho một số tiểu mục ngoại lệ như: Wang Gungwu, Daniel Hemery, Athony Reid, Gail Kelly, Afred Mc Coy, Michael Stenson, Craig Renolds, William O’ Malley John Sparagens. Tháng 2-1978 ba học giả ở Viện Sử học ở Việt Nam: Văn Tạo, Ngô Văn Hoà, Dương Kinh Quốc đọc bản thảo đầu tiên của cuốn sách và đã bình luận một cách hùng hồn. Mặc dù tôi chắc ràng họ vẫn còn phản đối một vài sự giải thích của tôi, tôi vui mừng nói rằng chúng tôi hoàn toàn có thể duy trì và mở rộng cuộc đối thoại. Cũng vào năm 1978 và một lần nữa vào tháng 4-1980, Trần Văn Giầu đã ân cần thảo luận với tôi cả về vấn đề trí thức đáng quan tâm hơn hết lẫn về những sự kiện mà ông là người đã tham dự. Những nhận xét của ông đã giúp tôi làm việc vượt ra bên ngoài phạm vi của cuốn sách.
        Nhân viên hành chính của khoa lịch sử Đông Nam Á và Thái Bình Dương ở Đại học quốc gia Úc giúp chuyển bản thảo viết tay lần cuối của tôi sang bản thảo đánh máy sạch sẽ, mà đại diện xứng đáng cho công trạng trứ danh đó là Robyn Walker. Philip Robyn đã giúp đỡ biên tập bản thảo cuối cùng. Vợ tôi, Ái, tiếp tục tạo ra một môi trường độc nhất vô nhị có lợi cho việc nghiên cứu về chính đất nước của cô ấy, và các con tôi Danny, Aileen và Andy giữ chúng tôi khỏi những suy nghĩ triền miên về quá khứ. Các bạn tốt của chúng tôi, Đõ Quý Tân, Chriss Jenkins, và Trần Khánh Tuyết đã giúp đỡ bằng quá nhiều cách để có thể kể hêt, rồi vì lí do đó, tất cả nhiều hơn là sự cảm kích.
       Một phần của chương 5, về vấn đề phụ nữ, xuất hiện lần đầu tiên trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, tập 35, số 3 (5-1976), từ trang 371-189, và được phép tái bản. Chương 6 là chương trình bày theo cách riêng chương của tôi có sự tham gia của Anthony Reid và Đavi Mar, “ nhận thức quá khứ của Đông Nam á và được Hội Nghiên cứu Á châu của Úc cho phép tái bản vào năm 1979.


(Marr David G (1995) Vietnamese tradition on trial:1920-1945,University of California Press Berkeley, California.

NHÌN NHẬN TRƯƠNG VĨNH KÝ THẾ NÀO CHO ĐÚNG? *

                                              Hoàng Văn Lân và Đặng Huy Vận   I. Q uan điểm xét vấn đề B ước vào nửa sau thế kỷ XIX, với sự ...