Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Một số vấn đề về phương pháp luận sử học và vấn đề thời điểm bùng nổ của khởi nghĩa Mai Thúc Loan


  •   Phạm Lê Huy
  • Thứ tư, 27 Tháng 2 2013 14:17

Mở đầu
Nghiên cứu lịch sử không thể tách rời khỏi sử liệu. Trong nghiên cứu thời kỳ Bắc thuộc, do hạn chế về mặt tư liệu, chúng ta thường phải dựa nhiều vào các ghi chép của chính sử, đặc biệt là chính sử Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng như với bất cứ một nguồn tư liệu nào khác, chúng ta chỉ có thể sử dụng các ghi chép trong chính sử sau khi đã tiến hành thao tác "phê phán sử liệu" (source criticism, 史料批判) một cách thận trọng.
Điều này đặc biệt quan trọng vì tất cả các bộ chính sử của các vương triều Trung Quốc, thường được biết đến với tên gọi "Nhị thập tứ sử" hoặc "Nhị thập ngũ sử", đều không phải là tư liệu đồng đại, chúng đều do các nhà chép sử của vương triều sau biên soạn trên cơ sở một số tư liệu về vương triều trước. Lấy ví dụ, Cựu Đường thưTân Đường thư mặc dù đều được coi là hai bộ chính sử về vương triều Đường(618-907), nhưng Cựu Đường thưdo nhóm Lưu Hú, Trương Chiêu Viễn, Vương Thân biên soạn và hoàn thành vào năm 925 thời Hậu Tấn, trong khiTân Đường thư lại do nhóm Âu Dương Tu biên soạn và hoàn thành vào năm 1060 đời Bắc Tống.
Trong quá trình khảo cứu về các cuộc nổi dậy và khởi nghĩa dưới thời Bắc thuộc, chúng tôi nhận thấy có một số điểm cần hết sức lưu ý khi sử dụng các ghi chép trong chính sử Trung Quốc. Đó là: trong chính sử Trung Quốc, đặc biệt là phần Bản kỷ, các nhà chép sử phong kiến chỉ lựa chọn và ghi chép lại một số mốc thời điểm nhất định. Do đó, trong nhiều trường hợp, các ghi chép trong chính sử Trung Quốc không phản ánh được hết mọi diễn biến của một sự kiện lịch sử. Quan trọng hơn, bản thân thời điểm được ghi chép không phải bao giờ cũng phản ánh một cách chính xác thời điểm sự kiện xảy ra trên thực tế. Trong một số trường hợp, giữa thời điểm được ghi chép và thời điểm sự kiện xảy ra trong thực tế có một "độ trễ" (delay) nhất định. Trong bài viết này, thông qua thao tác "phê phán sử liệu" đối với các tư liệu liên quan đến các cuộc nổi dậy - khởi nghĩa dưới thời thuộc Đường, chúng tôi muốn làm rõ những điểm cần lưu ý nêu trên. Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn liên hệ đến cách thức vận dụng tư liệu trong việc nghiên cứu thời điểm bùng nổ của khởi nghĩa Mai Thúc Loan.
Trong quá trình phân tích, để đính chính lại những sai sót trong chính sử, chúng tôi sẽ sử dụng một số tư liệu mộ chí thời Đường. Mộ chí là những phiến đá có khắc minh văn đặt dưới mộ, thường ghi chép về gia thế, lai lịch của chủ nhân ngôi mộ. Nếu như chính sử của một vương triều thường được biên soạn cách hàng chục, thậm chí là hàng trăm năm sau khi vương triều đó sụp đổ, mộ chí thường được lập rất gần với thời điểm chủ nhân ngôi mộ qua đời. Do đó, mộ chí là một nguồn tư liệu đồng đại và có giá trị sử liệu cao. Đặc biệt, bài viết này sẽ sử dụng mộ chí của Bùi Trụ Tiên, một nhân vật có liên quan trực tiếp đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan[1].
1. Cách ghi chép ngày theo Can chi của Cựu - Tân Đường thư
Để làm rõ vấn đề đặt ra ở phần mở đầu, chúng tôi thử thống kê các ghi chép về các cuộc nổi dậy nổ ra tại An Nam dưới thời thuộc Đường trong phần Bản kỷ của hai bộ chính sử Cựu Đường thư và Tân Đường thư vào Bảng 1 (Phụ lục). Trong một số trường hợp, chúng ta còn có những ghi chép liên quan trong phần Liệt truyện. Tuy nhiên, những ghi chép trong phần Liệt truyện thường không đi kèm với các mốc thời gian cụ thể - vấn đề mà chúng ta tập trung xem xét ở đây và do vậy, chúng tôi tạm lược trong bảng và sẽ đề cập đến khi cần thiết.
Nhìn vào Bảng 1, có thể nhận thấy các cuộc nổi dậy tại An Nam đều được ghi chép một cách hết sức tóm lược. Trong mỗi bộ chính sử, ngoại trừ khởi nghĩa Dương Thanh (819-820), hầu hết các cuộc nổi dậy, ngay cả những cuộc nổi dậy lớn của Lý Tự Tiên, Đỗ Anh Hàn (Phùng Hưng),... đều chỉ được đề cập hết sức ngắn gọn trong một ghi chép duy nhất.
Điều đáng chú ý thứ hai là mỗi ghi chép đều đi kèm với một ngày, tháng, năm cụ thể. Nếu thông tin về tháng và năm được ghi chép theo cách thức rất dễ nhận biết (bao gồm con số + "niên" hoặc con số + "nguyệt"), thông tin về ngày được ghi chép dưới dạng can chi, ví dụ sự kiện liên quan đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan được ghi trong mục ngày "Bính Tuất". Do vậy, chúng ta phải căn cứ vào can chi của ngày sóc (tức ngày mùng 1) để tính toán ra đó là ngày thứ bao nhiêu trong tháng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tuy có cùng ngày can chi, nhưng ghi chép về tháng trong Cựu Đường thư và Tân Đường thư lại khác nhau. Ví dụ, khởi nghĩa Mai Thúc Loan được Cựu Đường thư chép trong mục ngày Bính Tuất của tháng 8, trong khi Tân Đường thư lại chép trong mục ngày Bính Tuất của tháng 7.
Việc nhận thức về ngày can chi là hết sức quan trọng, vì nhờ đó, chúng ta mới có thể xác định được ghi chép nào là chính xác. Trong cuộc tranh luận về khởi nghĩa Mai Thúc Loan, do chưa nhận thức đúng về cách thức ghi chép theo ngày can chi của Cựu - Tân Đường thư, một số tác giả như Lê Mạnh Chiến (2012)[2]tỏ ra lúng túng khi có chỗ dịch "Bính Tuất" là "ngày Bính Tuất", có chỗ lại dịch là "năm Bính Tuất".
Ngay từ thời Bắc Tống, các nhà khảo chứng học Trung Quốc đã chỉ ra sai lầm của Cựu Đường thư. Sách Tư trị thông giám do Tư Mã Quang biên soạn và hoàn thành năm 1084 trong phần bổ chú đã chỉ rõ: vì ngày sóc (mùng 1) của tháng 8 năm Khai Nguyên 10 là ngày Canh Tý, nên theo phép tính can chi không thể có ngày Bính Tuất trong tháng 8 (tham khảo Bảng 2 - Phụ lục)[3]. Ngày có can chi Bính Tuất chỉ có thể là một ngày thuộc tháng 7 (ngày sóc - mùng 1 là ngày Canh Ngọ). Như vậy, dựa vào can chi, chúng ta có thể xác định sự kiện cả Cựu - Tân Đường thư muốn đề cập là sự kiện ngày Bính Tuất (tức ngày 17) tháng 7 năm Khai Nguyên 10, tuy nhiên Cựu Đường thư đã chép nhầm từ tháng 7 sang tháng 8.
2. Mốc thời gian được ghi chép không phải bao giờ cũng trùng với thời gian sự kiện xảy ra trong thực tế
Lưu ý tiếp theo của chúng tôi khi sử dụngCựu - Tân Đường thư là: không phải trong mọi trường hợp, ngày tháng năm đi kèm sự kiện được ghi chép cũng phản ánh một cách chính xác thời điểm xảy ra sự kiện trong thực tế. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua trường hợp khởi nghĩa Dương Thanh (819-820).
Tất cả các bộ chính sử của Việt Nam và Trung Quốc đều chép cuộc nổi dậy của Dương Thanh vào mục tháng 10 năm Nguyên Hòa 14 (819), một số ghi cụ thể hơn là vào ngày Nhâm Tuất (tính theo can chi là ngày 17) (về các ghi chép của chính sử Trung Quốc, xin tham khảo Bảng 1). Cách ghi chép này dễ khiến người đọc lầm tưởng rằng cuộc khởi nghĩa của Dương Thanh bùng nổ vào ngày 17 tháng 10 năm Nguyên Hòa 14.
Tuy vậy, gần đây, chúng tôi đã phát hiện được một số ghi chép quan trọng trong mộ chí của Lý Tượng Cổ và Lý Hội Xương, hai viên quan của nhà Đường đã bị giết trong cuộc khởi nghĩa này[4].
Tư liệu:Mộ chí Lý Tượng Cổ
(前略)粵有安南都護兼禦史中丞隴西李公諱象古、春秋五十三、以元和十四祀秋八月十九日、遇部將楊湛清構亂於軍郡、公之室韋氏洎三男二女戕於一刻之間、沉於長江之濱、兵解之後、遺骸蕩然矣(後略)
Tạm dịch:
... Đất Việt có An Nam Đô hộ kiêm Ngự sử Trung thừa Lũng Tây Lý công, húy là Tượng Cổ, xuân thu (hưởng thọ) 53 tuổi. Ngày 19 tháng 8 mùa thu năm Nguyên Hòa 14 [819[5]], gặp phải loạn của bộ tướng là Dương Trạm Thanh ở quân quận, công [tức Lý Tượng Cổ] và vợ là Vi Thị Kịp, 3 con trai và 2 con gái trong khoảnh khắc đều bị hại, chìm dưới bến sông sâu. Sau khi hết việc binh, di cốt đều bị hủy hoại hết...
Tư liệu:Mộ chí của Lý Hội Xương
(前略)遇土將楊湛清叛、初矢及于屋、軍吏莫敢先、仲孝果作心、僴然請命、遂引左袒者遇鬬于門中、勁忿直前、後不繼至、為賊刀所加、時元和十四年八月十九日也(後略)
            Tạm dịch:
... gặp phải vụ phản loạn của thổ tướng là Dương Trạm Thanh. Khi tên bắn đến nhà, bọn quân lại không ai dám tiến lên. Anh [tức Lý Hội Xương] trong lòng đã quyết, cứng cỏi xin lệnh, dẫn bọn tả đảm[6]đánh nhau với giặc ở cửa, hăng hái xông lên trước, phía sau không có người tiếp ứng, liền bị hại dưới đao của giặc, lúc đó là ngày 19 tháng 8 năm Nguyên Hòa 14...
Nhờ mộ chí của An Nam Đô hộ Lý Tượng Cổ và liêu thuộc Lý Hội Xương, chúng ta xác định được rằng trên thực tế, cuộc nổi dậy của Dương Thanh đã nổ ra không phải vào tháng 10 như Cựu - Tân Đường thư đã ghi chép, mà là vào một ngày trung tuần tháng 8, và chính thức thành công (tiêu diệt được Đô hộ Lý Tượng Cổ và chiếm được phủ thành An Nam) vào ngày 19 tháng 8 năm Nguyên Hòa 14.
Vậy tại  sao lại có sự sai lệch ngày tháng như vậy? Nhờ ghi chép "Dung quản tấu" của Tư trị thông giám, chúng ta biết được rằng: ngày Nhâm Tuất (17) của tháng 10 trên thực tế là ngày triều đình trung ương nhà Đường nhận được tin báo của Dung quản Kinh lược sứ đóng tại Quảng châu về cuộc nổi dậy của Dương Thanh.
Sử liệu: Tư trị thông giám, Q.241, Đường kỷ 57, Hiến Tông
冬十月壬戌、容管奏安南賊楊清陷都護府(安南都護府治交州)殺都護李象古及妻子官屬部曲千餘人、象古道古之兄也、以貪縱苛刻失衆心、清世為蠻酋、象古召為牙將、清鬱鬱不得志、象古命清將兵三千討黄洞蠻、清因人心怨怒、引兵夜還襲府城、陷之、
Tạm dịch:
[Năm Nguyên Hòa 14 - 819] Mùa đông tháng 10, Dung quản [Kinh lược sứ] tấu An Nam tặc là Dương Thanh hạ Đô hộ phủ (An Nam đô hộ phủ trị tại Giao châu), giết Đô hộ Lý Tượng Cổ và vợ con, quan thuộc, bộ khúc hơn 1000 người. Tượng Cổ là anh của Đạo Cổ. Do tham lam, hà khắc nên để mất lòng người. Thanh nhiều đời làm tù trưởng người Man. Tượng Cổ gọi về làm nha tướng. Thanh u uất, bất đắc chí. Tượng Cổ sai Thanh dẫn 3 nghìn quân đánh Hoàng Động Man. Thanh nhân lòng người phẫn uất, dẫn quân ban đêm tập kích phủ thành, hạ thành. 
Như vậy, do ghi chép một cách rất vắn tắt, Cựu - Tân Đường thư đã lược bỏ đi thông tin quan trọng về bản tấu của Dung quản, khiến rất nhiều người đọc từ trước đến nay nhầm tưởng rằng cuộc nổi dậy của Dương Thanh nổ ra vào ngày Nhâm Tuất tháng 10 năm Nguyên Hòa 14.
Cũng với khởi nghĩa Dương Thanh, chúng ta thấy trong khi Cựu Đường thư chép nhà Đường "thu phục An Nam" vào ngày Tân Mùi (mùng 7) tháng 6, Tân Đường thư lại chép "thu phục An Nam" vào ngày Giáp Tuất (mùng 5) của tháng 8. Tuy nhiên, nhờ các ghi chép trong Sách phủ nguyên qui, một trong "Tứ đại loại thư" của nhà Tống, chúng ta mới biết thời điểm ngày Tân Mùi tháng 6 là thời điểm triều đình nhà Đường nhận được bản tấu của Quế Trọng Võ về việc thu hồi An Nam, trong khi ngày Giáp Tuất của tháng 8 là ngày đầu của Dương Thanh được đưa về dịch trạm Trường Lạc ở kinh đô Trường An.
Sử liệu: Sách phủ nguyên qui,Q. 434, Tướng súy bộ, Hiến tiệp
桂仲武為安南都䕶、元和十五年六月奏、「三月二十九日、收尅安南、賊黨楊清等處置訖」、八月甲戍、仲武送逆將楊清首至長樂驛、命中使就之、
Tạm dịch:
Quế Trọng Võ làm An Nam Đô hộ. Tháng 6 năm Nguyên Hòa 15 [820], tấu:

“Ngày 29 tháng 3, thu hồi An Nam, xử trí xong bọn tặc đảng Dương Thanh”. Ngày Giáp Tuất tháng 8, Trọng Võ gửi thủ cấp của tướng phản loạn Dương Thanh đến trạm dịch Trường Lạc, lệnh cho trung sứ ra đón.

3) "Độ trễ" giữa ghi chép và sự kiện - Quãng thời gian cần thiết để thông tin, sự vật di chuyển giữa An Nam và kinh đô Trường An
Qua khởi nghĩa Dương Thanh, chúng ta thấy rằng dù đều là hai bộ chính sử về nhà Đường, nhưng do đã qua quá trình biên soạn, các ghi chép của Cựu - Tân Đường thư không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác thời điểm nổ ra sự kiện. Rõ ràng có một "độ trễ" nhất định giữa thời điểm sự kiện xảy ra trên thực tế và thời điểm ghi chép. "Độ trễ" đó phát sinh do khoảng cách địa lý giữa An Nam và kinh đô của nhà Đường (Trường An hoặc Lạc Dương). Nó là khoảng thời gian cần thiết để thông tin về sự kiện được truyền từ An Nam (có thể qua một số điểm trung gian, ví dụ như Quảng châu) đến kinh đô nhà Đường hoặc ngược lại. Vậy "độ trễ" đó là khoảng bao nhiêu?
Trong khởi nghĩa Dương Thanh, khoảng thời gian từ lúc cuộc nổi dậy thành công vào ngày 19 (Đinh Mùi) tháng 8 đến khi chính quyền Trường An nhận được tin báo vào ngày 17 (Nhâm Tuất) tháng 10 là 57 ngày. Khoảng thời gian từ lúc cuộc khởi nghĩa thất bại (Dương Thanh bị chém đầu) vào ngày 29 (Tân Mùi) tháng 3 năm Nguyên Hòa 15 đến khi nhà Đường nhận được tin báo của Quế Trọng Võ vào ngày 7 (Đinh Sửu) tháng 6 cùng năm là 65ngày. Quãng thời gian 57-65 ngày (khoảng 2 tháng) đó là trong trường hợp tin báo khẩn cấp, được đưa từ An Nam đến Dung quản Kinh lược sứ đóng tại Quảng châu, chủ yếu bằng đường biển, sau đó được chuyển về kinh đô bằng ngựa chạy trạm (dịch mã 駅馬).
Trong các trường hợp không khẩn cấp, "độ trễ" đó thậm chí còn lớn hơn nhiều. Dương Thanh bị giết vào ngày 29 (Tân Mùi) tháng 3 năm Nguyên Hòa 15, nhưng đến tận ngày 5 (Giáp Tuất) tháng 8 cùng năm, thủ cấp của Dương Thanh mới về đến dịch trạm Trường Lạc ở phía Đông kinh thành Trường An. Như vậy, trong trường hợp di chuyển thông thường, "độ trễ" - tức khoảng thời gian cần thiết để thông tin hoặc sự vật đi kèm đi từ phủ thành An Nam đến Trường An là khoảng 123 ngày, tức là khoảng 4 tháng.
Con số khoảng 4 tháng đó còn được kiểm chứng qua một tư liệu kim thạch văn mới được phát hiện gần đây. Theo văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp mới được phát hiện tại Bắc Ninh năm 2012, ngày 13 (Ất Sửu) tháng 6 năm Nhân Thọ nguyên niên (601), Tùy Văn Đế xuống chiếu lệnh cho sứ giả hộ tống xá lợi đến các địa phương trên toàn quốc (trong đó có Giao châu, khi đó thuộc quyền quản lý của Lý Phật Tử), lệnh cho các địa phương phải hạ thổ xá lợi vào ngày 15 (Ất Sửu) tháng 10 cùng năm. Trong trường hợp này, nhà Tùy đã phải cân nhắc quãng thời gian cần thiết để sứ giả hộ tống xá lợi di chuyển (bằng ngựa) từ kinh đô Đại Hưng đến các địa phương, xa nhất là Giao châu. Nói cách khác, quãng thời gian 119 ngày (từ ngày Ất Sửu - 13 tháng 6 đến ngày Ất Sửu - 15 tháng 10) là quãng thời gian cần thiết để di chuyển từ kinh đô Đại Hưng của nhà Tùy (sau này là Trường An của nhà Đường) đến Giao châu (An Nam)[7].
4) Nhận thức các cuộc nổi dậy - khởi nghĩa với tư cách là một quá trình
Qua trường hợp khởi nghĩa Dương Thanh, chúng ta nhận thấy sự cần thiết của việc nhận thức mỗi cuộc nổi dậy (hay khởi nghĩa) dưới thời thuộc Đường là cả một quá trình, trong đó bao gồm rất nhiều diễn biến - sự kiện khác nhau, xảy ra vào nhiều thời điểm khác nhau. Điều này phù hợp với thực tế và cũng có thể được kiểm chứng với nhiều cuộc khởi nghĩa khác.
Ví dụ, với khởi nghĩa Phùng Hưng, trong khi Cựu - Tân Đường thư chỉ chép vắn tắt trong mục ngày Kỷ Mùi tháng 4 (Cựu Đường thư) hoặc mục tháng 4 (Tân Đường thư) của năm Trinh Nguyên 7(791), truyện Bố Cái Đại Vương trong sách Việt điện u linh tập cho biết Phùng Hưng đã nổi dậy từ niên hiệu Đại Lịch (766-779). Trước khi đánh vào phủ thành đô hộ của Cao Chính Bình, Phùng Hưng đã hàng phục các hương ấp khác, đem quân "tuần hành các châu Trường, Phong, Đường Lâm". Cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 7 năm[8].
Như vậy, thông thường đối với một cuộc khởi nghĩa, chúng ta thấy có một số mốc thời điểm quan trọng như sau:
(1) Thời điểm khởi nghĩa nổ ra
(2) Thời điểm khởi nghĩa thành công
(thường là chiếm được phủ thành An Nam)
(3) Thời điểm chính quyền trung ương nhà Đường nhận được tin báo
(4) Thời điểm khởi nghĩa thất bại
(5) Thời điểm chính quyền trung ương nhà Đường nhận được tin báo
(6) Thời điểm chính quyền nhà Đường nhận được thủ cấp của những người lãnh đạo khởi nghĩa
Nói tóm lại, cần nhận thức các cuộc nổi dậy - khởi nghĩa ở Việt Nam dưới thời thuộc Đường luôn là một quá trình, trong đó bao gồm nhiều sự kiện khác nhau gắn liền với những mốc thời điểm khác nhau. Các bộ chính sử Trung Quốc chỉ lựa chọn một, hoặc một vài dấu mốc trong quá trình đó để ghi chép. Hơn nữa, luôn có "độ trễ" nhất định giữa thời điểm xảy ra sự kiện trên thực tế và thời điểm chính quyền trung ương nhà Đường nhận được tin tức về sự kiện đó. Theo những phân tích của chúng tôi ở trên, khoảng thời gian - "độ trễ" để thông tin, sự vật di chuyển từ phủ thành An Nam đến Trường An (và ngược lại) sẽ dao động trong khoảng 57- 124 ±α ngày, tức là khoảng từ 2 - 4 tháng.
Quay lại với cuộc tranh luận về thời điểm bùng nổ của khởi nghĩa Mai Thúc Loan, chúng ta thấy rằng một số tác giả, mà tiêu biểu là Lê Mạnh Chiến, đã căn cứ vào các ghi chép của chính sử đưa ra nhận định rằng "khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm 722 và cũng bị dập tắt trong năm đó", hay "hai bộ chính sử của Việt Nam và cả hai bộ chính sử của Trung Quốc về thời nhà Đường đều ghi chép một cách thống nhất: Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Nhâm Tuất, Khai Nguyên thứ 10, tức là năm 722."
Tuy nhiên, như đã trình bày ở phần trước, bản thân các ghi chép trong các bộ chính sử của cả Việt Nam và Trung Quốc về khởi nghĩa Mai Thúc Loan đều được gắn với một mốc thời điểm rất cụ thể là ngày 17 (Bính Tuất) tháng 7 năm Khai Nguyên 10. Rõ ràng khởi nghĩa Mai Thúc Loan không thể gói gọn được trong một ngày duy nhất đó. Nói cách khác, ngày 17 tháng 7 chỉ là một thời điểm gắn liền với một sự kiện nằm trong chuỗi các sự kiện liên quan đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Việc lấy tư liệu của một ngày duy nhất - ngày 17 tháng 7 làm mốc thời điểm khởi nghĩa bùng nổ và kết thúc là một sai lầm, ít nhất là về mặt phương pháp luận. Điều này tương tự việc lấy tư liệu về ngày 30 tháng 4 năm 1975 để kết luận cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta khởi đầu và kết thúc trong cùng năm 1975. Sai lầm nêu trên bắt nguồn từ nhận thức không đầy đủ về cách thức ghi ngày can chi trong các sáchCựu - Tân Đường thư.
5) Sự kiện ngày 17 tháng 7 năm Khai Nguyên 10 là sự kiện gì?
Trên đây, chúng tôi đã chỉ rõ việc lấy thời điểm ngày 17 (Bính Tuất) tháng 7 năm Khai Nguyên 10 làm căn cứ để khẳng định khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ và kết thúc trong năm Khai Nguyên 10 đã phạm sai lầm, ít nhất về mặt phương pháp luận. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải xác định sự kiện xảy ra ngày 17 tháng 7 đó là sự kiện gì? Để làm được điều đó, chúng ta cần xem lại Cựu - Tân Đường thư đã ghi chép như thế nào.
Sử liệu: Tân Đường thư, Q.5, Bản kỷ, Huyền Tông, Khai Nguyên 10
            丙戌,安南人梅叔鸞反,伏誅。
Dịch nghĩa:
            Ngày Bính Tuất, người An Nam là Mai Thúc Loan làm phản, giết (phục tru).
Sử liệu: Cựu Đường thư, Q.8, Bản kỷ, Huyền Tông, Khai Nguyên 10
秋八月丙戌,嶺南按察使裴伷先上言安南賊帥梅叔鸞等攻圍州縣,遣驃騎將軍兼內侍楊思勗討之。
Dịch nghĩa:
Ngày Bính Tuất, tháng 8 mùa thu, Lĩnh Nam Án sát sứ Bùi Trụ Tiên tâu lên: Tướng giặc An Nam là bọn Mai Thúc Loan vây đánh các châu huyện. Sai Phiêu kị Tướng quân Nội thị Dương Tư Húc thảo phạt.
Căn cứ vào ghi chép của Cựu - Tân Đường thư, chúng ta có thể có 3 khả năng sau:
(1) Ngày 17 tháng 7 là ngày triều đình nhà Đường nhận được thông báo ("thượng ngôn", Cựu Đường thư) của Lĩnh Nam Án sát sứ Bùi Trụ Tiên về khởi nghĩa Mai Thúc Loan, và sau đó sai Dương Tư Húc đi đánh dẹp.
(2) Ngày 17 tháng 7 là ngày Mai Thúc Loan bị giết ("phục tru", Tân Đường thư) tại An Nam.
(3) Ngày 17 tháng 7 là ngày triều đình nhà Đường nhận được thông báo Dương Tư Húc đã đánh dẹp xong ("thảo chi", Cựu - Tân Đường thư) khởi nghĩa Mai Thúc Loan.
6) Khởi nghĩa Mai Thúc Loan có thể nổ ra trong năm Khai Nguyên 10 hay không?     
Dưới đây, chúng ta sẽ thử xem xét tính thực tế của các khả năng nêu trên, đồng thời liên hệ với vấn đề thời điểm bắt đầu của khởi nghĩa Mai Thúc Loan.
a) Khả năng thứ nhất:
Về khả năng thứ nhất, chúng ta có thể khẳng định nó chắc chắn không thể xảy ra trên thực tế, nhờ việc tham khảo mộ chí của Bùi Trụ Tiên. Mộ chí của Bùi Trụ Tiên có kích thước 72,5x72,5cm, được phát hiện năm 1998 tại khu vực Đông Nam Giao của thành phố Tây An[9].
Sử liệu: Mộ chí của Bùi Trụ Tiên
天子遂悔前途、立徵至京、拝左金呉將軍、尋安南反叛、邊荒告急、即加公雲麾將軍兼廣州都督、進封翼城縣男、公擐甲執兵、凌山泛海、摧元凶於烏雷之浦[10]、走謁者於馬援之窟、誅叛柔服、振凱頒師、未至京、除左衛將軍、
Tạm dịch:
Thiên tử tiếc cho tiền đồ [của Bùi Trụ Tiên], mời về kinh sư, phong làm Tả Kim ngô Tướng quân. Không lâu sau, An Nam làm phản, biên cương cấp báo. (Triều đình) bèn phong thêm cho Công [tức Bùi Trụ Tiên] chức Vân Huy Tướng quân, kiêm Quảng châu Đô đốc, tiến phong Dực Thành huyện nam. Công mặc giáp cầm quân, băng núi vượt bể, bẻ gãy mối họa ở bến Ô Lôi, đưa sứ giả vào hang Mã Viện[11], giết phản chiêu an, khải hoàn rút quân. Chưa về đến kinh, được phong làm Tả Vệ Tướng quân.
Theo tư liệu này, Bùi Trụ Tiên khi đang làm Tả Kim ngô Tướng quân ở kinh sư thì An Nam "làm phản". Nhận được tin cấp báo từ biên cương, triều đình nhà Đường bèn phong Bùi Trụ Tiên làm Vân Huy Tướng quân kiêm Quảng châu Đô đốc, Dực Thành huyện nam. Bùi Trụ Tiên tiêu diệt phản loạn, khải hoàn về kinh ("chấn hoàn ban sư"), lúc chưa về đến kinh sư ("vị chí kinh") thì được phong làm Tả Vệ Tướng quân. Như vậy, nhờ tấm mộ chí này, chúng ta biết được Bùi Trụ Tiên đã tham gia vào việc đàn áp khởi nghĩa Mai Thúc Loan đến khi khởi nghĩa thất bại.
Sử liệu: Đường hội yếu, Q.39, Nghị hình khinh trọng
開元十年十月、前廣州都督裴伷先下獄、中書令張嘉貞奏請决杖(後略)
Sử liệu: Thông điển, Q.167, Hình 5, Tạp nghị hạ
開元十年十一月、前廣州都督裴伷先下獄、中書令張嘉貞奏請決杖(後略)
Mặt khác, theo sách Đường hội yếu và Thông điển, chúng ta lại biết rằng vào tháng 10 hoặc tháng 11 năm Khai Nguyên 10, "tiền Quảng châu Đô đốc" Bùi Trụ Tiên đã bị hạ ngục. Như vậy, rõ ràng việc trấn áp khởi nghĩa Mai Thúc Loan với sự tham gia của Bùi Trụ Tiên phải kết thúc muộn nhất là vào cuối tháng 10 hoặc tháng 11.
Từ ngày 17 tháng 7 đến hết tháng 11 là khoảng 4 tháng rưỡi. Nếu theo khả năng thứ nhất, tức là ngày 17 tháng 7, triều đình nhà Đường mới sai Dương Tư Húc đi đánh dẹp, vậy riêng thời gian Dương Tư Húc di chuyển từ kinh đô Trường An đến An Nam đã mất 2-4 tháng[12]. Sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa, lại mất ít nhất 2 tháng để báo tin về triều, trên cơ sở đó, triều đình mới có thể phong tước cho Bùi Trụ Tiên đang trên đường di chuyển về kinh đô. Riêng thời gian đi lại, truyền tin như vậy đã mất ít nhất 4-6 tháng. Đó là chưa kể khi đến Lĩnh Biểu, Dương Tư Húc và Bùi Trụ Tiên còn phải chiêu mộ hơn 10 vạn con em thủ lĩnh mới đánh xuống An Nam. Vì vậy, không thể trong tháng 10 hoặc tháng 11, Bùi Trụ Tiên đã bị hạ ngục như Đường hội yếu và Thông điển ghi chép được. Nói tóm lại, xét về mặt thời gian, khả năng thứ nhất chắc chắn không thể xảy ra trên thực tế.
b) Khả năng thứ hai:
Nếu thời điểm ngày 17 tháng 7 là thời điểm Mai Thúc Loan bị giết ("phục tru") trên thực tế, cứ giả sử rằng thời điểm bùng nổ của khởi nghĩa Mai Thúc Loan là ngày mùng 1 tháng Giêng năm Khai Nguyên 10, đến khi Mai Thúc Loan bị giết ngày 17 tháng 7 là khoảng 6 tháng rưỡi.
Chúng ta thấy rằng riêng thời gian tin báo đưa từ An Nam đến Trường An đã mất 2 tháng, thời gian di chuyển của Dương Tư Húc từ Trường An đến An Nam đã mất 2 - 4 tháng, vậy tổng thời gian thông tin, di chuyển đã mất 4 - 6 tháng. Vậy trong khoảng 0,5 - 2,5 tháng còn lại, liệu có đủ thời gian để Mai Thúc Loan dấy binh từ Hoan châu, tiến đánh các châu huyện, đánh từ Hoan châu (Nghệ An) ra phủ thành An Nam (Hà Nội), liên kết với Chân Lạp[13], Lâm Ấp, Kim Lân tập hợp 40 vạn quân, trong khi về phía nhà Đường, Dương Tư Húc liệu có thể chiêu mộ 10 vạn binh lính ở Lĩnh Biểu, đàn áp xong cuộc khởi nghĩa được không?
Điều này rõ ràng là rất khó xảy ra.
Riêng việc liên kết với Chân Lạp đã mất hơn 1 tháng. Theo Thập đạo lục của Giã Đam chép trong Tân Đường thư, vào cuối thế kỷ VIII, để đến Hoan châu, người Lục Chân Lạp từ kinh đô của mình phải đi khoảng 12 ngày mới đến sông La Luân (羅倫江、sông Ngàn Phố hiện nay?). Sau khi vượt sông, họ đi tiếp 2 ngày rồi vượt núi Vụ Ôn (霧温嶺、theo Nghệ An chí – dẫn theo Cương mục, Vụ Ôn là một tên khác của núi Vụ Thấp – núi Vụ Quang, huyện Vụ Quang, Hà Tĩnh ngày nay), đi thêm 3 ngày mới đến châu trị Hoan châu. Như vậy, quãng đường từ Lục Chân Lạp đến Hoan châu một chiều đã mất 17 ngày. Để Mai Thúc Loan từ Hoan châu liên lạc với Lục Chân Lạp, đợi Lục Chân Lạp đưa quân đến hội tại Hoan châu cũng đã mất 34 ngày, tức hơn 1 tháng.
Về việc tiến quân, ngay cuộc hành quân được coi là "thần tốc" của Quang Trung - Nguyễn Huệ ra Bắc vào cuối thế kỷ XVIII (khi tình hình giao thông đã được cải thiện hơn rất nhiều), Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Phú Xuân và bắt đầu cuộc hành quân ra bắc ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân, đến Nghệ An ngày 29 tháng 11, mất khoảng 5 ngày. Sau hơn 10 ngày dừng quân ở Nghệ An, đến ngày 20 tháng Chạp, tức là 10 ngày sau, mới ra đến Tam Điệp. Đêm 30 bắt đầu cuộc tấn công quân Thanh và đến mùng 5 Tết mới vào thành Thăng Long, mất 6 ngày. Như vậy là từ Phú Xuân (Huế) ra Thăng Long, hành quân và chiến đấu thần tốc, quân Tây Sơn đã mất khoảng 20 ngày, không kể thời gian tạm dừng quân[14].
Do đó, thời điểm bùng nổ khởi nghĩa Mai Thúc Loan, hay nói cách khác là thời điểm Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa tại Hoan châu chắc chắn phải xảy ra từ trước năm Khai Nguyên 10 (722).
c) Khả năng thứ ba:
Nếu vào tháng 7, nhà Đường mới nhận được tin báo về sự thất bại của khởi nghĩa Mai Thúc Loan, dễ dàng nhận thấy khởi nghĩa Mai Thúc Loan không thể bùng nổ trong năm Khai Nguyên 10. Cũng tương tự như trường hợp trên, cứ giả sử rằng khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ vào ngày 1 tháng Giêng năm Khai Nguyên 10, tính đến ngày 17 tháng 7 là khoảng 6 tháng rưỡi. Trong 6 tháng rưỡi đó, để tin báo về khởi nghĩa đi từ An Nam đến Trường An cũng mất 2 tháng, Nội thị Dương Tư Húc di chuyển từ Trường An đến An Nam cũng mất 2 tháng, tin báo đàn áp được khởi nghĩa mất 2 tháng. Trong nửa tháng còn lại, làm sao Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa từ Hoan châu, đánh chiếm các châu huyện, liên lạc với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, tiến ra phủ thành An Nam, còn về phía Dương Tư Húc xuống Lĩnh Biểu chiêu tập 10 vạn con em thủ lĩnh để quyết chiến một trận được? Nói tóm lại, trong trường hợp này, khởi nghĩa Mai Thúc Loan chắc chắn cũng phải nổ ra vào trước năm Khai Nguyên 10.
Trên đây, chúng tôi đã chỉ ra rằng thời điểm 17 tháng 7 ghi chép trong Cựu - Tân Đường thư chỉ là một mốc thời điểm trong một chuỗi diễn biến của khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Dựa vào mộ chí của Bùi Trụ Tiên và ghi chép củaĐường hội yếu và Thông điển, có thể khẳng định thời điểm 17 tháng 7 không thể là ngày nhà Đường lần đầu tiên nhận được tin báo về khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Với những tư liệu còn lưu giữ hiện nay, nhiều khả năng nó là ngày Mai Thúc Loan bị giết trên thực tế hoặc ngày nhà Đường nhận được tin báo về sự kết thúc của khởi nghĩa Mai Thúc Loan.
Dù là khả năng nào đi chăng nữa, có thể khẳng định khởi nghĩa Mai Thúc Loan không thể bùng nổ, diễn biến và kết thúc chỉ trong 7 tháng rưỡi đầu năm Khai Nguyên 10.
7) "Phê phán sử liệu" đối với Hương Lãm Mai đế ký
Như đã trình bày ở trên, việc lấy ghi chép 17 tháng 7 năm Khai Nguyên 10 của Cựu - Tân Đường thư làm căn cứ để cho rằng khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ và kết thúc chỉ trong năm Khai Nguyên 10 là nhầm lẫn về mặt phương pháp luận và phi thực tế về mặt thời gian. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan chắc chắn phải bắt đầu vào một thời điểm trước năm Khai Nguyên 10. Tại thời điểm hiện nay, chúng ta chỉ có trong tay một tư liệu duy nhất ghi rõ thời điểm khởi đầu của khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Đó là truyện Hương Lãm Mai đế ký, chép trong sách Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập, do "Lễ bộ Chủ bạ Hồng Đô Gia Cát thị"[15] biên soạn. Hương Lãm Mai đế ký chép rằng khởi nghĩa Mai Thúc Loan nổ ra vào tháng 4 năm Quí Sửu, tương đương với năm Khai Nguyên nguyên niên thời Đường. Tuy nhiên, cũng như mọi nguồn tư liệu khác, chúng ta cũng chỉ có thể sử dụng tư liệu này sau khi đã tiến hành thao tác "phê phán sử liệu" một cách thận trọng.
Trong cuộc tranh luận về khởi nghĩa Mai Thúc Loan, Lê Mạnh Chiến đã tìm cách phủ nhận giá trị sử liệu củaHương Lãm Mai đế ký. Lập luận quan trọng và dường như mang tính khoa học nhất của Lê Mạnh Chiến là "từ tháng 1 đến tháng 11 năm Quý Sửu (713) vẫn thuộc niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai; bắt đầu từ ngày 1 tháng  12 mới đổi sang niên hiệu Khai Nguyên. Chỉ cần xem Niên biểu Trung Quốc ở cuối từ điển Từ hải, hoặc tra mục từ Khai Nguyên (開元开元) trên Google thì sẽ thấy ngay chứ không cần phải tra cứu trong Cựu Đường thư hay Tân Đường thư. Niên hiệu Khai Nguyên nguyên niên (năm thứ nhất) chỉ gồm có 1 tháng, là tháng 12 năm Quý Sửu", do vậy niên đại tháng 4 năm Khai Nguyên nguyên niên trong Hương Lãm Mai đế ký là không đáng tin cậy.
Nếu chỉ xem các sách như Niên biểu Trung Quốc vốn được biên soạn dưới thời hiện đại, hay tra mục từ Khai Nguyên trên Google như cách tác giả Lê Mạnh Chiến đã làm, dường như đúng là sẽ không có niên đại "tháng 4 năm Khai Nguyên nguyên niên" như ghi chép của Hương lãm Mai đế ký. Tuy nhiên, nếu giở sách Tân Đường thư(mà tác giả Lê Mạnh Chiến cho rằng "không cần phải tra cứu"), chúng ta thấy ngay năm 713 được mở đầu bằng niên hiệu "Khai Nguyên nguyên niên Chính nguyệt", tiếp theo là "nhị nguyệt", "tam nguyệt", "tứ nguyệt"... cho đến "thập nhị nguyệt". Như vậy, mặc dù việc cải nguyên chỉ diễn ra vào tháng 12 nhưng ngay chính các soạn giả củaTân Đường thư - một trong hai bộ chính sử về nhà Đường, khi nhìn lại quá khứ vẫn coi các tháng từ tháng Giêng đến tháng Chạp của năm 713 là thuộc vào niên hiệu Khai Nguyên năm thứ nhất.
Hình: Chữ "Khai Nguyên nguyên niên" trong Tân Đường thư (Q.5, bản Trung Hoa thư cục, tr.122)
            Đặc biệt, ngay dưới niên hiệu Khai Nguyên, người thời Đường đã coi các tháng của năm 713 là thuộc niên hiệu Khai Nguyên nguyên niên.Tại huyện Doanh Dương, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc), trước đây, người ta đã phát hiện mộ chí của một người tên Lưu Nguyên Siêu 劉元超. Mộ chí có kích thước mỗi chiều khoảng 44 cm, có nắp kích thước mỗi chiều khoảng 27 cm, thác bản của nó hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia Trung Quốc với số hiệu 29740. Mộ chí được lập vào năm Khai Nguyên 6, khi Lưu Nguyên Siêu được chôn tại núi Đông Đàn ở Doanh Dương. Theo tấm mộ chí, Lưu Nguyên Siêu chết vào "ngày 28 tháng 4 năm Khai Nguyên nguyên niên". Như vậy, mặc dù thời điểm Lưu Nguyên Siêu chết vẫn còn thuộc niên hiệu Tiên Thiên, nhưng đến năm Khai Nguyên 6, khi lập mộ chí, người soạn mộ chí đã coi tháng 4 của năm 713 là tháng 4 của năm Khai Nguyên nguyên niên.
Hình: Mộ chí của Lưu Nguyên Siêu và dòng chữ "Khai Nguyên nguyên niên tứ nguyệt nhị thập bát nguyệt"[16]

Mộ chí Lưu Nguyên Siêu
Dòng chữ
"Khai Nguyên nguyên niên tứ nguyệt"

Để phủ định giá trị sử liệu của Hương lãm Mai đế ký, Lê Mạnh Chiến còn đưa ra một lập luận khác là "việc Việt điện u linh ghi rõ cả niên hiệu là năm Khai Nguyên thứ nhất và cả năm theo Can Chi là năm Quý Sửu tức năm 713 (...) không hề có giá trị gì cả, bởi vì, khi đã biết năm Khai Nguyên thứ 10 là năm Nhâm Tuất thì nhanh ý một chút cũng tính nhẩm ra năm Khai Nguyên thứ nhất là năm Quý Sửu." Đây rõ ràng là một suy đoán mang tính cảm quan. Dường như tác giả Lê Mạnh Chiến chưa từng đọc văn bản gốc của Hương lãm Mai đế ký. Trong bản gốc củaHương Lãm Mai đế ký (tức bản A.335 hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm), tác giả Gia Cát thị đã viết: "Đó là tháng tư mùa hạ năm Quý Sửu. Lúc đó năm Khai Nguyên nguyên niên thời Đường Huyền Tông" 是歳癸丑之夏四月也、時唐玄宗之開元元年也. Như vậy, logic của tác giả Hương Lãm Mai đế ký là đi từ năm can chi (Quý Sửu) để tính ra niên hiệu Khai Nguyên nguyên niên, hoàn toàn không phải từ năm Khai Nguyên nguyên niên để tính ra năm can chi Quý Sửu như tác giả Lê Mạnh Chiến đã trình bày.
Mặc dù còn nhiều vấn đề về giá trị sử liệu của Hương Lãm Mai đế ký mà trong thời gian sắp tới phải làm rõ, nhưng chúng tôi cũng muốn lưu ý rằng: các tên người và địa danh được chép trongHương Lãm Mai đế ký không phải tất cả đều vô căn cứ, một số trường hợp chúng ta có thể kiểm chứng qua các nguồn tư liệu đáng tin cậy khác. Ví dụ, trong Hương Lãm Mai đế ký có một đoạn như sau:
            群臣文武、多為唐人所害、林邑真臘亦為唐将朱之悌所敗、各斂兵南鼠
Hình: Chữ "Đường tướng Chu Chi Đễ" trong bản A.335
Trong các bản dịch sang chữ quốc ngữ phổ biến hiện nay, đoạn Hán văn trên thường được dịch như sau:
Bề tôi văn vũ phần lớn bị người Đường giết hại. Người Lâm Ấp, người Chân Lạp cũngbị người Đường giết; thấy thua quân họ cũng thu quân chạy về phương Nam[17].
Dường như những người dịch trước đây lúng túng với bốn chữ "đường tướng chu chi đễ" 唐将朱之悌nên đã dịch thoát ý thành "người Đường". Tuy nhiên, trên thực tế "chu chi đễ" 朱之悌chính là chép nhầm của "Tống Chi Đễ" 宋之悌[18], một nhân vật liên quan đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan đã được ghi chép trong nhiều tài liệu đáng tin cậy khác. Theo Tân Đường thư và An Nam chí lược, thời Đường có một nhân vật tên là Tống Chi Đễ, em của Tống Chi Vấn, sống dưới thời Khai Nguyên, trước kia từng mắc tội bị lưu đày xuống Chu Diên (tức khu vực Hưng Yên, Hải Dương hiện nay), gặp lúc người Man hạ Hoan châu nên được phong làm Tổng quản để trấn áp[19]. Như vậy, đoạn "林邑真臘亦為唐将朱之悌所敗" trong Hương Lãm Mai đế ký không phải là Lâm Ấp, Chân Lạp "cũng bị người Đường giết", phải dịch chính xác là "Lâm Ấp, Chân Lạp cũng bị tướng Đường là Tống Chi Đế đánh bại". Qua trường hợp này, có thể thấy Hương Lãm Mai đế ký rõ ràng có sử dụng một số tư liệu có căn cứ về khởi nghĩa Mai Thúc Loan.
Xung quanh độ tin cậy của Hương Lãm Mai đế ký, còn một điểm cần chú ý khác. Mặc dù bản thân sách Tân bính hiệu bình Việt điện u linh được Gia Cát thị biên soạn vào thế kỷ XVIII, nhưng truyện Hương Lãm Mai đế ký chỉ đề cập đến việc sắc phong cho Mai Thúc Loan vào thời Trần: đó là việc sắc phong vào năm Trùng Hưng nguyên niên (1285), Trùng Hưng 4 (1288) và Hưng Long 21 (1313).
Một điểm đáng lưu ý khác của Hương Lãm Mai đế ký là việc mô tả khởi nghĩa Mai Thúc Loan như một quá trình: từ việc sai sứ giả ("Lâm Ấp thông vấn sứ", "Chân Lạp Cáo dụ sứ") để liên kết với Lâm Ấp và Chân Lạp, khiến "binh thế đại chấn", "quan thú mục người Đường trông ngọn gió" mà tháo chạy, Mai Thúc Loan mới nhân cơ hội đó dẫn quân chiếm cứ "châu thành", xưng đế tại Hoan châu vào mùa xuân tháng 4 năm Quí Sửu (Khai Nguyên nguyên niên, 713). Sau năm đó, "thứ sử Tào Chân Tĩnh" mới rút lui về giữ Quế Sơn, quân đội Chân Lạp, Lâm Ấp đến tập hợp, "người Đường dần dần tự bỏ trốn về".
Kết luận:
Trong bài viết này, thông qua việc xem xét cách thức Cựu - Tân Đường thư ghi chép về các cuộc nổi dậy - khởi nghĩa dưới thời thuộc Đường, chúng tôi đã chỉ ra một số vấn đề cần lưu ý ghi sử dụng các tài liệu này để nghiên cứu. Đó là:
           - Các ghi chép của Cựu - Tân Đường thư về các sự kiện xảy ra tại An Nam thường được gắn với một ngày tháng cụ thể, trong một số trường hợp, giữa các ghi chép của hai bộ chính sử này có những điểm khác biệt với nhau. Cần nhận thức rõ cách thức ghi chép theo ngày can chi để tiến hành đối chiếu, làm rõ những điểm khác biệt về ngày, tháng giữa Cựu - Tân Đường thư.
            - Do gắn với một ngày tháng cụ thể, mỗi ghi chép của Cựu - Tân Đường thư chỉ phản ánh được một diễn biến nhất định, không phải là toàn bộ quá trình của một cuộc nổi dậy (khởi nghĩa).
            - Trong quá trình biên soạn, các soạn giả của Cựu - Tân Đường thư đã tóm tắt, lược bỏ nhiều thông tin. Do vậy, trong một số trường hợp, tiêu biểu như khởi nghĩa Dương Thanh, ngày tháng ghi trong Cựu - Tân Đường thư không phải là ngày tháng sự kiện xảy ra trên thực tế tại An Nam, mà là ngày tháng nhà Đường nhận được tin báo về sự kiện đó. "Độ trễ", tức sự chênh lệch giữa hai thời điểm đó là từ 2 - 4 tháng, tương đương với quãng thời gian để thông tin, sự vật di chuyển từ An Nam đến kinh đô Trường An và ngược lại.
            - Do những lý do nêu trên, cần hết sức thận trọng khi sử dụng các ghi chép của Cựu - Tân Đường thư nói riêng và chính sử Trung Quốc nói chung để xác định các điểm mốc quan trọng liên quan đến lịch sử Việt Nam, cần tiếp tục tìm kiếm các tài liệu, đặc biệt là tài liệu kim thạch văn như văn bia, mộ chí để đính chính lại những thiếu sót, sai lầm trong chính sử.
Trên cơ sở các lưu ý nêu trên, chúng tôi đã tiến hành thao tác "phê phán sử liệu" đối với các tư liệu về khởi nghĩa Mai Thúc Loan và chỉ ra một số vấn đề sau:
            - Cả Cựu Đường thư và Tân Đường thư đều có ghi chép về ngày Bính Tuất liên quan đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan, nhưng khác nhau về tháng. Ghi chép của Tân Đường thư là chính xác hơn, đó là ngày Bính Tuất (ngày 17) thuộc tháng 7 năm Khai Nguyên 10.
            - Việc lấy ghi chép ngày 17 tháng 7 năm Khai Nguyên 10 để chứng minh khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ và kết thúc trong cùng năm là sai lầm về mặt phương pháp luận và là một giả thuyết không có tính thực tế về mặt thời gian. Trong điều kiện tư liệu hiện nay, chúng ta chưa xác định được một tư liệu khả tín nào cho thấy khởi nghĩa Mai Thúc Loan khởi đầu năm Khai Nguyên 10 (722).
            - Thời điểm ngày 17 tháng 7 năm Khai Nguyên 10 nhiều khả năng là thời điểm Mai Thúc Loan bị giết tại An Nam hoặc thời điểm chính quyền trung ương của nhà Đường đặt tại Trường An nhận được tin báo về việc Dương Tư Húc đã trấn áp thành công khởi nghĩa Mai Thúc Loan.
            - Trong điều kiện tư liệu hiện nay, Hương Lãm Mai đế ký là tư liệu duy nhất chúng ta còn lưu giữ được đề cập đến thời điểm bùng nổ khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Đó là thời điểm tháng 4 năm Quý Sửu (713) đời Đường Huyền Tông.
            - Mặc dù Hương Lãm Mai đế ký được "Lễ bộ Chủ bạ Hồng Đô Gia Cát thị" đưa vào sách Tân đính hiệu bình Việt điện u linh vào thế kỷ XVIII, nhưng bản thân Hương Lãm Mai đế ký chỉ đề cập đến các sắc phong cho Mai Thúc Loan vào thời Trần, mà muộn nhất là năm Hưng Long 21 (1313). Điều này cho thấy nhiều khả năngHương Lãm Mai đế ký đã dựa trên một số tài liệu có từ trước thế kỷ XV.
            - Mặc dù cần thận trọng khi sử dụng các thông tin trong Hương Lãm Mai đế ký, nhưng có chứng cứ, cụ thể là nhân vật "Tống Chi Đễ" cho thấy truyện này đã sử dụng một số tài liệu đáng tin cậy để viết về khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Ít nhất là trong điều kiện hiện nay, chúng ta chưa tìm thấy một tư liệu nào đủ thuyết phục để phủ định thời điểm bùng nổ năm 713 của khởi nghĩa Mai Thúc Loan mà Hương Lãm Mai đế ký ghi chép.


[1]Ngoài mộ chí Bùi Trụ Tiên, trước đây chúng tôi cũng từng giới thiệu một mộ chí khác có liên quan đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan - Mai Huyền Thành là mộ chí của Dương Tư Húc. Xin xem thêm Phạm Lê Huy, Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh (819-820), Tạp chí NCLS, số 12, 2012.
[2]Lê Mạnh Chiến, Phải chăng Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm 713, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, số 230, 2012.
[3]「考異曰舊紀云、八月丙戍、按八月庚子朔、無丙戍」(『資治通鑑』卷二百十二、唐紀二十八、開元十年八月条)。
[4]Chu Thiệu Lương, Triệu Siêu (chủ biên), Đường đại mộ chí vựng biên, NXB Thượng Hải cổ tịch, 1992, tr.2061-2062. 周紹良、趙超編『唐代墓誌彙編』(上海古籍出版社、1992年). Liên quan đến thác bản, nội dung mộ chí cũng như các mốc thời điểm của khởi nghĩa Dương Thanh, xin xem thêm Phạm Lê Huy, Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh (819-820), Tạp chí NCLS, số 12, 2012.
[5]Dưới đây, những phần đặt trong ngoặc vuông trong trích dẫn sử liệu đều là chú thích của người viết.
[6]Tả đảm (左袒): cởi áo lộ vai trái, chỉ những người có cùng chí hướng. Bắt nguồn từ sự tích đời Hán, những binh lính đi theo Chu Bột phù nhà Hán, diệt họ Lã đều cởi áo để lộ vai trái.
[7]Về văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp, xin tham khảo Phạm Lê Huy, Nhân Thọ xá lợi tháp và văn bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh, Tạp chí Khảo cổ học, số 1, 2013.
[8]「唐大暦中、因我安南軍乱、兄弟相率狥諸郷邑、皆下之、所至無不披靡、興既得志、更名巨老、駭更名巨力、興号都君、駭号都保、用唐林人杜英倫(一作翰)計儀、以兵巡行唐林長峰等州、皆帰之、威名大振、聲言欲図都府、時都護高正平以幕下攻之不克、優憤發疽率、興入都府視事、七年薨」(Việt điện u linh tập, truyện Bố Cái Đại Vương). Truyện Bố Cái Đại Vương là một trong các truyện gốc của Việt điện u linh tập được Lý Tế Xuyên soạn vào thời Trần, dựa trên "Triệu công Giao châu ký" - một nguồn tư liệu có niên đại sớm, nhiều khả năng là của Triệu Xương - viên An Nam Đô hộ sống cùng thời với khởi nghĩa Phùng Hưng. Xem thêm Phạm Lê Huy, Về một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường, Tạp chí NCLS, số 9-10 (401-402), 2009.
[9]Về mộ chí của Bùi Trụ Tiên, xin tham khảo Cát Thừa Ung - Lý Dĩnh Khoa, Khảo thuật về mộ chí Bùi Trụ Tiên đời Đường mới phát hiện tại Tây An, Tạp chí Đường nghiên cứu, quyển 5, 1999. 葛承雍、李穎科「西安新發現唐裴伷先墓誌考述」(『唐研究』第5卷、1999年)。
[10]Nguyên văn "Ô Lôi chi phố", chỉ khu vực bến cảng gần Khâm châu, nay là khu Khâm Nam, thuộc tỉnh Quảng Tây. Ghi chép này theo chúng tôi có liên quan đến ghi chép của các tài liệu văn bản về việc Mai Thúc Loan chiếm cứ vùng "Hải Nam" và việc Mai Thúc Loan phối hợp với Lâm Ấp (vào thời Đường, Lâm Ấp thường dùng thủy quân đánh phá vùng ven biển Lục châu).
[11]Nguyên văn "Mã Viện chi quật", chỉ con đường tiến quân cũ tương truyền của Mã Viện được Dương Tư Húc và Quang Sở Khách sử dụng để đàn áp khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Về con đường này, xin xem thêm Phạm Lê Huy, Hệ thống giao thông thời Đường qua các tư liệu văn học - Trường hợp An Nam Đô hộ phủ, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Giao hưởng Cổ đại II, Đại học Meiji (Nhật Bản), 2012; Phạm Lê Huy, Về một số châu kimi từ thời Đường sang thời Lý trong giai đoạn thế kỷ IX - XII (On some Jimi provinces from the Tang Dynasty to the Ly Dynasty during the 8th–11th century), The Second Congress: Asian Association of World Historians (AAWH), Ewha Woman University, 2012.                
[12]Ở đây, chúng tôi sử dụng giới hạn dưới là 2 tháng. Tuy nhiên, trên thực tế, một viên đại thần của nhà Đường như Dương Tư Húc không thể di chuyển nhanh như ngựa chạy trạm được.
[13]Về con đường giao thông giữa Lục Chân Lạp và An Nam, xin xem thêm Phạm Lê Huy, Hoạt động buôn bán ngựa và Chính sách kinh dinh của nhà Lý ở khu vực Tây Bắc, Tạp chí NCLS, số 2 (418), 2011. 
[14]Đại Nam liệt truyện, Ngụy Tây truyện, Nxb Thuận Hóa, 1993.
[15]Có giả thuyết cho rằng Gia Cát thị là Nguyễn Gia Cát, từng làm chức Tham tri Bộ Lễ, sống dưới thời Lê Trịnh, qua triều Tây Sơn đến đầu thời Nguyễn. Về vấn đề này, xin xem thêm Đào Phương Chi, "Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập" đã được biên soạn như thế nào, Tạp chí Hán Nôm, số 2(43), 2000.
[16]Hác Bản Tính (chủ biên), Tùy Đường Ngũ đại mộ chí hối biên, quyển Hà Nam, NXB Thiên Tân cổ tịch, 1991. 郝本性主編『隋唐五代墓誌滙』河南卷、天津古籍出版社、1991, tr.55.
[17]Trịnh Đình Rư, Đinh Gia Khánh (dịch), Việt điện u linh, NXB Hồng Bàng (tái bản), 2012, tr.155. Truyện Hương Lãm Mai đế ký do Đinh Gia Khánh dịch từ bản A.335 của Viện Hán Nôm.
[18]Chữ Tống và chữ Chu có tự dạng giống nhau nên dễ chép nhầm. Hơn nữa, như Đinh Gia Khánh đã chỉ ra, bản A.335 hiện đang lưu giữ tại Viện Hán Nôm nhiều khả năng là một bản được Viễn Đông Bác Cổ thuê chép tay từ một bản khác vào đầu thế kỷ XX.
[19]「之悌,長八尺,開元中,歷劍南節度使、太原尹。嘗坐事流朱鳶,會蠻陷驩州,授總管擊之」(『新唐書』卷二百二、宋之問傳)。宋之悌之問弟也、長八尺、開元中歴劔南節度使太原尹、坐事流朱鳶、時蠻陷驩州、就授交州總管擊平之」(『安南志略』卷八)。
PHỤ LỤC (Phạm Lê Huy, 2012)
Bảng 1. Các ghi chép về các cuộc khởi nghĩa nổ ra tại An Nam dưới thời thuộc Đường (trước niên hiệu Hàm Thông)


STT
Niên hiệu
Tháng
Ghi chép trong chính sử
Xuất điển
Trang(*)
Chú thích
1. Khởi nghĩa Lý Tự Tiên

垂拱三年
八月
八月壬子,魏玄同兼檢校納言。交趾人李嗣仙殺安南都護劉延祐,據交州,桂州司馬曹玄靜敗之。
『新唐書』卷四、則天順聖武皇后
86

2. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan

開元十年
七月
丙戌,安南人梅叔鸞反,伏誅。
『新唐書』卷五、玄宗
129


開元十年
八月
秋八月丙戌,嶺南按察使裴伷先上言安南賊帥梅叔鸞等攻圍州縣,遣驃騎將軍兼內侍楊思勗討之。
『舊唐書』卷八、玄宗上
183−184

3. Khởi nghĩa Phùng Hưng (Đỗ Anh Hàn)

貞元七年
四月
己未,安南首領杜英翰叛,攻都護府,都護高正平憂死。
『舊唐書』卷十三、德宗下
370


貞元七年
四月
四月,安南首領杜英翰反,伏誅。
『新唐書』卷七、德宗皇帝
197

4. Cuộc nổi dậy của Vương Quí Nguyên

貞元十九年
二月
己亥,安南經略使裴泰為州將王季元所逐。
『舊唐書』卷十三、德宗下
397


貞元十九年
二月
二月己亥,安南將王季元逐其經略使裴泰,兵馬使趙均敗之。
『新唐書』卷七、德宗
204

5. Khởi nghĩa Dương Thanh

元和十四年
十月
冬十月丙午朔。壬戌,安南 軍亂,殺都護李象古,并家屬、部曲千餘人皆遇害。丙寅,以唐州刺史桂仲武為安南部護,
『舊唐書』卷十五、憲宗下
465


元和十四年
十月
十月壬戌,安南將楊清殺其都護李象古以反。
『新唐書』卷七、憲宗
218


元和十五年
六月
丁丑、安南都護桂仲武奏誅賊首楊清,收復安南府。
『舊唐書』卷十六、穆宗
475


元和十五年
八月
甲戌, 安南都護桂仲武斬叛將楊清首以獻,收復安南府。
『舊唐書』卷十六、穆宗
475

6. Cuộc nổi dậy của Vương Thăng Triều

大和二年
六月
乙亥,峯州刺史王昇朝反,伏誅。
『新唐書』卷八、文宗
230

7. An Nam quân loạn thời Đô hộ Hàn Ước

大和二年
九月
庚戌,安南軍亂,逐都護韓約。
『舊唐書』卷十七上、文宗上 
528


大和二年
九月
庚戌,安南軍亂,逐其都護韓約。
『新唐書』卷八、文宗
230

8. An Nam quân loạn thời Đô hộ Vũ Hồn

會昌三年
十一月
安南軍亂,逐其經略使武渾。
『新唐書』卷八、武宗
243

9. Cuộc nổi dậy của Lý Mạnh Thu

建中三年
八月
八月癸丑,演州司馬李孟秋、峯州刺史皮岸反,伏誅。
『新唐書』卷七、德宗
188


(*)Trang: chỉ số trang của bản Trung Hoa thư cục.
Bảng 2: Bảng tính Can chi

1 (Giáp Tý)
甲子
2 (Ất Sửu)
乙丑
3 (Bính Dần)
丙寅
4 (Đinh Mão)
丁卯
5 (Mậu Thìn)
戊辰
6 (Kỷ Tị)
己巳
7 (Canh Ngọ)
庚午
8 (Tân Mùi)
辛未
9 (Nhâm Thân)
壬申
10 (Quí Dậu)
癸酉
11 (Giáp Tuất)
甲戌
12 (Ất Hợi)
乙亥
13 (Bính Tý)
丙子
14 (Đinh Sửu)
丁丑
15 (Mậu Dần)
戊寅
16 (Kỷ Mão)
己卯
17 (Canh Thìn)
庚辰
18 (Tân Tị)
辛巳
19 (Nhâm Ngọ)
壬午
20 (Quí Mùi)
癸未
21 (Giáp Thân)
甲申
22 (Ất Dậu)
乙酉
23 (Bính Tuất)
丙戌
24 (Đinh Hợi)
丁亥
25 (Mậu Tý)
戊子
26 (Kỷ Sửu)
己丑
27 (Canh Dần)
庚寅
28 (Tân Mão)
辛卯
29 (Nhâm Thìn)
壬辰
30 (Quí Tị)
癸巳
31 (Giáp Ngọ)
甲午
32 (Ất Mùi)
乙未
33 (Bính Thân)
丙申
34 (Đinh Dậu)
丁酉
35 (Mậu Tuất)
戊戌
36 (Kỷ Hợi)
己亥
37 (Canh Tý)
庚子
38 (Tân Sửu)
辛丑
39 (Nhâm Dần)
壬寅
40 (Quí Mão)
癸卯
41 (Canh Thìn)
甲辰
42 (Ất Tị)
乙巳
43 (Bính Ngọ)
丙午
44 (Đinh Mùi)
丁未
45 (Mậu Thân)
戊申
46 (Kỷ Dậu)
己酉
47 (Canh Tuất)
庚戌
48 (Tân Hợi)
辛亥
49 (Nhâm Tý)
壬子
50 (Quí Sửu)
癸丑
51 (Giáp Dần)
甲寅
52 (Ất Mão)
乙卯
53 (Bính Thìn)
丙辰
54 (Đinh Tị)
丁巳
55 (Mậu Ngọ)
戊午
56 (Kỷ Mùi)
己未
57 (Canh Thân)
庚申
58 (Tân Dậu)
辛酉
59 (Nhâm Tuất)
壬戌
60 (Quí Hợi)
癸亥
Nguồn:http://www.vanhoanghean.com.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa28/item/5356-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-v%E1%BB%81-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADn-s%E1%BB%AD-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-th%E1%BB%9Di-%C4%91i%E1%BB%83m-b%C3%B9ng-n%E1%BB%95-c%E1%BB%A7a-kh%E1%BB%9Fi-ngh%C4%A9a-mai-th%C3%BAc-loan

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Mỗi tấc đất Tổ quốc là một thước đo phẩm giá con người




Nguồn: Báo Nhân dân hàng tháng số Xuân Quý Tỵ
Mỗi tấc đất Tổ quốc là một thước đo phẩm giá con người
Nơi bắt đầu Tổ quốc cũng là nơi bắt đầu của lịch sử một dân tộc. Những ngày cuối năm, nhớ về nguồn cội, về biên cương hải đảo, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đã dành cho chúng tôi cuộc trò chuyện dưới góc nhìn lịch sử.
Chủ quyền lãnh thổ trong tâm thức của nhân dân
- Thưa Giáo sư, qua những cứ liệu lịch sử, ông có thể cho biết  sự hình thành lãnh thổ và chủ quyền đất nước Việt Nam được bắt đầu như thế nào?
- Sau một quá trình phát triển lâu dài của các nền văn hóa tiền sử, vào sơ kỳ thời đại Đồ Sắt, trên lãnh thổ của nước Việt Nam hình thành ba trung tâm văn hóa lớn làm cơ sở cho sự ra đời của những nhà nước cổ đại đầu tiên: văn hoá Đông Sơn ở miền Bắc dẫn đến sự ra đời của nhà nước Văn Lang, Âu Lạc; văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung và Nam Trung Bộ chuẩn bị cho sự xuất hiện nhà nước Lâm Ấp, Chămpa và văn hoá Óc Eo ở Nam Bộ quan hệ với sự ra đời của vương quốc Phù Nam.
Nước Việt Nam ngày nay bắt đầu quá trình hình thành từ ba vùng văn hóa lớn đầu tiên ấy. Ý thức truyền thống về chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam cũng bắt đầu từ quá trình ra đời và hợp nhất của ba nhà nước hết sức sơ khai này. Nói một cách khác, từ  ba vương quốc đầu tiên làm cơ sở nền tảng, làm cốt lõi, dần dần mở ra quá trình khai phá, dựng xây, quá trình chinh phục thiên nhiên hoang sơ, núi rừng, biển cả, từng bước mở cõi và định cõi. Không chỉ trên đất liền, dân tộc Việt Nam là một dân tộc sinh ra trên bờ Biển Đông, sống cùng biển và sớm vươn ra khai chiếm biển. Và dấu chân đi mòn mở lối của ông cha từ nghìn đời đã rất tự nhiên - hình thành nên những vùng biên cương lãnh hải.
- Vậy cũng theo góc nhìn lịch sử, đường biên giới trên biển cũng như trên bộ, rõ ràng không chỉ là ranh giới hành chính, mà là dấu mốc thiêng liêng của quá trình hàng nghìn đời khai chiếm và sinh sống của tổ tiên ta. Đó còn là truyền thống văn hóa, có rất nhiều yếu tố hợp thành?
- Đó là sự ghi dấu quá trình mở đất và giữ đất của các thế hệ tiền nhân. Ngay buổi đầu khai hoang mở đất, lấn biển, chống chọi với thiên nhiên hoang dã, lịch sử được viết bằng những trang mồ hôi, nước mắt, máu xương của bao thế hệ người Việt Nam, thấm đẫm, quấn quyện, chất chồng. Mảnh đất đó vì thế mà trở thành thiêng liêng, thành gắn bó như bộ phận trong cơ thể, không thể và không dễ gì lại có thể để rơi vào tay người khác. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bắt đầu từ đất đai nơi mình chôn nhau cắt rốn, tình yêu quê hương đất nước bắt đầu từ những cái hết sức bình dị như vậy. Những vùng đất, vùng biển xa xôi như Hoàng Sa, Trường Sa chẳng hạn, khi mà tổ tiên chúng ta đi ra đó, thực sự là những cuộc vật lộn, chống chọi với bão tố, phong ba, dấn thân vào cõi chết và vượt lên cái chết: “Hoàng Sa đi có về không/ Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi”. Người dân đảo Lý Sơn ra Hoàng Sa, Trường Sa là vì lệnh vua, phép nước, vì sự toàn vẹn của lãnh hải, lãnh thổ của cha ông để lại. Đất đai, biển cả của Tổ quốc, nó đâu chỉ đơn thuần là đất, là nước, là biển, là đảo đá, bãi ngầm, bãi cạn..., mà còn là cả núi xương, biển máu của lớp lớp các thế hệ người Việt Nam kết tinh trong đó. Vì vậy mà vô cùng thiêng liêng.
- Vâng, biên giới hải đảo của Tổ quốc không chỉ rõ ràng trên bản đồ, văn bản, mà còn một cứ liệu lịch sử khác vô cùng quan trọng, đó là sự lưu giữ trong tâm thức của nhân dân…
- Cương vực và lãnh thổ Việt Nam không chỉ được xác định và cố định lại trong hệ thống bản đồ, tư liệu, cứ liệu lịch sử rõ ràng, minh bạch, chuẩn xác, mà còn ghi đậm, khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam.
Điều đó thể hiện xuyên suốt trong lịch sử, thành một ý thức truyền thống bền chặt. Lý Thường Kiệt và quân dân nhà Lý quyết tiêu diệt đến cùng quân xâm lược Tống trên chiến tuyến sông Cầu là để khẳng định một chân lý vĩnh hằng rằng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” (Sông núi nước Nam vua Nam ở).  Thời vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết rất rõ: “Từ Triệu – Đinh –Lý – Trần – Lê bao đời xây nền độc lập/Cùng Hán – Đường – Tống- Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”. Đến Lê Thánh Tông thì việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đã trở thành mệnh lệnh thiêng liêng: “Kẻ nào dám đem một thước đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc sẽ bị tội tru di”. Ông cho khắc tuyên ngôn bất hủ của mình trên núi Bài Thơ (Hòn Gai, Quảng Ninh): “Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại” (Muôn thuở Trời Nam núi sông còn mãi). Ý thức chủ quyền quốc gia lãnh thổ đã trở thành một nguyên tắc tối thượng: nếu một người nào đó, bất kể họ là ai, để mất vào tay kẻ thù dù chỉ một tấc đất của cha ông thì đều bị khép tội phản quốc và phải chịu hình phạt cao nhất của triều đình. 
Bảo vệ chủ quyền là trọng trách tối cao của mọi triều đại
- Vậy, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia lãnh thổ là trọng trách hàng đầu của mỗi triều đại trong lịch sử dân tộc?
- Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, gìn giữ toàn vẹn mỗi tấc đất biên cương của Tổ quốc không chỉ là trọng trách cao cả của mọi vương triều, mọi thể chế chính trị, mà còn là tiêu chí cao nhất để xác định phẩm giá con người Việt Nam được ký thác trong dân gian. Bất cứ ai, dù nổi tiếng đến đâu, nhưng nếu để mất nước, để mất đất thì đều bị lên án gay gắt. Trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XV, Hồ Quý Ly là một bậc anh hùng cái thế, nhưng chỉ vì tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược không thành, mà đã phải “để hận mấy nghìn năm”, “để đến nỗi lòng dân oán hận”. Phan Thanh Giản, Tiến sĩ nho học đầu tiên của Nam Bộ, một trí thức lừng danh của thế kỷ XIX, buộc phải thay mặt triều đình ký hiệp ước nhượng bộ thực dân Pháp. Dù đã chọn cho mình cái chết, ông vẫn không khỏi mang tiếng là “mãi quốc” (bán nước). Hay như vua Gia Long, người có tài cầm quân, có tài tổ chức và tập hợp dân chúng, nếm mật nằm gai mở cõi và định cõi, làm nên một nước Việt Nam thống nhất, rộng dài và trọn vẹn. Sự nghiệp của ông không thể nói là không lớn lao và lừng lẫy. Thế nhưng ông vẫn phải chịu trách nhiệm nặng nề trước lịch sử vì đã từng rước quân ngoại bang về dày xéo bờ cõi, và có thể vì thế mà cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách đánh giá rất khác nhau về ông. Lịch sử có những phán quyết nghiệt ngã đến như vậy, bởi vì chủ quyền lãnh thổ quốc gia bao giờ cũng là vấn đề trọng đại.
- Điều đó cũng một phần bởi lịch sử đã trao vào dân tộc Việt Nam một số phận khắc nghiệt, luôn phải chống chọi với các thế lực ngoại xâm để bảo vệ chủ quyền quốc gia lãnh thổ?
- Đúng vậy. Có một thực tế là lãnh thổ nước ta ở vị trí trọng yếu, đầu mối của nhiều con đường giao thương, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, nơi tiếp xúc giữa đại lục và đại dương… Từ đó, mà đất nước ta luôn bị đe doạ, bị nhòm ngó bởi các thế lực lớn mạnh, từ nhiều phía, trong điều kiện tương quan lực lượng hết sức chênh lệch. Vì thế mà trong toàn bộ lịch sử lâu dài và oanh liệt của dân tộc Việt Nam, lịch sử chống ngoại xâm luôn luôn là nội dung xuyên suốt, bao trùm. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người Việt Nam có truyền thống thờ cúng những vị anh hùng, những người có công chống giặc ngoại xâm.
Và bài học lịch sử về khát vọng hoà bình
- Vậy bài học lịch sử cho công cuộc gìn giữ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ đất nước là gì, thưa Giáo sư?
- Tôi thấy trong lịch sử, tất cả các vương triều tiến bộ và hùng mạnh đều giữ được trọn vẹn quốc gia lãnh thổ. Tại sao chúng ta đặc biệt đề cao nhà Trần? Vì nhà Trần ba lần chiến thắng đại đế chế Mông - Nguyên hùng mạnh nhất thế giới đương thời. Vó ngựa của chúng đã dẫm nát cả hai đại lục Âu – Á, nhưng lại bị chặn đứng ở nước ta, không phải một lần mà đến ba lần. Vì sao? Trần Hưng Đạo đã từng tổng kết: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Bài học trong lịch sử giữ nước là giữ dân, là cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân. Giữ nước phải vì dân, vì thế mới huy động được sức mạnh của toàn dân. 
Tất cả các kẻ thù ngoại bang đều nhằm vào lúc đất nước rối ren mà tấn công, xâm chiếm. Một trong những điểm yếu cơ bản mà kẻ thù dễ lợi dụng, đó chính là sự chia rẽ, mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ. Trái lại, một khi đã đoàn kết được toàn dân thì ngay trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp nhất, chúng ta vẫn hoàn toàn có đủ khả năng lật ngược thế cờ.
Một bài học quan trọng nữa: mặc dù số phận đặt lên vai dân tộc ta một lịch sử đi liền với đoạn trường chinh chiến như vậy, nhưng không mấy dân tộc như Việt Nam lại cháy bỏng khát khao hoà bình đến thế. Lê Lợi, Nguyễn Trãi sau hàng loạt những kỳ tích anh hùng ở Tốt Động – Chúc Động, Chi Lăng – Xương Giang, đẩy quân Minh trong thành Đông Quan vào thế “kế cùng, lực kiệt”, chỉ còn chờ bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhưng các vị đã không chọn con đường đánh tiêu diệt, mà sẵn sàng “giảng hoà” kết thúc chiến tranh dưới hình thức hội thề. Hội thề Đông Quan thực chất là hiệp ước đầu hàng của quân Minh, bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ của Đại Việt mà không hao tổn thêm xương máu. Ý chí đó được Nguyễn Trãi viết: “Sửa hòa hiếu cho hai nước/Tắt muôn đời chiến tranh” - đó mới là mục đích cao nhất của cuộc chiến. Đây là chiến công của tầm cao trí tuệ, nhân văn, của “đại nghĩa thắng hung tàn”, của “chí nhân thay cường bạo”, thực hiện trọn vẹn khát vọng hòa bình của một dân tộc đã phải chịu quá nhiều mất mát thương đau.  
- Để có được những bài học từ thế hệ trước như vậy, rõ ràng việc nghiên cứu lịch sử là hết sức quan trọng. Là chuyên gia về lịch sử Việt Nam Cổ trung đại, ông có thể cho biết, việc tiếp cận tư liệu cũng như điều kiện nghiên cứu, phổ biến những công trình khoa học lịch sử có gì khó khăn?
- Có thể nói lịch sử chống ngoại xâm được các nhà nghiên cứu quan tâm rất sớm và mảng lịch sử chống ngoại xâm đã quy tụ được những thành tựu to lớn nhất của Sử học Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua. 
Tư liệu thì chúng ta không thiếu. Các bộ “Việt sử lược”, “Đại Việt sử ký”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Việt sử thông giám cương mục” và nhiều các bộ sử cũ khác ghi chép về các trận đánh khá kỹ càng. Trong các nguồn sử liệu mà chúng tôi sử dụng, mặc nhiên chính sử, các tư liệu thư tịch cổ, tư liệu khách quan đương đại phải là quan trọng hơn cả. Tuy nhiên cũng phải thấy một thực tế là có những câu chuyện lịch sử thật khó có thể tìm thấy trong chính sử, mà lại ẩn chứa trong các nguồn tư liệu khác như văn bia, thần tích, ngọc phả, sắc phong, đại tự, câu đối, gia phả, hương ước, địa bạ, tục lệ, địa danh, di tích, di vật trên mặt đất và trong lòng đất… Vì thế, nhà nghiên cứu bên cạnh việc khai thác triệt để các nguồn tư liệu thư tịch cổ đã được tập hợp lại trong các thư viện, các trung tâm lưu trữ, bảo tàng, thì phải đi điều tra điền dã, tìm hiểu phong tục tập quán, văn hóa dân gian, điều tra khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học... Cũng có nhiều tư liệu quý vì những lý do khác nhau đang được lưu trữ ở nước ngoài.
Mùa hè năm 2011, đến thăm Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Pháp ở Aix-en-Provence, tôi có dịp tiếp cận một khối lượng đồ sộ các nguồn tư liệu về khu vực Biển Đông, trong đó có nhiều bản đồ, ghi chép, công văn giấy tờ... minh chứng một cách rõ ràng và hiển nhiên chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tất cả các nguồn tư liệu Việt Nam, Phương Tây và Trung Quốc mà tôi đã có dịp khai thác ở trong nước và ngoài nước đều thống nhất xác nhận chủ quyền thật sự và lâu đời của Việt Nam ở đây. Các tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”, “Thanh đại đồ”, “Trung Hoa bưu chính dư đồ” cùng hàng loạt các bản đồ Trung Quốc khác mới được giới thiệu gần đây là thuộc thế hệ các bản đồ truyền thống của Trung Quốc, xác nhận một cách cụ thể, rõ ràng ranh giới phía Nam của Trung Quốc chỉ đến cực Nam của đảo Hải Nam, ở vào vĩ độ 18 độ 33 phút. Giá trị của hệ thống các bản đồ này là ở chỗ nó đồng thời xác nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía dưới vĩ tuyến 18, không có liên quan gì đến phạm vi lãnh thổ, lãnh hải cổ truyền của Trung Quốc. Khi đã có trong tay tất cả các nguồn tư liệu thì các tư liệu này tự nó có thể kiểm chứng lẫn nhau, giúp cho chúng ta nhận diện một cách đầy đủ và chính xác đối tượng nghiên cứu.
- Vậy làm thế nào để những cứ liệu lịch sử khoa học và cụ thể ấy đến được với mỗi người dân Việt Nam?
Trong cuốn “Lịch sử nước ta”, Bác Hồ viết: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Hiểu được gốc tích chủ quyền lãnh thổ quốc gia là rất quan trọng và thiêng liêng, bởi vì đó là nơi bắt đầu Tổ quốc, cội nguồn của lòng yêu nước. Còn làm như thế nào, đó là việc mà các nhà sử học, các nhà giáo dục học, nhà trường và gia đình, bản thân mỗi người, với lòng yêu nước và trách nhiệm cao cả đều sẽ phải làm.
- Vâng, xin cám ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện. Xin chúc Giáo sư một năm mới an lành.
                                                                         HỒNG MINH thực hiện

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Bà mẹ ông Nguyễn Thụy ( Tư liệu viết tay của nhà sử học Đặng Huy Vận)

(Đây cũng là một bài lấy từ blog yahoo)
Dec 15, 2009 4:05 PMFriendPageviews 00
 
Trót uống cốc nước trà lúc tối, không ngủ được nên gõ lại bài này ( vừa là khỏi thất lạc, vừa là để phổ biến tư liệu lịch sử)
" Bà quê ở phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, là người hiền hậu, dạy con rất nghiêm, khác hẳn với một số phụ nữ đương thời, không phải mong cho con sau này đỗ đạt làm quan hà hiếp bóc lột nhân dân mà muốn cho con làm được việc có ích cho dân, cho nước. Dưới triều Nguyễn, nhân dân ta rất điêu linh cực khổ, bọn quan lại cường hào thi nhau hà hiếp áp bức nhân dân. Đến khi thực dân Pháp đánh chiếm nước  ta thì chúng lại quỳ gối xin hàng, quay lại đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân để mong chút cơm thừa canh cặn. Dưới ách thống trị của đế quốc Pháp, nhân dân ta càng khốn đốn cực khổ. Con bà, ông Nguyễn Thụy học rất thông minh, đậu cử nhân rất sớm nhưng không chịu ra làm quan với giặc. Tuy nhà nghèo, bà đã già mà vẫn phải làm ăn lam lũ, nhưng bà rất tán thành và khuyên con mở trường dạy học, giúp đỡ dân làng. Ông Cử Nguyễn Thuy lại sớm tiếp thu được trào lưu tư tưởng mới, bên cạnh việc mở trường dạy học, ông đã tham gia phong trào Duy Tân, Đông Du và là một trong những người hoạt động tích cực nhất hồi đó. Gia đình bà vì vậy cũng là nơi đi về hội họp của các đồng chí của con. Mặc dù nguy hiểm nhưng bà không những không cản trở mà còn hết sức giúp đỡ. Năm 1908, phong trào chống Thuế nổ ra sôi nổi và rầm rộ khắp miền Nam Trung bộ, ông Cử Thụy là một trong những người lãnh đạo nên bị địch bắt và đầy ra Côn đảo. Con bị đi đầy, đời sống của gia đình lại càng khốn khó, nhưng bà vẫn nhẫn nại chịu đựng, bà không những là nguồn an ủi của người con dâu xa chồng mà còn là người hết sức dạy dỗ các cháu nên người. Làng xóm có người trách bà là người không biết ngăn cản con nên già mà vẫn phảit cực khổ lam lũ, bà thường nghiêm nét mặt nói rằng: " Tôi có thể chịu khổ cực hơn nữa nếu con tôi giúp được việc nước. Mọi người nghe rất phục và từ đó dân làng hết sức giúp đỡ bà, nhưng không vì vậy mà bà phiền lụy mọi người, vì bà biết ai nấy đều thiếu thốn cơ cực như nhau cả.
Năm 1913, ông Nguyễn Thụy được tha về, nhưng 5 năm  ở Côn Đảo vẫn không làm ông sờn chí, gian khổ càng bồi dưỡng thêm lòng căm thù giặc của ông. Về đến nhà ông lại bí mật liên lạc với những người đồng chí cũ tiếp tục hoạt động. Ông đã cùng với Lê Ngung xây dựng lại chi bộ Việt Nam quang phục hội ở Quảng Ngãi và liên lạc với Thái Phiên tổ chức lại và âm mưu khởi nghĩa. Công việc của ông không dấu được bà mẹ kính mến. Mặc dù biết địch vẫn theo dõi, công việc của con rất nguy hiểm nhưng bà không hề ngăn trở mà còn hết sức khuyến khích giúp đỡ. Đến năm 1916, cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi... nhưng vì kế hoạch bị lộ ngay từ đầu nên thất bại nhanh chóng. Những người lãnh đạo phong trào như vua Duy Tân, Trần Cao Vân, Lê Ngung đều bị bắt. Ông Nguyễn Thụy trốn được, nhưng vì ông có đóng vai trò quan trọng trong cuộc khởi nghĩa nên chúng quyết định bắt mẹ ông để uy hiếp tinh thần ông. Chúng đã tra tấn bà vô cùng dã man để hi vọng lấy một lời khai của bà. Bà đã ngoài 70 tuổi. Mặc dù bị kìm kẹp tra tấn, nhưng bà vẫn nghiến răng chịu đựng không chịu nói nơi con trốn. Trước sau bà vẫn trả lời thẳng vào mặt chúng: " con tao đã lớn, biết lo trừ quân cướp nước đó là  làm việc phải. ta dẫu có chết mà con ta làm tròn nhiệm vụ của ông ấy ta cũng vui lòng..." Nhưng ông Nguyễn Thụy  thương mẹ chịu cực khổ nên ông đã ra thú để cứu mẹ. Và theo lời yêu cầu của ông, chúng cho ông được vào thăm mẹ. Thấy mẹ thân hình tiều tụy ông không giữ được mối thương tâm và khóc. Bà đã nghiêm nét mặt mắng:" mẹ có chết cũng không tiếc thân gì, nếu con làm tròn nghĩa vụ với dân , với nước và như thế mới là tròn chữ hiếu. Nay con lại đem thân nộp cho giặc thật uổng công ta nuôi dạy" Và sau đó bà chết ngay trong nhà giam. Tuy vậy, quân thù tàn bạo vẫn không vừa lòng đã quyết định xử tử ông. Rất tự hào về cái chết của mẹ, ông Nguyễn Thụy đã hiên ngang tiến ra pháp trường. Khi đi qua bãi sông Trà Khúc, nơi mà 8 năm trước giặc đã chém đầu 2 ông Bá Loan, Lê Khang, những người đồng chí của ông, ông xúc động ngâm 2 câu thơ... ( đến đây thì tài liệu hết. Khi nào tìm được thêm xin sẽ bổ sung sau)

Dấu ấn thời gian

( Đây là bài chuyển từ yahoo blog về.)
Jan 2, 2011 11:09 AMFriendPageviews 00

Hôm nay có lẽ cũng là một ngày đặc biệt: ngày 1 tháng 1 năm 11 của thế kỷ 21. Ngồi nhà một mình sau khi chát với cô bạn đang ở tận xứ sở của món Kim Chi tôi lại nảy ra một ý muốn tập hợp các ảnh của mình để xem dấu ấn thời gian đã để lại trên khuôn mặt mình như thế nào.
Đây là tấm ảnh duy nhất tôi được ngồi giữa bố và mẹ  và là tấm ảnh cuối cùng chụp chung với bố. Sau đó là chiến tranh rồi 4 năm sau thì bố ra đi mãi mãi.


Còn đây  là ảnh năm 17 tuổi, chụp trước khi vào Đại học, năm 1976

Còn đây là hình sau 4 năm đại học, trước khi tốt nghiệp. Các bạn tôi đều có danh vị trong xã hội, là bà cả rồi, chỉ có tôi vẫn chỉ là cô cho đến khi về hưu:))
Hình này chụp vào sinh nhật lần thứ 37

Còn đây là hôm nhận bằng thạc sỹ tháng 2 năm 1999 ( mặc dù bảo vệ từ cuối năm 1997)

Tết năm 2008
Vì bạn Dung khen mẹ tôi đẹp nên tôi post cái ảnh mẹ tôi lúc 17 tuổi lên. Tôi còn nhớ hồi 8 tuổi đi sơ tán theo bố  trên Đại Từ- Thái Nguyên bố luôn để cái ảnh này của mẹ trên bàn làm việc

Về chức danh “Viện sĩ” của GS Phan Huy Lê

Về chức danh “Viện sĩ” của GS Phan Huy Lê
Dec 7, 2012 2:39 PMPublicPageviews 14350
 Từ blog của Trương Nhân Tuấn 
( Bài viết này tôi đọc lâu rồi, nhưng vì ngày mai yahoo blog đóng cửa nên tôi copy về đây.)
Nhiều người mới đây cho rằng GS Phan Huy Lê mạo danh là “Viện sĩ Hàn lâm” sau khi GS được « Académie des Inscriptions et Belles-Lettres » phong làm « Membre Correspondant étranger » ngày 27-5-2011.
GS Phan Huy Lê có “mạo danh” hay không?
Bài viết này không nhằm tranh luận mà chỉ mạo muội đưa ra quan điểm của mình về cách dịch các danh từ học thuật nước ngoài, nhất là danh vị « Membre Correspondant étranger » của GS Phan Huy Lê.
 « Académie » tiếng Pháp, lấy hứng từ « jardin Akadêmos – vườn Akadêmos », là nơi mà Platon giảng dạy ; chữ nguyên bắt nguồn từ Latin « Academia », Grec « Akadêmia » (tự điển Grand Larousse Universel). « Académie » như vậy là « danh từ riêng », là « tên » của khuôn viên mà Platon đã dạy học ở đó, phải viết « Hoa ».
« Académie » được Pháp sử dụng để đặt tên cho « l’Académie française », thành lập năm 1635, là một định chế văn hóa Pháp, tập hợp một nhóm học giả uyên bác về các ngành văn học, nghệ thuật, triết học...  Hiện thời « L’Académie française » trực thuộc « Institude de France », Pháp quốc Học Viện. « L’Institude de France » bao gồm các viện học thuật khác như « l’Académie des inscriptions et belles-lettres »,  « l’Académie des sciences » (1666), « l’Académie des beaux-arts » và « l’Académie des sciences morales et politiques ».
Pháp quốc Học viện như vậy là nơi tụ tập thành phần tinh hoa Pháp, có thể đại diện cho văn hóa và văn minh Pháp.
Không biết từ khi nào, do ai, « L’Académie française » được dịch sang tiếng Hán-Việt là « Pháp quốc Hàn lâm viện », còn gọi là « viện Hàn lâm Pháp ». « Hàn lâm » nghĩa nguyên tiếng Hán là « rừng bút », trong khi TQ dịch là « Pháp quốc Học thuật viện ».
Cách dịch của VN theo lối « tương ứng », một danh từ riêng (khu vườn Akadêmos ) tương ứng với một danh từ riêng (viện Hàn lâm), một định chế học thuật VN với một định chế học thuật Pháp. Viện Hàn Lâm của VN được lập năm 1086 vào thời vua Lý Nhân Tông và Mạc Hiển Tích là vị Hàn Lâm Học Sĩ đầu tiên.
Trên tinh thần này thành viên của « l’Académie Française », tức « Académicien », được gọi là « Hàn lâm Học sĩ ».
Cách dịch của TQ theo lối « chuyển nghĩa », « l’Académie Française » là nơi tụ hợp các học giả uyên bác trong các ngành văn hóa nghệ thuật, được dịch thành « Pháp quốc học thuật viện ». Không cần tìm hiểu nước này dịch đúng nước kia dịch sai, mà quan trọng là bên nào « hiểu » đúng nhứt ý nghĩa nguyên thủy « Académie ».
« Académie » là một danh từ riêng, là một cái tên, thì làm sao dịch được ? Ta thấy VN dịch như thế không xa với nghĩa nguyên và mục tiêu của « Académie ». Viện Hàn Lâm là nơi tụ tập của « tinh hoa », những người « học cao hiểu rộng » của VN, thì đó cũng là ý nghĩa của « Académie française ».
Về tên thành viên, ta thấy cách dịch của TQ không « đẹp » bằng cách dịch của VN. TQ gọi là « Viện sĩ Pháp quốc Học thuật viện », trong khi VN gọi là «Hàn lâm Học sĩ ».
Tuy nhiên, từ « Académie » ở Pháp được sử dụng một cách rất phổ thông trong đại chúng. Ở cấp quốc gia đã đành, ở cấp tỉnh, huyện, thập chí làng xã, tư nhân… ở đâu cũng đều có thể sử dụng từ này để đặt cho cơ sở hoạt động của mình. Ta có thể gặp « Académie de danse – Khiêu vũ Học viện », « Académie de la musique – Âm nhạc học viện » trong các khu phố địa phương. Vì thế cách dịch của VN sẽ gặp khó khăn nếu nơi nào cũng đưa một cách máy móc « Hàn lâm » vào.
Vì vậy, thiển nghĩ cần đặt một « qui ước ». Ở đây, nếu là « Académie » trong « l’Académie Française » thì mới được dịch là « Hàn lâm ». Académie trong các nơi khác thì nên dịch là « viện » hay « học viện ».
GS Phan Huy Lê được phong làm « Membre Correspondant étranger » của « Académie des Inscriptions et Belles-Lettres ». Như vậy nên gọi GS PH Lê thế nào cho chỉnh ?
« Académie des Inscriptions et Belles-Lettres », được tự điển Bách khoa VN dịch là  « Viện Hàn lâm các Văn khắc và Mỹ văn », trực thuộc « Institude de France – Pháp quốc Học viện ». Viện này do 4 Hàn lâm Học sĩ (Académicien) điều hành, còn gọi là « Petite Académie », tức « Tiểu Hàn lâm ».
Ta có thể gọi thành viên của Viện này là Hàn lâm Học sĩ ?
Câu trả lời là « được », vì các thành viên của viện này, cũng như thành viên các viện khác trực thuộc Pháp quốc Học viện đều được gọi là « académicien ».
Tuy vậy, có sự phân biệt hết sức ý nhị về tư cách thành viên « Hàn lâm Học sĩ » thuộc « Académie Française » và các thành viên thuộc 4 Viện còn lại. Để phân biệt, tôi cho rằng ta có thể đặt « Hàn lâm Thái Học sĩ » cho thành viên của Viện Hàn lâm và « Hàn lâm Thiếu Học sĩ » cho thành viên của « tiểu » Hàn lâm (Académie des Inscriptions et Belles-Lettres).
Vấn đề phức tạp hơn, « Académie des Inscriptions et Belles-Lettres », ngoài 50 thành viên chính thức người Pháp gọi là « Académicien – Hàn lâm Học sĩ », thì còn có 40 các thành viên  associés étrangers, 50 thành viên correspondants français và 50 thành viên correspondants étrangers.
Những người này có thể gọi là « Hàn lâm Học sĩ » không ?
Từ « Membre associé étranger » có thể dịch là « thành viên hợp tác nước ngoài ». Theo phần giải thích về « membre » của Viện, các thành viên « associés » được tuyển chọn từ các nhân vật thuộc các Viện tương đương của nước ngoài. Do đó tư cách thành viên « associé – hợp tác » được xem như tương đương với thành viên chính thức « académicien ».
Tôi mạo muội dịch « thành viên hợp tác nước ngoài » là « Hàn lâm Ngoại quốc Hợp (hay hiệp) Học sĩ », gọi tắc « Hàn lâm Hiệp Học sĩ ».
Còn « membre Correspondant étranger » thì dịch như thế nào ?
Trong nước dịch là « thành viên thông tấn nước ngoài ». Tôi thấy rằng dịch chữ « correspondant » thành « thông tấn » trong trường hợp này không ổn.
Từ « correspondant » có nguồn từ « correspondre », ngoài ý nghĩa thư tín, liên lạc, còn có nghĩa khác là « tương ứng ».
Ta thấy « étude par correspondance » thì dịch là « học hàm thụ », tại sao « membre correspondant » thì dịch là « thành viên thông tấn » ?
Theo tôi, « correspondant étranger » có thể dịch thành « thông tấn nước ngoài » cho trường hợp báo chí. Tư cách thành viên báo chí « correspondant étranger » ngoài tư cách « nhà báo » ngang hàng với tư cách các nhà báo khác ở trụ sở chính của hãng thông tấn, thành viên này còn có tư cách « đại diện » của hãng thông tấn. Do đó « thành viên thông tấn » có « tư cách » cao hơn nhà báo thông thường.
Trong trường hợp thành viên « Correspondant étranger » của « Académie des Inscriptions et Belles-Lettres », muốn dịch chính xác ta phải hiểu tư cách và nhiệm vụ của thành viên này là như thế nào đối với Viện.
Thành viên « Correspondant étranger » được Viện định nghĩa như sau :
« Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux ; choisis par les académiciens, ils constituent un vivier de personnalités de premier plan parmi lesquelles l’Académie a pris l’habitude de recruter souvent ses nouveaux membres. »
Tạm dịch : Về thành viên « correspondant », những người này phụ trách công việc truyền tải các thông tin khoa học của Viện đồng thời dự phần vào đời sống cũng như các công trình của Viện. Thành viên này được các Hàn lâm Học sĩ tuyển chọn. Tập hợp người này tạo thành một nơi dự trữ người tinh hoa mà Viện Hàn lâm có thói quen tuyển chọn thành viên.
Như vậy thành viên này có tư chất « tương ứng » với Hàn lâm Học sĩ. Hàn lâm Học sĩ được tuyển chọn đa số là từ những thành viên này. Họ cũng dự phần vào « đời sống » của Viện, tức một thành phần bất khả phân của Viện. Ngoài ra họ còn góp phần thực hiện những công trình nghiên cứu của Viện.
Theo Pháp-Việt Tân tự điển của Thanh Nghị, thành viên « correspondant » của các hiệp hội bác học (société savante) thì gọi là « danh thành viên ».
Tôi mạo muội đặt là : « Hàn lâm Ngoại quốc Danh Học sĩ », gọi tắt « Hàn lâm Danh Học sĩ ».
Gọi « Viện sĩ Thông tấn » là không đủ nghĩa.
Vì vậy tôi cho rằng GS Phan Huy Lê không « mạo nhận » danh nghĩa « viện sĩ » của ai hết. Phẩm chất và tài năng của GS PH Lê đã hội đủ tiêu chuẩn, do đó được các Hàn lâm Học sĩ thuộc Viện Hàn lâm Pháp tuyển chọn. Chưa thấy ai đặt nghi vấn về việc này.
Chức danh của GS Phan Huy Lê tại « Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn » là « Hàn lâm Danh Học sĩ ».

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

Tưởng nhớ GS Sakurai Yumio- một trong những nhà Việt Nam học hàng đầu của Nhật Bản


Nguồn: http://ivides.vnu.edu.vn/vi-VN/t221c331p795/Mot-so-hinh-anh-hoat-dong-cua-GS-SAKURAI-Yumio-tai-Viet-Nam.htm#.UPJ6Om83uM4


GS. SAKURAI Yumio mất đi là một tổn thất vô cùng to lớn đối với gia đình và các đồng nghiệp tại Nhật Bản; Ở Việt Nam, chúng tôi mất đi một người người Thầy mẫu mực, một người đồng nghiệp gắn bó, một người bạn lớn chân tình, sắt son, đã dành cho ngành Việt Nam học nói riêng, cho đất nước, nhân dân Việt Nam nói chung những tình cảm đặc biệt quý mến. Chúng tôi biết ơn Giáo sư vì những thành tựu đóng góp đặc biệt, không mệt mỏi cho ngành Việt Nam học tại Việt Nam và trên thế giới.


GS. SAKURAI Yumio mất đi là một tổn thất vô cùng to lớn đối với gia đình và các đồng nghiệp tại Nhật Bản; Ở Việt Nam, chúng tôi mất đi một người người thầy mẫu mực, một người đồng nghiệp gắn bó, một người bạn lớn chân tình, sắt son, đã dành cho ngành Việt Nam học nói riêng, cho đất nước, nhân dân Việt Nam nói chung những tình cảm đặc biệt quý mến. Chúng tôi biết ơn Giáo sư vì những thành tựu đóng góp đặc biệt, không mệt mỏi cho ngành Việt Nam học tại Việt Nam và trên thế giới.
Đối với cán bộ, sinh viên Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, giáo sư SAKURAI Yumio còn là Giáo sư danh dự của Đại học Quốc gia Hà Nội, giáo sư kiêm nhiệm thường niên của Viện. Thông báo về sự ra đi đột ngột của Giáo sư đến chúng tôi khi học viên chuyên ngành Việt Nam học đang háo hức chuẩn bị đón Giáo sư sang Việt Nam để giảng dạy chuyên đề Lý thuyết và Phương pháp nghiên cứu Khu vực học vào ngày 20/12/2012. Không ai muốn tin rằng thông báo đau buồn này là sự thật.
Toàn thể cán bộ, viên chức và học viên của Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển tin tưởng rằng, Phu nhân và gia đình sẽ vượt qua mất mát to lớn này giống như ý chí luôn luôn vượt lên mọi hoàn cảnh của GS. SAKURAI Yumio mà tất cả chúng ta đều kính trọng.
Cầu chúc cho Giáo sư yên giấc ngàn thu.
Dưới đây là một số hình ảnh của GS tại Viện nói riêng và các hoạt động khoa học & đào tạo ở Việt Nam nói chung:

GS SAKURAI Yumio cùng với GS Phan Huy Lê, GS Vũ Minh Giang, GS Đoàn Thiện Thuật
Đi điều tra tại Hà Nội










Hướng dẫn thực địa cho học viên cao học chuyên ngành Việt Nam học của Viện tại Nam Định



Chụp ảnh lưu niệm với học viên sau khi kết thúc chuyên đề
Tại Phủ Chủ tịch trong dịp Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 
Giảng dạy
Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 
Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 



HTQT Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội: Văn hiến, anh hùng, vì hòa bình (10/10/2010)
Cùng với các cán bộ và nhân viên của Viện VNH&KHPT, HTQT Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội: Văn hiến, anh hùng, vì hòa bình
Trung tâm Hội nghị Quốc gia (HTQT Việt Nam học lần thứ 4)
Phát biểu tại tiểu ban "Các vấn đề nghiên cứu khu vực", HTQT Việt Nam học lần thứ 4

Với cá nhân tôi- chủ nhân trang blog này, tôi thật sự không ngờ đấy là tấm ảnh cuối cùng tôi được chụp cùng GS tại Hội thảo quốc tế Việt nam học lần thứ IV tại Hà Nôi từ 26-29/ 11/2012




NHÌN NHẬN TRƯƠNG VĨNH KÝ THẾ NÀO CHO ĐÚNG? *

                                              Hoàng Văn Lân và Đặng Huy Vận   I. Q uan điểm xét vấn đề B ước vào nửa sau thế kỷ XIX, với sự ...