Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

Báo chí tiếng Việt nửa đầu thế kỷ XX với phong trào phụ nữ thế giới *


Đặng Thị Vân Chi


 Dẫn nhập
            Cho tới những năm đầu thế kỷ XX về cơ bản Việt Nam vẫn còn là một quốc gia khép kín, tự cô lập mình với thế giới bên ngoài bởi các chính sách đóng cửa, “ bế quan tỏa cảng” của nhà nước phong kiến triều Nguyễn. Ngoài ra, việc hầu hết dân chúng không biết chữ, báo chí chưa ra đời đã đưa đến một hệ quả là không chỉ đa số người dân không biết đến một thế giới khác ngoài cuộc sống thường ngày của họ mà ngay cả những quan chức của nhà nước như Tri phủ Hoài Đức Trần Tán Bình lần đầu tiên sang Pháp năm 1906, khi về nước cũng phải thốt lên: “ Những điều tôi trông thấy thì từ xưa thật chưa từng trông thấy bao giờ, những nhời tôi nghe thấy từ xưa chưa từng nghe thấy bao giờ…” [Đăng cổ tùng báo-11/4/1907]
            Đầu thế kỷ XX, cùng với những thay đổi trong xã hội Việt Nam trên tất cả các mặt dưới tác động của các chương trình khai thác thuộc địa, chính sách văn hoá, giáo dục của Pháp và ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng dân chủ và cách mạng trên thế giới, ở Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện những tờ báo tiếng Việt do các trí thức thức thời (cả trí thức Nho giáo lẫn trí thức Tây học) chủ trương. Ngay từ đầu thế kỷ XX, mặc dù báo chí tiếng Việt còn rất ít ỏi, nhưng trên những tờ báo hiếm hoi này, nhiều vấn đề của đời sống xã hội đã được đề cập đến và được thảo luận như giới thiệu những tư tưởng mới, phê phán tập tục cũ, lạc hậu, những thói hư tật xấu của người dân. Đến những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, báo chí tiếng Việt có sự phát triển mạnh mẽ. Năm 1922 cả nước có 19 tờ báo Tiếng Việt, đến năm 1925 có 25 tờ, năm 1927 có 36 tờ và năm 1929 có 47 tờ báo. Trong những năm 1930 bên cạnh  khoảng 30 tờ báo có từ trước đã có thêm khoảng 180 tờ báo mới ra đời. Đến năm1939, vào thời điểm trước cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, số báo tiếng Việt và song ngữ Pháp - Việt trên toàn Đông dương là 120 tờ.
         Báo chí không chỉ mang lại tin tức, chia sẻ những sự kiện xảy ra hàng ngày từ khắp nơi trên thế giới, cũng như khắp mọi miền của đất nước, đưa người dân đến với những tư tưởng, tri thức mới… mà báo chí còn liên kết người dân trong những mối quan tâm chung, giúp họ cùng nhau nhận thức về một thế giới mới, tạo ra một không gian văn hóa tư tưởng, một diễn đàn để  mọi người có thể bày tỏ ý kiến, thảo luận các vấn đề thu hút sự quan tâm chung của cộng đồng.
         Đặc biệt, đối với phụ nữ Việt Nam, những người do ảnh hưởng của Nho giáo vốn chỉ được coi là người của gia đình, suốt đời phụ thuộc vào người đàn ông ( cha- chồng và con trai) trong suốt cuộc đời họ, không có tiếng nói riêng cũng như chưa bao giờ được tham gia vào bộ máy quyền lực ở bất cứ cấp nào thì báo chí đã thực sự mở ra cho họ những cánh cửa đi vào một thế giới mới, cho họ những cơ hội tiếp cận, hiểu biết về những người chị em của họ trên khắp thế giới, cho họ nguồn động lực để đấu tranh vì quyền lợi của bản thân và của giới mình.
1.  Giới thiệu trào lưu tư tưởng mới - các lý thuyết về nữ quyền.
         Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ Việt Nam được giáo dục để thấm nhuần tư tưởng và đạo đức Khổng giáo, coi “Nam tôn, nữ ty” như là một điều hiển nhiên và “tam tòng”, “tứ đức”[1] là những nguyên tắc bất di bất dịch thì đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên qua báo chí họ có cơ hội tiếp cận với các tư tưởng về “nữ quyền”, quyền bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ…
         Mặc dù thuật ngữ “nữ quyền” xuất hiện trên báo chí Việt Nam từ khá sớm[2], nhưng cho đến năm 1917, trước khi chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc, các trí thức Việt Nam vẫn chưa đề cập đến những vấn đề căn bản của khái niệm này. Năm 1918, trên báo Nữ giới chung - tờ báo phụ nữ đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam – khái niệm nữ quyền đã được thảo luận sôi nổi. Thời kỳ này, nhận thức về khái niệm “ nữ quyền” còn hết sức mơ hồ như có ý kiến chung chung như: Nữ quyền “ không phải như viên đá tròn, không phải như cây gỗ dài, không phải như cái thước lục lăng bát giác… là một thứ không hình chất, mà rõ rang, có giá trị, có thể lực, có văn vọng…làm người ta kính, người ta sợ, người ta yêu, người ta mến, người ta quý hóa tham chuộng …”[ Nữ giới chung-15/3/1918]. Tuy nhiên có thể thấy, khái niện nữ quyền được hầu hết những người tham gia thảo luận cho rằng đây là một khái niệm đến từ phương Tây và do trình độ phụ nữ ở Việt Nam còn thấp nên việc truyền bá tư tưởng nữ quyền là không có lợi.  Mặc dù nội dung của khái niệm này vẫn được hiểu một cách mơ hồ thì cuộc thảo luận về khái niệm nữ quyền này cũng đã phản ánh ảnh hưởng của phong trào nữ quyền thế giới đối với các trí thức Việt Nam trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX.
       Sau chiến tranh Thế giới thứ nhất, đặc biệt trong những năm 1930, cùng với sự phát triển của phong trào phụ nữ quốc tế, báo chí Việt Nam có nhiều bài giới thiệu về lý thuyết nữ quyền cụ thể hơn và phân tích những nội dung căn bản của lý thuyết nữ quyền tự do như vấn đề giáo dục phụ nữ, vấn đề phụ nữ chức nghiệp, vấn đề quyền bầu cử của phụ nữ… Những nội dung này được thảo luận trên báo chí khá sôi nổi trên các diễn đàn phụ nữ như mục Nhời đàn bà, các trang Phụ nữ… đặc biệt là trên những tờ báo phụ nữ như Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Đàn bà mới
       Cũng từ năm 1930, cùng với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên báo chí đã xuất hiện cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng nữ quyền tự do và khuynh hướng nữ quyền mác – xít. Những nhà báo cộng sản đã khéo léo gửi bài vào các tờ báo hợp pháp, giới thiệu những luận điểm cơ bản của thuyết nữ quyền mác xít và khẳng định: trong các nước thuộc địa như Việt Nam, muốn giải quyết vấn đề phụ nữ, muốn thực hiện bình đẳng nam nữ trước hết phải làm cách mạng giải phóng dân tộc.
          Bài báo đầu tiên viết theo khuynh hướng này là bài “Tiếng Oanh kêu đàn” của Lý Ngọc Trinh từ Nam Kinh gửi về đăng trên Phụ nữ tân văn số ra ngày 6/12/1934. Bài báo vạch ra những hạn chế của cuộc vận động giải phóng phụ nữ được đề cập trên báo chí từ trước tới nay chỉ là những lời “bàn suông”. Tác giả bài báo khẳng định quan điểm cho rằng: vấn đề phụ nữ có quan hệ với vấn đề xã hội, khi vấn đề xã hội chưa được giải quyết thì vấn đề phụ nữ cũng khó có thể giải quyết triệt để. Hai khuynh hướng vận động phụ nữ, một cổ động phụ nữ trở thành mẹ hiền, vợ giỏi theo lối tân thời, một hô hào nữ quyền theo nghĩa giản đơn, hẹp hòi đều không phải là cách để giải phóng phụ nữ. Do đó: “Điều cần yếu nhất của sự vận động phụ nữ là phải thâm nhập quần chúng. Trước hết mưu dân tộc giải phóng, sau sẽ đạt tới nhân loại giải phóng” [Phụ nữ tân văn-6/12/1934]. Để có thể giải phóng phụ nữ thật sự cần phải có phương pháp chỉ đạo, vì nếu “không có phương pháp giải phóng triệt để thời có khác gì thoát khỏi vòng nô lệ này lại hãm vào vòng nô lệ khác. Và điều quan trọng là phải làm cho phụ nữ có tinh thần dân tộc”. Trong điều kiện xã hội Việt Nam “cuộc vận động giải phóng phụ nữ ngày nay không thể đứng riêng ngoài cuộc tranh đấu của giai cấp” [Zân báo-21/ 10/ 1933].
         Bài Vấn đề phụ nữ giải phóng khẳng định: dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, khi xã hội còn đối kháng giai cấp, “phụ nữ chưa hoàn toàn giải phóng được.”[ Dân chúng 7/12/1938]. Trong bài Con đường giải phóng phụ nữ. Sự nô lệ của phụ nữ. Nô lệ bởi dị tính hay nô lệ bởi giai cấptrên báo Ngày mới số 10 tháng 7/1939, tác giả Kim Anh[3] phân tích việc phụ nữ không được bình đẳng với nam giới không phải là do giới tính mà là do “ách chuyên chế, bóc lột” của bọn tư bản hay điền chủ. “Trong cùng một giai cấp, trong một gia đình, phụ nữ vẫn bị đè bẹp dưới ách nô lệ của đàn ông” là vì phụ nữ bị phụ thuộc vào nam giới về kinh tế. Tác giả khẳng định: “phụ nữ là một nửa phần nhân loại...Nhân loại có giải phóng thì phụ nữ mới được giải phóng. Cho nhân loại được giải phóng chỉ có một con đường: Chủ nghĩa xã hội. Thế thì chủ nghĩa xã hội chính là con đường giải phóng duy nhất của phụ nữ.
            Như vậy, rõ ràng là qua báo chí, hệ thống quan điểm về nữ quyền, giải phóng phụ nữ được giới thiệu và thảo luận sôi nổi. Nhận thức của xã hội nói chung và của  phụ nữ nói riêng về vấn đề phụ nữ sẽ là nền tảng quan trọng để phụ nữ dấn thân vào cuộc đấu tranh vì quyền con người và quyền phụ nữ.
2. Mở rộng tầm nhìn, học tập từ phong trào phụ nữ thế giới - tấm gương cổ vũ phụ nữ Việt Nam đấu tranh vì quyền phụ nữ
          Bên cạnh việc phổ biến các lý thuyết về nữ quyền, báo chí cũng dành nhiều bài giới thiệu về phong trào phụ nữ thế giới.
         Các bài viết được thể hiện theo hai khuynh hướng: hoặc chỉ đơn thuần giới thiệu như những tin tức thời sự quốc tế và đưa tin thông thường, hoặc giới thiệu phong trào phụ nữ quốc tế như tấm gương nhằm cổ vũ phụ nữ Việt Nam tham gia các hoạt động xã hội, đấu tranh vì quyền bình đẳng nam nữ. Khuynh hướng thứ hai phổ biến hơn và thường tập trung trong các tờ báo cách mạng hoặc những tờ báo của các trí thức yêu nước phát hành. Đây là nhóm những người chủ trương dùng báo chí làm phương tiện tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của thực dân Pháp. Họ ý thức được vai trò của phụ nữ trong cuộc đấu tranh này và mối quan hệ khăng khít giữa giải phóng dân tộc và giải phóng phụ nữ. Đặc biệt trong điều kiện Việt Nam, độc lập dân tộc được coi là điều kiện tiên quyết để thực hiện nữ quyền và bình đẳng nam nữ.
       Tờ báo đầu tiên giới thiệu có hệ thống phong trào phụ nữ thế giới theo khuynh hướng này là tờ báo Thanh niên[4] do Nguyễn Ái Quốc xuất bản tại Quảng Châu, Trung Quốc. Tờ báo này được sử dụng như những tài liệu học tập trong các lớp huấn luyện tại Quảng Châu những năm 1926-1927 và là tài liệu truyền bá chủ nghĩa Mác- Lê nin vào Việt Nam. Chỉ trong vòng 10 số báo từ số 63 đến số 73 đã có tới 7 số báo giới thiệu về phong trào phụ nữ thế giới như phong trào phụ nữ các nước Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc. Nội dung của các bài báo này là giới thiệu lịch sử của phong trào phụ nữ, rút ra những bài học kinh nghiệm, qua đó giáo dục, động viên, tổ chức phụ nữ tham gia đấu tranh. Nguyễn Ái Quốc được đánh giá là người có vai trò lớn trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lê nin vào Việt Nam và là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Đối với vấn đề phụ nữ, những luận điểm của Nguyễn Ái Quốc đã trở thành những luận điểm cơ bản của đường lối vận động phụ nữ của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
            Các bài báo trên báo Thanh niên cho thấy phụ nữ các nước đang tham gia vào mọi hoạt động trong xã hội và đã có đóng góp không nhỏ vào các phong trào đấu tranh vì sự công bằng và phát triển xã hội. Ví dụ như  phụ nữ Anh tham gia vào mọi hoạt động của đất nước: Làm việc trong các nhà máy, hầm mỏ, lái máy bay, tàu thuỷ, làm việc trong ngân hàng, bệnh viện, trong các toà báo... kể cả trong các hoạt động chính trị, phụ nữ Anh có 815.134 người tham gia Đảng Lao Động Anh… Phụ nữ Anh đã có những hoạt động ủng hộ tích cực phong trào bãi công của công nhân đào than (“Hội Đàn bà đã góp được 1.550.000 đồng để giúp”... [Thanh niên số 65- ngày 17/10/1926])... phụ nữ Nga có tới “hàng trăm nghìn làm nghị viên”. Hoặc giới thiệu mục đích của phong trào phụ nữ Pháp là “cốt được cái chính trị và kinh tế đều bình đẳng như đàn ông mà lại đòi cho đàn bà tham gia vào quốc dân đại hội”[Thanh niên số 67 ngày 31/10/1926].
          Đối với phong trào vận động phụ nữ Trung Quốc, sau khi trình bày sơ lược lịch sử phát triển, Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra những hạn chế của phong trào phụ nữ Trung Quốc trong từng thời kì. Ví dụ như thời kì Cách mạng Ngũ tứ, phong trào vận động phụ nữ chưa chỉ rõ kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, tổ chức chưa nghiêm ngặt, đặc biệt chưa làm rõ mối quan hệ giữa vận động phụ nữ với vận động cách mạng. Còn trong thời kì thứ ba, phong trào phụ nữ Trung Quốc tuy đã yêu cầu bình đẳng nam nữ trong vấn đề giáo dục, kinh tế và chính trị, nhưng chưa có phương pháp vận động thích hợp... Qua việc giới thiệu và rút kinh nghiệm phong trào phụ nữ các nước, Nguyễn Ái Quốc gián tiếp vạch ra đường lối vận động cách mạng và vận động phụ nữ Việt Nam.
   Khi giới thiệu thành tựu của phong trào phụ nữ, tác giả bài báo đặt câu hỏi:
        Sao đàn bà nước Nga giỏi như thế?
         Vì nước Nga cách mạng thành công rồi.
            Sao đàn bà ta không được học vấn tư tưởng?
            Vì không được tự do.
             Sao mà không được tự do?
             Vì nước ta bị Pháp cướp 
          Nay muốn có tư tưởng, học vấn được tự do thì nhất định trước phải cách mạng. Nếu chưa cách mạng cho được cả nước, thì mình cũng phải gắng mà cách mạng tự mình nghĩa là bỏ phần nết xấu, học thêm thói tốt vào”[Thanh niên-3/10/1926].
  Ở trong nước, cũng ngay từ năm 1927, trên tờ Đông Pháp thời báo do những trí thức yêu nước như Trần Huy Liệu, Nguyễn Kim Đính làm chủ bút cũng có bài giới thiệu về phong trào phụ nữ Nga Xô viết, giới thiệu về những thay đổi mà Cách mạng tháng Mười đã đem lại cho phụ nữ Nga. Đó là: “Những nhà của thợ thuyền có tiệm cơm chung, những nhà  Ấu Trĩ... trong nhà quê, ngoài tỉnh thành lần lần sẽ xây dựng để người đàn bà nội trợ đỡ phải nô lệ bếp gia đình, đỡ phải giặt đồ, rửa chén... làm cho người đàn bà bình đẳng với người đàn ông trong các phương kế sinh nhai.. cho người đàn bà được rộng quyền giúp đỡ về đường chính trị trong nước...” [Đông Pháp thời báo-27/11/1927]
  Trong những năm 1930, khi phong trào nữ quyền trên thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, cuộc đấu tranh của phụ nữ các nước- đặc biệt cuộc đấu tranh đòi quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ thường được giới thiệu trên các trang phụ nữ của các tờ báo hoặc mục giới thiệu tình hình, tin tức quốc tế của các tờ nữ báo. Không chỉ có tình hình phong trào phụ nữ Pháp được giới thiệu cụ thể từng bước phát triển như việc tường thuật chi tiết cuộc thảo luận tại Thượng nghị viện Pháp về việc thông qua quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ, mà còn giới thiệu phong trào phụ nữ của các nước trong khu vực như Nhật Bản [Thời báo-15-16/1/1931], Trung Quốc, Malaixia ... Phong trào phụ nữ Mỹ, Anh, Đức, Ý, Thổ Nhĩ kì, Iran... đặc biệt là phụ nữ Xô Viết được nhiều báo giới thiệu. Báo Tràng An giới thiệu về “Phụ nữ Nga Xô viết” ca ngợi quan điểm của Lênin “một người làm bếp cũng cần biết tham dự việc nước”. Sau khi trình bày tình cảnh của người phụ nữ Nga dưới chế độ Sa Hoàng, tác giả khẳng định “Người đề xướng chủ nghĩa cộng sản lại là một vị cứu tinh cho phụ nữ nước Nga” bởi sau khi giành chính quyền mấy tháng “Lý Ninh( Lê nin-ĐTVC) đã nghĩ ngay đến việc giải phóng phụ nữ nước Nga. Các luật về sự kết hôn đều có sửa lại cho dễ dãi và gọn gàng...” [Tràng An -2/7/1935]. Trong các bài viết giới thiệu về phong trào phụ nữ thế giới, các báo thường có so sánh với phụ nữ Việt Nam và thường có những lời bình luận khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, khích lệ tinh thần phấn đấu vươn lên của phụ nữ Việt Nam. Ví dụ báo Đàn Bà Mới (ĐBM) đã giới thiệu những con số thống kê về phụ nữ Nga tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, những tấm gương phụ nữ đạt những thành tích cao trong hoạt động chính trị, nghiên cứu khoa học, thể thao... và bình luận “nếu những cô Nga trên này mà nhìn thấy phụ nữ Việt Nam hiện nay mới đang tập kẻ lông mày và mặc áo tân thời để làm giáng (làm dáng) với đàn ông không biết các cô nghĩ thế nào? Từ cuộc cách mạng 1917 đến nay, phụ nữ Nga đã bước một bước dài trên đường giải phóng” [Đàn bà mới- 8/6/1936]. Báo Tân thời giới thiệu việc phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ đã giành được quyền bầu cử và ứng cử cũng bình luận “Hai mươi năm trước họ không được để mặt trần đi ra ngoài, rồi ngày nay họ được giải phóng thế kia thì ta thấy họ tấn hoá mau chóng quá. Nước Pháp đã mang tiếng là một nước văn minh sớm thế mà phụ nữ Pháp bây giờ đâu có bằng phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ được, đừng nói chi đến chị em nước nhà mình mà thêm tủi hổ” [Tân thời -25/4/1935]. Báo Hoàn cầu tân văn ngày 13/10/1934 có bài giới thiệu về lịch sử cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ về mặt luật pháp của phụ nữ Anh và nhấn mạnh “phụ nữ muốn có quyền lợi phải tranh đấu”. Báo Đông Pháp đánh giá “cuộc tiến hóa của chị em nước Mỹ trong 80 năm vận động nữ quyền thật đã đạt tới hoàn mỹ
            Các tờ báo phát hành công khai và các tờ báo phụ nữ cũng dành nhiều trang cho việc giới thiệu những phụ nữ tiêu biểu trong phong trào phụ nữ thế giới.
           Cuộc đời hoạt động của các bà Macgorit, bà Irene Joliot Cuirie, bà Elenor Rooseven, Krupskaia, Trịnh Dục Tú, Tống Khánh Linh,...được nêu lên như những tấm gương hoạt động nữ quyền. Báo chí cũng giới hiệu những người phụ nữ hoạt động trong lĩnh vực báo chí như các bà Louise Weiss -“ một người đàn bà đáng gọi là hoàn toàn cả tài trí lẫn đức hạnh”- là người xuất bản tạp chí Europe Nouvell; bà Lone Brunshwicg - chủ nhiệm báo La Francaise, sáng lập viên Union Francaise pour le sufrage de femmes ( Hội liên hiệp phụ nữ đòi quyền bầu cử), bà luật sư Maria Verone “hàng tuần vẫn cổ động phụ nữ nước Pháp bằng những bài luận đanh thép đăng trong báo L Europe”[Đàn bà mới- 2/3/1935]...
         Sau khi giới thiệu thân thế, sự nghiệp của các bà Rose Lacombe, Olympe de Gouges, Theroinge- những người phụ nữ đấu tranh cho quyền con người và quyền phụ nữ trong cuộc cách mạng tư sản Pháp, tác giả Lệ Minh Đường nhận xét: “ở đời nghịch cảnh vẫn nhiều hơn thuận cảnh, chị em đã biết lợi dụng phong trào mà vẫy vùng cho thoả chí như thế thật đáng làm gương cho muôn đời, chớ hay gì, can đảm gì mà sau khi thất vọng vì cảnh éo le, rồi gieo mình xuống giòng (dòng) nước, treo cổ trên nhành cây, mượn á phiện và giấm thanh, dùng các thứ độc dược mà huỷ kiếp sống thừa. Đem cái chết ấy mà sánh với cái chết của những vị nữ anh hùng trên kia thì một đáng khinh hết sức, mà một bên đáng trọng vô cùng. Chị em hãy biết tìm chỗ đáng chết mà đi vô đừng huỷ bỏ kíp đời một cách lạt lẽo với những cái chết khiếp nhược’ [Tân thời -11/4/1935]. Các tác phẩm kinh điển của các nhà nữ quyền thế giới như John Stuart Mill cũng được giới thiệu hoặc trích dẫn trong các bài viết hoặc sách viết về vấn đề phụ nữ.
          Tin tức các Hội nghị phụ nữ thế giới cũng được giới thiệu trên báo chí. Phụ nữ tân văn ngày 4/6/1931 giới thiệu về hội nghị phụ nữ châu Á họp tại La Hore Ấn Độ ngày 19-25/1/1931. Bài báo cho biết hội nghị đã thu hút được sự tham gia của hầu hết các nước Châu Á như phụ nữ Trung Quốc, Tây Tạng, Ấn Độ, Ba tư, Tây Á lợi Á. Việc chưa có đại diện của phụ nữ Việt Nam được tác giả bài báo cho là: “Đáng thương, đáng tủi cho danh phận của phụ nữ Việt Nam lắm”. Bài báo cũng giới thiệu mục đích của Hội nghị, chương trình nghị sự và nghị quyết của hội nghị về các vấn đề quan hệ tới phụ nữ như vấn đề giáo dục cho phụ nữ, vấn đề sức khỏe, quyền trẻ em, quyền lao động… đặc biệt “ không thừa nhận làm đĩ là một nghề
          Báo Hoàn cầu tân văn ngày 20/11/1934 đưa tin về hai cuộc hội nghị phụ nữ ở Pháp với nội dung vận động giải phóng phụ nữ, đặc biệt cuộc hội nghị phụ nữ vận động giải phóng toàn thế giới kêu gọi phụ nữ tranh đấu chống nạn phát xit và chiến tranh…
          Qua báo chí, phong trào phụ nữ thế giới đã tác động tới phong trào phụ nữ Việt Nam, đưa cuộc vận động phụ nữ ở Việt Nam trở thành một bộ phận của phong trào phụ nữ quốc tế.
3. Ảnh hưởng của phong trào phụ nữ thế giới đối với cuộc vận động giải phóng phụ nữ ở Việt Nam
         Từ đầu thế kỷ XX, báo chí đã giúp phụ nữ Việt Nam tiếp cận với những tư tưởng dân chủ, nữ quyền và giải phóng phụ nữ. Báo chí với các mục Nhời đàn bà và dòng báo phụ nữ đã tạo ra một không gian cho phụ nữ được nói lên tiếng nói của mình về các vấn đề liên quan tới cuộc sống của họ. Những cuộc thảo luận trên báo chí về vấn đề phụ nữ đã thúc đẩy xã hội quan tâm hơn tới phụ nữ, cũng như quan tâm hơn tới những vấn đề mà người phụ nữ phải đối mặt trong một xã hội đang thay đổi để hòa nhập với thế giới: Phụ nữ học gì và học để làm gì? Quyền lao động, chế độ bảo hiểm và tiền lương, tư cách công dân với quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ, quyền tự do kết hôn…
          Các bài giới thiệu về phong trào phụ nữ thế giới không chỉ giúp phụ nữ Việt Nam hội nhập với thế giới hiện đại mà còn cổ vũ phụ nữ Việt Nam học theo những tấm gương của những người chị em của họ trên thế giới, đấu tranh vì quyền lợi của giới mình. Những nữ trí thức Việt Nam nhận thức được rằng để thay đổi xã hội trước hết phải thay đổi quan niệm của công chúng. Theo bước chân của các nhà hoạt động nữ quyền thế giới họ tham gia viết báo, xuất bản báo chí, đi diễn thuyết, tổ chức hội chợ phụ nữ, khởi xướng các phong trào thể thao… để vận động phụ nữ, truyền bá những tư tưởng về quyền con người, về sự bình đẳng. Bài Cuộc phụ nữ giải phóng ở Đông Dương trên báo Tân thời ngày 20/6/1935 cũng đã khẳng định: phụ nữ Việt Nam đã có những hoạt động thiết thực nhằm vận động phụ nữ như “đăng đàn diễn thuyết hoặc thảo luận trên báo chương về vấn đề giải phóng”.
         Từ chỗ nhận thức được vai trò và vị trí của mình trong xã hội, phụ nữ Việt Nam đã dấn thân vào các hoạt động thực tiễn, trở thành một lực lượng chính trị trong các cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ cũng như trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương thời kì 1930-1945.
         Năm 1935, Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương toàn quốc lần thứ nhất đã đánh giá cao các hoạt động của phụ nữ Việt Nam thời kì 1930-1935: “Cờ vận động dân tộc và xã hội giải phóng xuất hiện thì có phụ nữ tham gia cách mạng. Thời kỳ cách mạng cao nhất của phụ nữ lao động là năm 1930-1931. Trong hai năm ấy không có cuộc bãi công nào mà không có phụ nữ tham gia. Có lúc phụ nữ dẫn đạo các cuộc đấu tranh, có nơi đã tổ chức các cuộc biểu tình, bãi công hoàn toàn chỉ có đàn bà…[5]
         Thời kỳ vận động dân chủ 1936-1939, ý thức về nữ quyền cũng như phong trào đòi nữ quyền của phụ nữ Việt Nam có một bước phát triển mới so với trước. Báo chí đưa tin “Lần thứ nhất ở Đông Dương nữ giới ba kì biết hiệp hội để làm chính trị”  [Đàn bà mới-26/10/1936]. Hầu hết các cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ trong thời kỳ này đều có sự tham gia của đông đảo phụ nữ như: các cuộc đón tiếp phái viên Godart, Toàn quyền B’revie’, biểu tình ở Sài Gòn đòi thi hành luật lao động, đòi tự do dân chủ, đòi thả tù chính trị phạm… Trong cuộc biểu dương lực lượng ngày 1/5 tại nhà đấu xảo Hà Nội, phụ nữ đã tham gia như một lực lượng chính trị riêng biệt  với gần 5000 người gồm mọi tầng lớp: học sinh, công chức, công nhân, tiểu thương…
         Trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều phụ nữ đã dẫn đầu các cuộc biểu tình thị uy, cướp chính quyền ở các địa phương trên khắp cả nước. Ở Hà Nội, Nguyễn Khoa Diệu Hồng đã diễn thuyết kêu gọi mọi người ủng hộ Việt Minh trong cuộc mít tinh ngày 17.8 của Tổng hội viên chức và biến cuộc mít tinh thành cuộc biểu tình tuần hành trên đường phố ngay trước đêm Tổng khởi nghĩa nổ ra. Ở Bắc Giang, Hà Thị Quế trực tiếp chỉ huy du kích đánh chiếm đồn Nhật, tham gia lãnh đạo cướp chính quyền ở tỉnh. Trương Thị Mỹ lãnh đạo đoàn quân biểu tình chiếm huyện Hoài Đức (Hà Đông) ở sát cửa ngõ Hà Nội. Phan Thị Nể tham gia lãnh đạo cướp chính quyền ở Hội An,  Nguyễn Thị Định lãnh đạo cướp chính quyền ở thị xã Bến Tre, Trần Thị Nhường lãnh đạo khởi nghĩa ở Sa Đéc... Trong khí thế sôi sục của những ngày Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, hàng trăm phụ nữ được bầu vào Uỷ ban nhân dân cách mạng các tỉnh, huyện …là bằng chứng hùng hồn về vai trò thực sự và những đóng góp to lớn của phụ nữ
vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Kết luận
         Chỉ trong vòng vài thập kỷ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã chuyển biến từ một một nước phong kiến, quân chủ Nho giáo trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Dưới xã hội thuộc địa và ảnh hưởng bởi các trào lưu văn hóa tư tưởng mới, báo chí và những cơ sở kinh tế xã hội thuộc địa đã đưa người dân Việt Nam vốn chỉ là một thần dân của vua, xa lạ với những khái niệm về quyền công dân và quyền con người đến với những tư tưởng dân chủ, tự do cá nhân… 
Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công là một thành quả quan trọng của quá trình hội nhập với thế giới và đấu tranh cho quyền con người và quyền phụ nữ của nhân dân Việt Nam nói chúng và phụ nữ Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, ngày mùng 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình trong giờ phút Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra chế độ mới, hai người phụ nữ (Dương Thị Thoa (Lê Thi) và Đàm Thị Loan) đã được vinh dự kéo lá cờ đỏ sao vàng, lá Quốc kỳ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Sau cách mạng, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 quy định: “ Sức mạnh của đất nước nằm trong tay người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, giới tính, giàu nghèo, đẳng cấp, tôn giáo... Phụ nữ bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực” (điều 9). Có thể nói đây là một thắng lợi căn bản của phụ nữ Việt Nam trên con đường đấu tranh vì quyền con người và quyền phụ nữ -  kết quả của cuộc đấu tranh gần nửa thế kỷ của phụ nữ Việt Nam, là nền tảng quan trọng để phụ nữ Việt Nam cất cánh cùng dân tộc.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thị Kim Anh (1938), Vấn đề phụ nữ, NXB Thân Dân , Chợ Lớn
  2. Đại sứ quán Hoa Kỳ (2006), Những người phụ nữ có nhiều ảnh hưởng nhất nước Mỹ, Ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tháng 2, http://Vietnamese usembassy.gove/doc_womenofinflunence.htm
  3. Đài tiếng nói Hoa Kỳ,(2005), Điểm qua những tin tức và diễn biến liên quan đến tình hình phụ nữ quốc tế,
4.      Đặng Thị Vân Chi ( 2008) “ Ảnh hưởng của Nho giáo đối với địa vị của phụ nữ việt Nam trong lịch sử” (
5.      Đặng Thị Vân Chi ( 2006) Dòng báo phụ nữ ở Việt Nam trước năm 1945”, T/c NCLS, số 11/2006.
  1. Trần Hàn Giang (2003), “ Lịch sử phát triển của lý thuyết nữ quyền và lý thuyết giới” , T/C Khoa học về Phụ nữ số 6(61), tr 9-15.
  2. Trần Hàn Giang (2004), “Về một số lý thuyết nữ quyền” T/C Khoa học về phụ nữ 1(62), tr 11-19.
  3.  Hồ Chí  Minh Toàn tập đĩa CD, 1,2,3
  4. Đỗ Quang Hưng (1995), Tiếp xúc văn hóa Đông –Tây ở Việt Nam“ T/C Xưa- Nay,  4(14), pp20-22.
  5. Đỗ Quang Hưng (CB), (2000) Lịch sử báo chí Việt Nam: 1865-1945, NXB Đại học quốc gia,H.
  6. Nguyễn Văn Khoan (CB) (2001), Việt Minh thành Hoàng Diệu, NXB TP.Hồ Chí Minh
  7. Kolongtai.A,M (1961), Vấn đề giải phóng phụ nữ, NXB Phụ nữ.
  8. Nguyễn Thị Lựu (1985), Tình yêu và ánh lửa (Hồi ký), NXB Văn Nghệ, TP.Hồ Chí Minh.
  9. Tôn Thị Quế (1972), Chỉ một con đường (Hồi ký cách mạng), Ban nghiên cứu Lịch sử Tỉnh ủy Nghệ An.
  10. Nguyễn Ái Quốc (1960), Bản án chế độ thực dân Pháp, NXB Sự thật
  11. Cựu Kim Sơn and Văn Huệ (1938), Đời Chị em, Dân chúng.
  12. Cuu Kim Son and Van Hue (1938), Chị em phải làm gì? Dân chúng.
  13. Nguyễn Thành (1984), Báo chí Cách mạng Việt Nam 1925-1945, NXB KHXH
  14. Nguyễn Thành (1985), Phong trào Đông Dương đại hội năm 1936, TO. Hồ Chí Minh
  15. Nguyễn Thị Thập (1981), Lịch sử phong trào phụ nữ Việt nam, T1, NXB Phụ nữ
  16. Cao Huy Thuần – Nguyễn Tung – Trần Hải Hạc – Vĩnh Sính (CB) (2005), Từ Đông sang Tây, NXB Đà Nẵng
  17. Trần Quốc Vượng (1972), Truyền thống phụ nữ Việt Nam, NXB Phụ nữ.
  18. Marr David G (1995), Vietnamese tradition on trial.1920-1945, University of California Press Berkeley, California.
  19. Taylor KW and John. K.Whitmore (1995), Editor. Essays into Vietnamese parts. Cornel University New York.
25.  Các tờ báo: Đăng Cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam Phong, Trung Bắc Tân văn, Công Luận, Hoàn cầu tân văn, Thời báo, Đông Pháp Thời báo, Tràng An, Thanh Niên, Zân báo, Dân chúng… và các tờ báo Phụ nữ: Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Đàn bà mới…









[1] Đặng Thị Vân Chi, “nh hưởng ca Nho giáo đi vi đa v ca ph n Vit Nam trong lch s, K yếu hi tho khoa hc Quc tế năm 2008 Giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ: những vấn đ lí lun và thc tin, Nxb Đi hc Quc gia Hà Ni, 2008.
[2] Khái niệm nữ quyền lần đầu tiên được nhắc đến trong bài Về thói trọng nam khinh nữ của ta trên Đông Dương tạp chí ngày 11/2/1914. Lần thứ hai khái niệm nữ quyền được nhắc đến trong mục Nhời đàn bà số 5 ngày 21/1/1915 trên Trung Bắc tân văn khi đặt vấn đề “muốn mang tư tưởng cùng chị em bàn bạc để đúc lấy nữ quyền dạy bảo nhau chóng nên người khôn ngoan, tài đảm để gây nên một giống nòi mạnh bạo, mai sau này chiếm lấy một phần nữ sử với hoàn cầu.” Năm 1916, trong bài “Sự giáo dục đàn bà con gái” trên ĐDTC (bài này được đăng lại trên báo Nam phong  tháng 10/1917), Phạm Quỳnh đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong nền sản xuất xã hội nhưng cho rằng phụ nữ từ trước tới nay bị đánh giá thấp “suy cho cùng  chỉ vì không có học thức mà thôi”. Và quyền bình đẳng nam nữ lúc này chỉ được hiểu là “phải lưu tâm vào sự giáo dục đàn bà”.

[3] Kim Anh được nhiều nhà nghiên cứu như Sophia Quinn Judge, Wiliam Dukey, Nguyễn Văn Khoan cho là bút danh của Nguyễn Thị Minh Khai- Đảng viên Đảng cộng sản Đồng Dương, phụ trách công tác vận động phụ nữ của Đảng.
[4] . Báo Thanh Niên phát  hành số 1 ngày 21/6/1925, theo Huỳnh Kim Khánh, báo Thanh niên có tất cả 208 số và trong 80 số đầu do chính Nguyễn Ái Quốc viết bài.

[5]  Nguyễn Thị Thập (1981), Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam tập 1, NXB Phụ nữ, Tr176.

* Bài đã đăng trong " Nghiên cứu và đào tạo Việt Nam học- Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, 2013.

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Người trí thức - Võ Nguyên Giáp


Lê Tùng - Phương Nguyễn






Thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam đã trải qua hai cuộc chiến tranh mà ở đó, lý tưởng độc lập và khát vọng tự do như là nền tảng của dân chủ và nhân quyền đã trở thành sợi dây gắn kết sức mạnh tinh thần của hàng triệu triệu con người. Đó là cuộc trường chinh hơn ba thập niên giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước trước hai đế quốc lớn là đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ. Gắn liền với giai đoạn lịch sử này là tên tuổi của một vị tướng đặc biệt với trí tuệ rộng mở và trái tim nhân ái. Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người đã đến với cuộc chiến bằng khát khao độc lập của một trí thức trong giao thời lịch sử và ra khỏi cuộc chiến bằng nhân cách của một người trí thức biết gánh vác vận mệnh xây dựng, phát triển đất nước trong thời bình.

Sứ mệnh cách mạng trong dòng máu trí thức
Võ Nguyên Giáp có tố chất của một nhà trí thức lớn, nhìn vào con đường học vấn của ông, chúng ta có thể thấy rằng nếu không trở thành một đại tướng, có lẽ ông đã trở thành một học giả uyên bác. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống hiếu học và nề nếp gia phong, ngay từ nhỏ, Võ Nguyên Giáp đã được thụ hưởng một nền giáo dục mang hai tư tưởng khác biệt: tư tưởng lễ giáo của truyền thống phương Đông và những tri thức khoa học cùng những tư duy tiến bộ của phương Tây. Năm 14 tuổi, ông tốt nghiệp tiểu học đỗ đầu toàn tỉnh và là cậu tân khoa trẻ nhất. Năm 15 tuổi, ông đỗ thứ nhì vào trường quốc học Huế. Ngay từ thời điểm đó, trong con người Võ Nguyên Giáp đã hình thành những thiên hướng cách mạng của một công dân yêu nước, ông không chỉ là một học sinh đơn thuần tiếp thu tri thức, mà đã là một con người kiếm tìm lý tưởng. Chính vì vậy, dù ở độ tuổi 15, Võ Nguyên Giáp đã tìm thấy trong những nhà cách mạng đương thời như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh một sự đồng cảm và gần gũi. Ngay từ những năm tháng đó, Phan Bội Châu đã có một tình cảm đặc biệt với cậu thiếu niên Võ Nguyên Giáp. Cụ có mấy chục bộ sách cổ, kim mà khi mất đi cụ định để lại cho cậu Giáp .
Tuy nhiên, cũng chính vì thiên hướng trên mà con đường học vấn của Võ Nguyên Giáp đã sớm gặp trắc trở. Năm 1927 lần đầu tiên ông cầm đầu một cuộc bãi khóa để bảo vệ người đồng môn Nguyễn Chí Diểu trước sự áp đặt phi lý trong nhà trường đế quốc. Kết quả là ông bị đuổi học. Khi đó, Võ Nguyên Giáp mới 16 tuổi.

                   Đồng chí Võ Nguyên Giáp và vợ người đồng chí Nguyễn Quang Thái
Sự sớm định hình tố chất trong con người Võ Nguyên Giáp đã quyết định hướng đi của cuộc đời ông sau này. Nếu muốn, ông đã có thể chọn một con đường trải đầy nhung lụa, với một suất học bổng tiến sĩ ở Pháp do giáo sư Gaétan Pirou, thành viên Hội đồng Giám khảo Đại học Đông Dương đề nghị cấp sau khi nghe lời nhận xét về ông: “Anh ta thông minh, sáng láng và rất can đảm. Một cái đầu bốc lửa đã có vấn đề vướng mắc với chính quyền.” Tuy nhiên chỉ sau một ngày suy nghĩ, Võ Nguyên Giáp đã từ chối với lý do “không thể là con người ích kỷ, bỏ lại bạn bè trong nước”. Mà bạn bè hay nhưng người gắn bó với Võ Nguyên Giáp thời bấy giờ là những ai? Đó là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nam…, những ngọn lửa đầu tiên của cuộc cách mạng Dân tộc - Dân chủ sau này. Câu nói của ông, có thể hiểu rộng ra rằng ông đã không nghĩ cho riêng mình. Cuộc sống của ông khi đó, dù nói ra hay không, cũng đã dâng hiến cho lý tưởng cách mạng vì dân tộc. Và lý tưởng đó đã mãi mãi trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong từng hành động, từng suy nghĩ của ông. Năm 1928, lần đầu tiên ông được tiếp xúc với những bài viết mang tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh. Đó là bài phát biểu tại cuộc họp của Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới tại Bruxelles (Bỉ). Sức lôi cuốn của những tư tưởng sống động đã khiến ông xúc động đến mừng rỡ. Có thể nói, khi lý tưởng tìm thấy con đường và những người đồng hành cũng là khi niềm tin sẽ được thăng hoa trong mỗi con người. Ngay trong năm đó; Võ Nguyên Giáp đã tham gia Đảng Tân Việt và từ đây, người thanh niên Võ Nguyên Giáp đã tích cực thúc đẩy quá trình cải tổ của đảng Tân Việt cho đến khi hợp nhất vào Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Khó có thể kể hết các hoạt động của ông để thực hiện lý tưởng cách mạng của mình. Chỉ biết rằng ở người thanh niên ấy, cách mạng đã trở thành sứ mệnh tự thân của người trí thức. Là nhà giáo, ông đã âm thầm truyền thụ tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng cho các lớp học sinh. Là nhà báo, ông đấu tranh với ách đô hộ bằng sự vạch trần bản chất bất công và vô nhân của chế độ, đồng thời tuyên truyền tinh thần dân chủ và con đường đấu tranh vì tinh thần đó. Là một người trí thức, ông luôn trau dồi, học tập để vươn xa trên con đường của hiểu biết vì hơn ai hết, ông hiểu rằng đó chính là nền tảng của cách mạng. Nhà sử học Dương Trung Quốc, từng là một người đồng nghiệp - người học trò của Đại tướng đã đánh giá về giai đoạn này: “Có thể nói thắng lợi của cách mạng Việt Nam với mục tiêu giải phóng dân tộc bao gồm việc giành độc lập dân tộc, và giữ vững nền độc lập ấy trong suốt ba thập kỷ chiến tranh phụ thuộc một phần lớn vào tinh thần “uy vũ bất năng khuất” của một thế hệ vàng. Dù trưởng thành trong nền giáo dục thực dân, nhưng họ vẫn giữ được những giá trị của nền văn hóa dân tộc, tiêu biểu là nền Quốc học. Bên cạnh đó, họ đã được tiếp thu một nền học vấn với những tư tưởng văn hóa phương Tây rất cơ bản mặc dù trong bối cảnh nền giáo dục của một nước thuộc địa luôn bị thực dân áp bức, đồng hóa. Thứ ba, đó là thế hệ khao khát độc lập tự do đến mãnh liệt và ba điều đó hòa trộn với nhau rồi được quy tụ dưới lá cờ cách mạng do Hồ Chí Minh đứng đầu. Võ Nguyên Giáp là một trong những tinh hoa đầu tiên trong thế hệ vàng đó.”

Vị Đại tướng tinh thần
Cách đây một vài năm, đại tướng Võ Nguyên Giáp có một người khách xin được vào thăm. Đó là một cựu chiến binh già lặn lội từ Quảng Bình ra Hà Nội. Trong tình cảm không có sự phân biệt giữa cấp hàm mà chỉ là những người lính vào sinh ra tử cho cùng một lý tưởng. Khi Đại tướng xúc động ôm người cựu chiến binh, chỉ có một câu nói giản dị được thốt lên: “Báo cáo anh, em đã hoàn thành nhiệm vụ!” Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã không chỉ là một vị chỉ huy trực tiếp mà quan trọng hơn, trong tâm tưởng của những người lính, ông chính là một lãnh tụ tinh thần.
Trở lại thời điểm năm 1944, cuộc đấu tranh cách mạng đòi hỏi phải chuyển từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự, Bác Hồ đã quyết định phải tổ chức một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Bác hỏi: “Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn có làm được không?” Ông đáp: “Có thể được”. Và chính thức từ giây phút đó, cái tên Võ Nguyên Giáp đã gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là tại sao Bác Hồ lại chọn ông, một người trí thức đảm nhiệm chức Tổng tư lệnh Quân đội mà không phải là những người học chuyên về quân sự? Nhà sử học Dương Trung Quốc đã có một cách lý giải riêng về sự lựa chọn này: “Cụ Hồ quan niệm làm chính trị là phải thay đổi nhận thức con người, cho nên mục tiêu chính trị cần phải được đặt lên hàng đầu, còn vũ khí chỉ là phương tiện. Tại sao khi thành lập đơn vị quân sự đầu tiên của Việt Nam, Bác gọi là “đội Tuyên truyền Giải phóng quân”? Câu nói của Bác khi giao nhiệm vụ cho ông Giáp là cứ tuyên truyền rồi nhân dân sẽ tìm được vũ khí cho chúng ta. Ông Giáp có đủ phẩm chất để thực hiện nhiệm vụ trên. Bởi ít nhất ông Giáp là một người được đào tạo hết sức chính quy trong bộ máy giáo dục và ông tiếp cận với những tri thức rất cơ bản để tạo nên một nền tảng văn hóa vững chắc. Ông học luật và lại là thầy giáo dạy sử. Mà thầy giáo trong xã hội cũ thì rất có uy tín trong việc tuyên truyền, tập hợp lực lượng”.

Theo lời kể của nhà sử học Dương Trung Quốc, thì có rất nhiều người đã hỏi Đại tướng là ông được đào tạo ở trường quân sự nào? Ông trả lời rằng trường học đầu tiên của ông là trường học trí thức. Võ Nguyên Giáp là người nghiên cứu rất nhiều về lịch sử nói chung, trong đó có lịch sử chiến tranh và một trong những nhân vật ông để tâm nghiên cứu nhiều nhất là Napoléon. Ông nghiên cứu Napoléon như một nhân vật huyền thoại của chiến tranh nhưng đồng thời cũng là mặt trái của chiến tranh. Nó giống như thứ vũ khí có thể tạo dựng nền hòa bình, sự tiến bộ nhưng cũng có thể gây ra những cuộc xung đột đẫm máu. Tất cả điều đó cho thấy đặc thù của Võ Nguyên Giáp là một vị tướng dùng binh bằng bản lĩnh trí tuệ. Trong những hồi ký, Đại tướng nhắc đến thói quen thường xuyên lục lại trong trí nhớ của mình những bài học thành công, thất bại của lịch sử mỗi khi ông đứng trước một khó khăn, thử thách.
Trong mấy chục năm cuộc đời, ông đã chỉ huy nhiều trận đánh nhiều chiến dịch lớn. Thế giới đã ca tụng ông trong ánh hào quang của một vị tướng với tài chỉ huy và hoạch định chiến lược. Nhưng chiến thắng đôi khi đến từ một nơi sâu thẳm hơn. Đó là một trí tuệ mẫn tiệp và trái tim nhân ái. Năm 1945, sau ngày Nhật đảo chính Pháp, một số người Pháp đã đến với Việt Minh ở khu giải phóng. Họ đã tiếp xúc với “anh Văn” (tức đại tướng Võ Nguyên Giáp). Maurice Bernard, một giáo viên đã viết một bức thư dài gửi những người bạn Pháp ờ Hà Nội, trong đó có đoạn: "Không bao giờ chúng tôi quên được cái đêm đã hội tụ chúng tôi lại với ông Văn, người chỉ huy mà đến nay chúng tôi thấy là người có uy tín nhất, có kinh nghiệm rộng lớn nhất, đã nói với chúng tôi, bằng những câu giản dị và hùng hồn kiên quyết, những cố gắng lâu dài mà chưa đạt đích của Việt Minh, để bắt liên lạc được với người Pháp và làm cho người Pháp hiểu. Bằng tất cả trái tim, chúng tôi đáp lại lời kêu gọi của ông và chúng tôi muốn rằng toàn thể đồng bào người Pháp cùng chia sẻ tình cảm ấy của chúng tôi.
Cho đến giờ những giọt nước mắt của Trung tướng Phạm Hồng Cư - nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn rưng rưng khi nhắc đến tình cảm trong con người đại tướng. Đối với ông, Đại tướng là một người thủ tướng chỉ huy bằng tấm lòng của một con người nhân ái. Theo lời ông kể, chiến dịch Quảng Trị đã nổ ra khi Đại tướng đi chữa bệnh. 81 ngày đêm, mỗi ngày đêm lại có một đại đội hy sinh. Đó không phải là cách đánh mà đại tướng đã vạch ra. Cho đến bốn giờ sáng ngày 17/9/1972, một ngày sau khi quân ta rút lui khỏi thành cổ, Đại tướng còn điện trực tuyến hỏi tác chiến mặt trận: “Tôi có thông tin trong thành cổ còn sót lại chín chiến sĩ do ở hầm xa nhau chưa nhận được lệnh rút, còn đang chiến đấu. Cho thẩm tra ngay!” Một Đại tướng đặt sinh mệnh từng con người lên trên cuộc chiến. Đó không đơn thuần là quân sự, là chiến tranh. Đó là một khát khao dài rộng và sâu sắc hơn một chiến thắng, dù chiến thắng đó có vĩ đại đến bao nhiêu.
Hình như trong con người ông, nền tảng của một trí thức yêu nước và lý tưởng cách mạng vì mỗi con người Việt Nam luôn luôn là mục đích cao nhất. Chiến tranh, trong tất cả sự khốc liệt của nói chỉ có ý nghĩa khi mỗi sự hy sinh đều hướng đến lý tưởng vì cuộc sống hạnh phúc cho con người. Vì thế, một cuộc chiến không quan trọng ở chiến thắng, mà quan trọng ở cách chiến thắng và mục đích của chiến thắng. Chỉ một người dám hy sinh cho lý tưởng mới hiểu được những người lính đang ngã xuống đáng quý biết bao để mỗi trận chiến là mỗi bậc thang vươn đến xã hội dân chủ và công bằng.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã viết: “Đồng chí Võ Nguyên Giáp luôn luôn ý thức được rất sâu sắc rằng: người chỉ huy các cấp nói chung, nhất là Tổng tư lệnh phải có trách nhiệm với từng vết thương và từng giọt máu của mỗi người lính. Tôi biết rõ đồng chí Tổng tư lệnh nhiều đêm thao thức, nước mắt ướt đầm, vì được tin một chiến dịch nào đó máu chiến sĩ đổ quá nhiều, mà chiến thắng thì chưa tương xứng.”

Trí tuệ tâm huyết giữa thời bình
"Đồng chí Võ Nguyên Giáp luôn luôn ý thức được rất sâu sắc rằng: người chỉ huy các cấp nói chung, nhất là tổng tư lệnh phải có trách nhiệm với từng vết thương và từng giọt máu của mỗi người lính. Tôi biết rõ đồng chí Tổng tư lệnh nhiều đêm thao thức, nước mắt ướt đầm, vì được tin một chiến dịch nào đó máu chiến sĩ đổ quá nhiều, mà chiến thắng thì chưa tương xứng"
Có lẽ phẩm hàm Đại tướng và tính huyền thoại của chiến tranh đã khiến con người trí thức trong ông phần nào ít được nhìn nhận và đánh giá. Trên thế giới cũng như ở trong ước, nhắc đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhắc đến Điện Biên Phủ, đến quân sự, đến chiến tranh. Nhưng ít ai biết ngườí thức ấy đã đến với chiến tranh thế nào và càng ít người người trí thức ấy đã ra khỏi chiến tranh như thế nào!
Năm 1977, hai năm sau khi thống nhất đất nước, theo sự phân công của Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giã từ chức vụ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã được Hồ Chủ tịch ủy nhiệm từ năm 1945 để nhận công tác ở cương vị mới: Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực khoa học – kĩ thuật. Bao nhiêu năm cầm quân đánh giặc, liệu nền tảng trí thức trong ông có bị phai nhạt ít nhiều? Tư duy ấy có bị chuyện thắng thua chi phối mà quên mất chiến thắng chỉ có ý nghĩa khi xây dựng được những nền tảng tiến bộ cho đời sống nhân dân?
Có thể nói, bản lĩnh của một trí thức lớn đã được khẳng định đầy thuyết phục qua thử thách của Đảng và Chính phủ. Tuy những hạn chế của thời đại đã khiến nhiều chiến lược kinh tế của ông không thể thành hiện thực nhưng cho đến hôm nay, những tư duy của ông vẫn khiến chúng ta phải kính trọng về hàm lượng trí tuệ và con mắt chiến lược trong đó. Từ những năm 1978, khi tư duy kinh tế thời chiến vẫn còn ngự trị trong toàn xã hội, ông đã nhìn thấy vấn đề “đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp nước ta”. Đại tướng đặc biệt nhấn mạnh đến mối quan hệ tổng hòa của các yếu tố đất - nước - rừng - biển trong việc giữ gìn hệ sinh thái và phát triển lâu dài. Ông viết: “Nước ta nằm trên bờ biển Thái Bình Dương, cho nên đất, nước, rừng, biển đều có mối liên hệ qua lại và tác động lẫn nhau. Có thể nói rằng: rừng và biển có tầm quan trọng rất to lớn không những về mặt tiềm năng các sản phẩm quý giá có thể cung cấp cho xã hội mà còn có vai trò giữ gìn môi trường và cân bằng sinh thái tốt nhất đối với toàn bộ đất đai nước ta, đối với việc phát triển các ngành kinh tế quốc dân trong cả nước. Trong một đất nước có bờ biển dài hơn 3000 km với 80% dân số là nông dân, tư duy ấy không chỉ đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế, mà còn đảm bảo cho cuộc sống lâu dài của mỗi người dân. Giờ đây, những suy nghĩ từ cách đây hơn 30 năm ấy mới bắt đầu đi vào cuộc sống…
Nếu trong chiến tranh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi tiếng với khả năng nhìn thấy điểm yếu và tấn công điểm yếu của kẻ địch thì trong thời bình, người trí thức ấy lại tìm ra những thế mạnh nổi trội của nền kinh tế. Ngoài chiến lược về nông nghiệp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn đề xuất một chiến lược về Kinh tế biển và Khoa học kỹ thuật về biển .Trong đó, việc mở đường ra biển, làm ăn kinh tế biển được kết hợp chặt chẽ với quốc phòng. Mục đích lâu dài là chuyển đổi cơ cấu kinh tế ven biển thành miền công nghiệp thủy sản trù phú. Cái nhìn ấy cũng đã cách đây hơn 30 năm và giờ đây chúng ta cũng đang đi những bước đầu tiên về phía biển…
Ngay từ năm 1985, Đại tướng đưa ra những kiến nghị sâu sắc về việc đổi mới quản lý trong khoa học và giáo dục, trong đó Đại tướng nhấn mạnh đến việc phải có chế độ trả công cho lao động khoa học tương xứng, Chấm dứt việc thang lương của thầy cô giáo, kỹ sư… lại thấp hơn cả thu nhập của thầy bói, thầy cúng. Đòi hỏi phải xây dựng một môi trường thật sự dân chủ đối với tư duy khoa học, trong đó việc tôn trọng trí thức, khuyến khích nhân tài đã được Đại tướng dày công xây dựng trong một bản chiến lược công bố từ tháng 1 năm 1989, đến nay đã được gần 20 năm nhưng vẫn chưa bao giờ vơi đi tính thời sự.
Năm 1991, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghỉ hưu ở tuổi 80 và thôi giữ các chức vụ trong Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, tâm huyết và trí tuệ của ông thì chưa bao giờ ngừng nghỉ. Cả cuộc đời ông đã hiến mình cho lý tưởng cách mạng và lý tưởng đó đã trở thành máu thịt trong ông. Dù tuổi cao, sức yếu nhưng trong cuộc sống, ông vẫn đồng hành cùng từng trăn trở, từng suy tư của người dân Việt Nam. Giáo sư Hoàng Tụy kể lại: sáng kiến về bản kiến nghị chấn hưng giáo dục do nhóm 24 nhà khoa học- trí thức gửi lên Chính phủ năm 2004, chính là lấy ý tưởng từ bản kiến nghị của Đại tướng gửi đến nhóm. Sau khi công bố, bản kiến nghị đã có một tiếng vang lớn, và một số những thay đổi về phân ban, chức danh Phó giáo sư, giáo sư... đã được bộ Giáo dục thực hiện theo đề xuất của bản kiến nghị.
Và trong những năm tháng này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn như ngọn hải đăng của những người trí thức trước những vấn đề trọng đại của đất nước. Ông đã sống trọn cuộc đời bằng nhân cách của một người trí thức biết gánh vác vận mệnh của đất nước trong cả thời chiến lẫn thời bình.
Ông đã sống qua hai thế kỷ sóng gió của lịch sử dân tộc. Ông đã làm hết những gì mà một Con Người - viết hoa - có thể làm để không hổ thẹn với mùa thu lịch sử của dân tộc nhiều dông bão này. Kính cẩn vĩnh biệt Ông!

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Lê Vân và những quan niệm về giới nữ Việt (phần 2)


Phần 1:http://chuyencuachi.blogspot.com/2013/08/le-van-va-nhung-quan-niem-ve-gioi-nu.html

Tiết hạnh


Lê Vân có quan hệ tình ái với ba người đàn ông đã có gia đình, và con của cô có cha không phải là chồng cô vào thời điểm cô sinh chúng. Sự thật là đứa con đầu lòng của cô với Abraham được sinh ra khi cô vẫn còn giá thú với Chàng lãng tử. Lối cư xử này cũng như ý định của Lê Vân muốn trình bày trước công chúng thật không bình thường chút nào, nhưng điều này có thể dễ hiểu hơn đôi chút nếu chúng ta hiểu được quan niệm của người Việt về tiết hạnh (hoặc tiết nghĩa).
 Trong truyền thống Việt Nam, đạo đức Khổng giáo hợp thức hóa một tiêu chuẩn kép cho việc đánh giá hành vi tình ái nam nữ. Việc đàn ông có còn tân hay không trước hôn nhân không quan trọng. Ngoại tình của đàn ông đã có gia đình không được chấp nhận nhưng thường được tha thứ, kể cả từ phía vợ anh ta. Nhiều người đàn ông lấy vợ hai nếu họ có đủ điều kiện, một hình thức của chế độ đa thê.[1] Đàn ông cũng cần phải có đức hạnh – như trung thành với vua và giữ đạo hiếu với cha mẹ – nhưng những yêu cầu đạo đức này không ngăn cấm họ có tình nhân trước hay sau hôn nhân. Phụ nữ cũng phải có “trung hiếu” nhưng với họ, tiết hạnh là một giá trị đạo đức quan trọng nhất, như bài ca dao dưới đây đã nói rõ:

Đã sinh ra kiếp  đi
Trai thời Trung Hiếu đôi vai cho tròn
Gái thì Trinh, Tịnh lòng son
Sm hôm gìn gi ko còn chút sai.[2]

Vì có quan hệ tình ái với ba người đàn ông đã có gia đình, Lê Vân dường như có vẻ bất cần những luật lệ cốt tử của tiết hạnh và vì vậy gây đau khổ cho những người phụ nữ khác. Chúng ta nghĩ thế nào trước hành động của cô? Xem xét mức độ nổi loạn của Lê Vân chống lại những tín điều truyền thống, điều quan trọng là chúng ta không nhầm lẫn tiết hạnh với trinh tiết. Phụ nữ đã có chồng hay chưa đều phải giữ tiết hạnh. Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang (sau đây viết là CHTN Nha Trang) giải thích tiết hạnh thường có nghĩa là trung thành hoặc trước sau như một, mà phụ nữ thường thể hiện qua việc giữ gìn trinh tiết trước hôn nhân và quan hệ tình dục chỉ với chồng sau hôn nhân. Nhưng, như CHTN Nha Trang và nhiều người khác nhấn mạnh, tiết hạnh được định nghĩa nhiều cách khác nhau trong nhiều văn bản của Việt Nam, và trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Việt Nam,Truyện Kiều, nhân vật nữ chính có quan hệ tình dục với người đàn ông không phải là chồng nàng, gồm cả những khách làng chơi ở lầu xanh mà nàng phục vụ, nhưng nàng vẫn được coi như trinh bạch.[3] Một số người đã sốc trước khái niệm “xét lại” về chữ trinh được đặt ra trong Truyện Kiềuvà cho rằng đàn bà không được đọc tác phẩm văn vần này.[4] Nhưng hầu hết người Việt lại tán thưởng nó vì cách thể hiện cảm động trong việc một phụ nữ trẻ đầy đam mê trong vòng đời khủng khiếp đã có những quyết định vô cùng khó khăn trong khi vừa đi theo tiếng gọi con tim vừa tôn trọng những nguyên tắc Khổng giáo.

Kiều lẽ dĩ nhiên không phải là một phụ nữ buông thả. Tuy nhiên nàng hành động liều lĩnh – ví dụ như đính ước không theo quy định với Kim Trọng trước khi có sự đồng ý của cha mẹ. Nàng lại thất ước với Kim Trọng và mất trinh tiết khi nàng đồng ý lấy gã vô lại Mã Giám Sinh để chuộc cha. Nàng quyết định rằng chữ hiếu “nặng hơn” lời thề ước. Mã Giám Sinh là kẻ đầu tiên trong chuỗi những quan hệ của nàng nhưng cuộc tình của nàng với ba người đàn ông khác đều dựa trên giao ước của hai bên: chàng thư sinh Kim Trọng, thương nhân Thúc Sinh và vị anh hùng cái thế Từ Hải. Nàng bảo toàn trinh tiết với những người đàn ông này, nếu như định nghĩa trinh tiết là sự kiên định tinh thần. Theo định nghĩa này, một người phụ nữ có thể bị những sự cố cuộc đời xô đẩy phải thất thân với những người đàn ông khác nhưng không có nghĩa cô ta đánh  mất tiết hạnh của mình. Kim Trọng đã nêu ra định nghĩa xét lại quan niệm về trinh bạch khi nói với Kiều lúc tái hợp:

Xưa nay trong đạo đàn bà
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường
Có khi có biến có thường
Có quyn nào phi mt đường chp kinh
Như nàng ly hiếu làm trinh,
Bi nào cho đc được mình y vay?[5]

CHTN Nha Trang nhận xét, trong những dòng này “Kim Trọng đã chuyển chữ trinh ra khỏi văn cảnh vật lý thông thường và đặt nó vào một văn cảnh đạo đức thuần khiết”.[6]

Giống như Kiều, Lê Vân hành động liều lĩnh nhưng không bừa bãi. Ví dụ, cô biết quan hệ của mình với Người ấy là sai lầm, và do đó không có đụng chạm thể xác. Có hôn nhau, nhưng không đi xa hơn. Khi Người ấy mời cô về nhà để gặp vợ con, ông làm vậy, cô kể, vì “anh muốn tôi hiểu, anh đến với tôi không có gì khác ngoài sự trong trắng, quá trong trắng của tôi lúc đó.”[7] Lê Vân viết trong thư gửi Người ấy: “Em thấy sao tình cảm của chúng mình trong sáng đến vậy, không gợn một chút gì của dung tục.”[8] Ông luôn luôn lo lắng rằng cô sẽ “đánh mất giá trị của mình” và “trở thành một người đàn bà tầm thường phù phiếm.”[9] Và sau đó, ở Sài Gòn, cô đã bị sốc và cự tuyệt khi nhận ra đạo diễn đã dùng cô để có được lời mời ăn tối từ những người đàn ông giàu có, vài kẻ trong số đó chuyên “săn” những nữ diễn viên để được ngủ cùng. Một cách để Chàng lãng tử lấy lòng cô là cứu cô khỏi chuyến đi xuống Vũng Tàu, đã bị sắp đặt với một gã đàn ông Hồng Kông giàu có.

Lê Vân phản bội Người ấy, một sự thật mà cô đã thú nhận, nhưng ta có thể bào chữa cho cô rằng khi Người ấy đã hoãn lại một giao ước với cô suốt mười năm ròng thì ông không có quyền trông đợi sự thủy chung nơi cô.[10] Ông bảo cô rằng sự “sa ngã” của cô với Chàng lãng tử chỉ là nhất thời. Cô kể, tuy vậy ông không hiểu rằng “vào thời điểm đó, tôi đang ở trong năm thứ mười của mối tình quằn quại với cuộc sống tù đọng âm thầm.” (nhấn mạnh của cô).[11] Không rõ là liệu trong thời gian diễn ra mối quan hệ, Lê Vân có mong đợi Người ấy li dị vợ (như rút cục đã làm) hay cô dự liệu một tình cảnh quan hệ “vợ hai” hay “vợ không chính thất” với ông. Cô mô tả quan hệ với Người ấy là “nặng nghĩa vợ chồng.” Cô kể, “Chị là người vợ của ban ngày. Tôi là người vợ của bóng đêm. Anh là người chồng của cả hai.”[12] Đa thê là bất hợp pháp ở Việt Nam, nhưng sự rơi rớt của tư tưởng đa thê vẫn có thể khiến Lê Vân hi vọng cô có thể là một “vợ bé” của Người ấy. Vì không thấy đa thê là vấn đề nên cô bảo cô muốn có con với Người ấy ngay cả trước khi ông nói đến việc li dị vợ.. Ông từ chối và thúc đẩy cô hướng về những người đàn ông khác.[13] Điều này là điều duy nhất khiến cô giận Người ấy.[14]

Dù mong muốn có con với Người ấy, Lê Vân rất ân hận về nỗi đau mà mình đã gây ra cho người vợ. Trong chương áp chót, Lê Vân giải thích quan hệ của cô với Người ấy đă giúp cô hiểu một người vợ phải chịu đựng như thế nào khi phải chia sẻ hoặc đánh mất người chồng của mình. Trong chương này, Lê Vân chuyển từ nỗi thương thân mình sang thương vợ Người ấy, thương cho tất cả những ai phải chia sẻ số phận bất hạnh của việc là đàn bà. Chương này bắt đầu và kết thúc với một câu trong Truyện Kiều: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.”[15] Người nói  câu này là Hoạn Thư, vợ của thương nhân Thúc Sinh, người đã ghen tuông ghê gớm khi chồng bà đem Kiều về làm vợ bé. Chúng ta nên cắt nghĩa sự lựa chọn của Lê Vân khi lấy câu nói của Hoạn Thư làm tiêu đề và câu kết của chương này thế nào? Có phải cô dùng nó để thể hiện sự thông cảm với tình địch của mình để nói, “tôi hiểu vì sao vợ Người ấy xử sự như cách chị đã làm. Không người đàn bà nào muốn chia sẻ chồng mình”? Hay là để tự bảo vệ mình, để  ngầm nói: “Đừng kết tội tôi. Trong tình yêu và chiến tranh, mọi người đều bình đẳng. Không người phụ nữ nào muốn chia sẻ người mình yêu, dù anh ta đã có vợ rồi”? Tôi tin cô muốn nói lên sự thông cảm, để lên án định mệnh đã đặt cô và tình địch của cô vào tình thế oái oăm. Những ý kiến khác của cô trong chương này cũng góp thêm tiếng nói này; cô bảo rằng cô và vợ Người ấy là những phụ nữ bất hạnh và những phụ nữ này không nên chấp nhận định mệnh mà phải buộc định mệnh đi theo mình (xem phần “Lãng mạn và Định mệnh” của tôi). Tuy nhiên nỗ lực của cô trong tình chị em, giống như của Hoạn Thư (kẻ đã đối xử tàn ác với tình địch của mình là Kiều), nghe có vẻ trống rỗng. Nó không đứng vững được bởi sự nghịch lý của hoàn cảnh: cô nguyền rủa chống lại số phận đàn bà, nhưng bằng cách chọn việc tiếp tục gặp gỡ Người ấy, cô lại khiến người đàn bà kia phải chịu đựng khổ đau.

Lại còn một sự kiện nữa là cô có bầu với Abraham trong khi vẫn còn kết hôn với Chàng lãng tử. Chắc chắn không có định nghĩa nào về tiết hạnh, cho dù là đã được điều chỉnh, có thể đưa ra để ăn khớp với hành vi này. Cô chỉ còn biết nói rằng cô đã trở nên mệt mỏi với việc Chàng lãng tử để cô phải gánh vác mọi việc lớn, và việc anh ta từ chối làm những công việc mà cô nghĩ đàn ông phải làm. “Người phụ nữ Việt Nam chăm lo cho cuộc sống của người đàn ông nào đã đem lại cho họ sự bảo vệ và chu cấp,” CHTN Nha Trang nhận xét. “Điều đó được xem như một sự trao đổi công bằng.”[16] Có ba mối quan hệ qua lại tinh thần bắt buộc trong cương thường Khổng giáo (tam cương): vua-tôi, cha-con và vợ-chồng. Bởi vì Lê Vân cảm thấy cha mình đã thất bại trong việc sống đúng với trách nhiệm của người cha, cô cảm thấy ít áp lực hơn trong việc phải hành xử như một đứa con gái có hiếu. Bởi vì cảm thấy Chàng lãng tử thất bại trong việc hành xử như một người đàn ông, cô cảm thấy ít áp lực hơn trong việc làm một người vợ chung thủy. Sự giận dữ của cô đối với hành xử “thiếu đàn ông” của Chàng lãng tử làm tăng thêm sức hấp dẫn của “bờ vai rộng rãi khỏe mạnh” của Abraham. Tựa đầu lên đó, cô cảm thấy mình có thể trở thành người vợ và người mẹ mà cô hằng khao khát.[17]

Khao khát được là “một người phụ nữ Việt Nam với đúng chức năng nội trợ trong nhà” của Lê Vân cũng còn được yểm trợ nhờ trào lưu muốn giữ phụ nữ trong gia đình mà các nhà quản lý văn hóa Việt Nam hậu Đổi mới hi vọng sẽ đem lại một giải pháp cho các tệ nạn xã hội nảy sinh từ nền kinh tế thị trường.[18] Tôi sẽ xét tới giả thuyết này trong phần tiếp sau đây.


Tứ đức


Trong truyền thống Việt Nam, phẩm hạnh quan trọng bậc nhất của phụ nữ là sự trinh tiết được củng cố bằng một hệ thống luân lý và đạo đức thể hiện trong bốn chữ Tam tòng tứ đức. Hệ thống này được diễn giải trong Gia huấn ca, một bài văn vần dùng để dạy dỗ phụ nữ được cho là do Nguyễn Trãi (1380-1442) viết. Theo Tam tòng, phụ nữ phải theo cha trước khi lấy chồng, theo chồng sau khi cưới, và theo con trai cả khi chồng mất. Tứ đức gồm công, dung, ngôn, hạnh.  Tam tòng tứ đức tóm tắt lối ứng xử đúng đắn của người phụ nữ, thường được kết hợp với Tam cương ngũ thường, là lối hành xử đúng đắn của đàn ông, nhưng phụ nữ cũng phải tuân thủ cả những quy tắc này.[19] Tam cương là ba mối quan hệ vua-tôi, cha-con, chồng-vợ; ngũ thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.[20] Những nguyên tắc này cần phải được theo đúng mới mong thỏa mãn các mối quan hệ trên. Trong Khổng giáo, tất cả những đức tính cần thiết này đều ràng buộc lẫn nhau để tạo nên một cấu trúc rường mối chặt chẽ. Chẳng hạn, con gái được dạy dỗ phải trung với vua và tuân phục chồng (tòng phu) bằng cách có hiếu với cha mẹ. Mối quan hệ tương ứng này được mô tả trong lời khuyên cho người vợ trong Gia huấn ca: “Dẫu ái ân cùng chiếu cùng giường, / Đạo chồng sánh quân thân chi đạo.”[21]

Trong xã hội Việt Nam hiện đại, nhiều người đã không đồng tình với quan niệm Tam tòng vì sự lỗi thời và hạ thấp phụ nữ – một tàn dư của thời phong kiến – nhưng Tứ đức vẫn còn giữ vai trò đáng kể. Trong những năm 1960, các nhà lãnh đạo cộng sản đã thúc đẩy việc nam tính hóa giới nữ một phần nào bằng cách nâng cao những giá trị đạo đức và trách nhiệm khác, hạ thấp sự dịu dàng của phụ nữ, và khuyến khích họ thể hiện những phẩm chất và cáng đáng những công việc xưa nay vốn vẫn dành cho đàn ông. Đó là tám chữ “vàng” (trong tiếng Việt, là bốn từ ghép, tám âm tiết), được Hồ Chí Minh dùng đầu tiên để ca ngợi phụ nữ miền Nam: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang; và Ba đảm đang: đảm trách nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, đảm trách quán xuyến gia đình, và đảm trách cả việc cầm súng khi cần.[22] Tuy thế, vào đầu thập niên 1970, trước khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, Hội Liên hiệp Phụ nữ bắt đầu lo lắng về những cô gái thành phố ăn nói ầm ĩ, dùng ngôn từ bất hảo, không chịu giúp đỡ mẹ làm việc nhà và hành xử theo những lối chẳng có nữ tính chút nào. Ashley Pettus giải thích, nỗi lo sợ là do các cô gái thành phố bắt đầu nhìn nhận bình đẳng giới không phải chỉ là “một điều khoản của sự phục vụ tập thể quốc gia” mà còn là một sự thoát khỏi những quy định khắt khe của một “nền văn hóa gia đình phụ hệ.”[23] Pettus tổng kết các bài báo trên tờ Phụ nữ Việt Nam, tờ báo của Hội Liên hiệp Phụ nữ, nhằm cổ vũ phụ nữ tìm kiếm sự cân bằng giữa “tư tưởng cách mạng và những giá trị phụ nữ truyền thống.”[24]

Từ khi công cuộc Đổi mới và nền kinh tế thị trường được tiến hành, Hội Liên hiệp Phụ nữ còn đẩy mạnh nội dung Tứ đức rầm rộ hơn cả những năm đầu thập niên 1970. Những nhà quản lý văn hóa của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện đại đã tìm cách giữ lại những giá trị đạo đức này, Pettus phân tích, như “một biện pháp luân lý tinh thần chống lại những lực lượng hỗn loạn của chủ nghĩa tư bản phương Tây.”[25] Theo Pettus, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường dẫn tới sự gia tăng tệ nạn xã hội – mại dâm, nghiện hút, sự tham lam vô độ và đầu óc chỉ biết đến tiền – làm bận tâm những nhà lãnh đạo đảng. Hội Liên hiệp Phụ nữ đã đáp ứng bằng việc đề xướng một chương trình cổ động “gia đình văn minh, văn hóa.” Chính quyền đã để cho báo chí được thảo luận điều mà Pettus gọi là “căn bệnh của tham vọng quá mức trong nữ giới,” là điều mà những nhà lãnh đạo đảng cảm thấy đang dẫn dắt phụ nữ bỏ bê nhiệm vụ của họ ở nhà. [26] Phụ nữ đang trở nên quá độc lập, quá bị chi phối bởi đồng tiền. Họ kết luận, phụ nữ cần phải “tìm về truyền thống,” hay có nghĩa là họ phải “trở lại thiên chức nội trợ.”[27]

Tứ đức chiếm một phần quan trọng trong quá trinh hồi phục thiên chức nội trợ này, mặc dầu đã được thay đổi chút ít. Lập trường của Hội Liên hiệp Phụ nữ là những giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ cần phải “kế thừa” và “phát huy.” Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ, một trong những điều cần thiết phải thay đổi là không nên hạn chế công việc của phụ nữ chỉ trong phạm vi nội trợ mà thôi. “Công” xưa nay được hiểu là áp dụng vào nấu nướng, may vá và coi sóc nhà cửa. “Công là đủ mùi xôi, thức bánh, / Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim” là kiểu được định nghĩa trong Gia huấn ca.[28] Trong một bài viết trên tạp chí Khoa học Xã hội năm 1992, Phạm Thị Hảo cho rằng “công” không nên hiểu đơn giản là việc nội trợ, mà còn phải là việc lao động bên ngoài với một nghề nghiệp và trong các công việc dịch vụ xã hội cộng đồng.[29] Tuy vậy, các nhà quản lý văn hóa lo lắng rằng khi càng ngày càng nhiều phụ nữ tìm được công việc ngoài nhà, họ sẽ đánh mất dần những giá trị phụ nữ. Khi một nhà báo phỏng vấn bà Nguyễn Thị Lập, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ [thành phố Hồ Chí Minh], rằng liệu bà có lo ngại việc phụ nữ ăn nói bỗ bã ầm ĩ, bà trả lời: “Không chỉ ầm ĩ đâu. Thậm chí còn có những phụ nữ, khi đàn ông ăn nhậu, họ cũng ăn! Và rồi còn có chuyện quan hệ tình dục bừa bãi nữa.”[30]

Các nhà quản lý văn hóa nhận thấy họ đang ở trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Họ không muốn tỏ ra mình có vẻ ủng hộ quan niệm phong kiến rằng đàn bà “khuê môn bất xuất,” nhưng họ thấy phiền lòng trước những thứ mà họ cho là ứng xử kém đạo đức của phụ nữ. Nhận định này dẫn họ tới chỗ coi Tứ đức cần phải nhấn vào “kế thừa” hơn là “phát huy.” Bà Nguyễn Thị Lập kết thúc bài trả lời phỏng vấn bằng việc khẳng định rằng “Tứ đức quan trọng trong mọi hoàn cảnh, và phụ nữ vẫn phải giữ vững điều đó trong nhận thức.”[31] Phụ nữ phải quay về thiên chức nội trợ, nhưng cũng nên có sự “phát huy” nào đó của giá trị “công.” Chiến dịch “gia đình văn minh, văn hóa” cổ vũ phụ nữ đảm đang không chỉ nấu nướng may vá mà còn cả những kiến thức khoa học hiện đại để “dinh dưỡng hợp lý, vệ sinh, sinh đẻ có kế hoạch, ‘dân chủ’ trong hôn nhân và nuôi dạy con tốt.”[32] Ở Việt Nam hậu Đổi mới, các nhà lãnh đạo đảng nhìn nhận gia đình hạt nhân được vận hành tốt là nhân tố chủ chốt cho sự phát triển quốc gia.

Một vấn đề mà các nhà đề xướng chương trình “gia đình văn minh, văn hóa” vấp phải là họ ngăn cấm phụ nữ tham gia kinh doanh và làm tiền trong khi các gia đình đang vật lộn sinh nhai. Khi đất nước chuyển đổi ngập ngừng từ một cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường, các hệ thống bao cấp nhà nước bị tiết giảm đi. Nhà nước rút ra khỏi lĩnh vực phúc lợi xã hội, và gia đình trở thành “nguồn phúc lợi xã hội và bảo đảm an toàn trên thực tế.”[33] Mặc dù các cơ hội cho hoạt động thương mại tư nhân tăng lên, không phải ai cũng có thể nắm bắt được lợi thế. Lê Vân chưa từng nhắc đến việc tham gia một cuộc họp nào của Hội Liên hiệp Phụ nữ hay đọc những bài báo của Hội, nhưng rõ ràng cô đã nhận được bài học về lối ứng xử phù hợp của phụ nữ từ Người ấy.[34]  “Ví dụ, đôi khi tôi có làm gì nói gì đó mà cao giọng một chút,” Lê Vân kể, “anh bảo ngay em đừng thế. Anh rất sợ những người đàn bà khoa chân múa tay, ăn to nói lớn.”[35] “Anh muốn gò tôi vào khuôn mẫu mang vẻ đẹp của một người đàn bà nhân hậu, nề nếp,” Lê Vân kể. “Tôi cũng muốn được như vậy lắm, nhưng ai sẽ nuôi tôi đây khi ông nhà nước không nuôi tôi nữa? Chẳng có cách gì khác là phải bươn chải thôi.” Lê Vân cảm thấy cô chỉ có thể làm được điều đó nhờ vào “tính khí đàn ông” của mình.[36]

Nhưng Lê Vân không thích đua tranh trong công việc. Cô không muốn dùng khía cạnh nam tính của mình ra để hoạt động kinh tế. Cô muốn là “một người vợ đúng nghĩa: hiền hậu, hết lòng với gia đình chồng con. Đó là những phẩm chất của phụ nữ Á đông mà tôi đã ‘bị ngấm’ từ khi nào không rõ.”[37] Nhưng cô thấy khó mà vừa thực hiện hình ảnh phụ nữ truyền thống lý tưởng vừa tồn tại được trong thời kỳ kinh tế nửa bao cấp nửa thị trường. [38] Cô phải tìm ra sự đảm bảo kinh tế, không chỉ cho bản thân mà cho cả gia đình mình. Cô nêu rõ, “Khi tôi nói, tôi phải làm cả phần việc của đàn ông, chính là nói đến cái mảng làm kinh tế gia đình mà tôi buộc phải gánh này.” [39] Lê Vân lo lắng về việc mất nữ tính trong bản thân mình nhưng nhận thấy điều đó là cần thiết, bởi vì xung quanh cô toàn những người đàn ông bạc nhược – bố, người tình đầu tiên và Chàng lãng tử. Cả bố cô lẫn Người ấy đều không thể chu cấp nổi cho gia đình của chính mình. Người ấy, mà Lê Vân gọi là “một nghệ sĩ đích thực, anh chẳng có chút khả năng nào để bung ra sống với thị trường,” thừa nhận với cô là cô giỏi hơn ông về kinh tế.[40] Chồng cô, Chàng lãng tử, có một nghề hướng dẫn du lịch nhưng không thể cạnh tranh được với những công ty làm ăn tốt hơn, vì thế anh kết thúc trong cảnh la cà quán cà phê và chẳng làm gì cả. Anh đề nghị Lê Vân tăng thêm thu nhập của họ bằng cách mở một nhà hàng.

Pettus cho rằng chiến dịch đưa phụ nữ về với thiên chức nội trợ được nạp nhiên liệu bằng nỗi sợ hãi của đàn ông về sự bạc nhược của chính họ và sự say sưa đồng tiền của phụ nữ. Bà nhận xét rằng những bài báo trên phương tiện thông tin đại chúng của nhà nước về những người vợ tham lam vô độ gửi tới một thông điệp cho phụ nữ trung lưu: hãy trở về với thiên chức nội trợ để định lại vị trí của mình; nếu không hôn nhân của bạn sẽ gặp rắc rối.[41] Chồng của Lê Vân, Chàng lãng tử, tuy vậy lại muốn cô trở nên tham vọng hơn nữa. “Vào thời điểm cả nước bung ra làm kinh tế tư nhân,” cô kể, “trong Nam, phong trào các nghệ sĩ tên tuổi tận dụng sự nổi tiếng để kiếm tiền phát triển ghê lắm,” và Chàng lãng tử “cũng hùa theo.” Nhưng Lê Vân từ chối. Sự bất đồng của họ về việc cô có nên lợi dụng danh tiếng của mình để kiếm tiền theo cô là “một nguyên nhân sâu xa vì sao tôi không thể sống cùng anh.”[42]

Sự từ khước của cô trong việc kiếm tiền khá hơn có gốc rễ từ quan niệm thế nào là một nghệ sĩ của cô. Cô nhận thấy bị hạ cấp khi múa trong những buổi lễ lạc hay tiệc tùng nơi mọi người mải ăn uống, chẳng chú ý mấy đến diễn viên. “Nhiều nghệ sĩ chân chính thà nghèo còn hơn bị nhục,” cô bình luận.[43] Cô cũng không chạy theo những hoạt động buôn bán khác: “Tôi không thể làm kinh tế bằng cách phơi mặt ra với đời như mở nhà hàng, quán bar hay kinh doanh shop quần áo, dịch vụ.”[44] Tuy vậy cô không phản đối việc cho thuê nhà, là việc cô cảm thấy lịch sự hơn trong cách kiếm tiền. Chàng lãng tử đưa tiền và họ xây một ngôi nhà cho họ và gia đình cô ở phố Thụy Khuê; rồi sau đó dùng ngôi nhà này làm tài sản thế chấp, đi vay tiền xây một ngôi nhà ở khu Hồ Tây, nơi họ cho thuê. Tiền thuê nhà này cho phép Lê Vân “tự cởi trói cho mình” – đạt được mục tiêu tự chủ về tài chính, một niềm tự hào lớn đối với cô.[45] Cô thừa nhận “món tiền ban đầu của chàng là một món tiền lớn,” nhưng khá lạ là sự thật này không ngăn cô khoe về việc mình đã “tự cởi trói” ra sao – cứu lấy bản thân cô, hoàn toàn do cô thôi, khỏi sự khốn cùng về tài chính.[46]

Sự từ khước của Lê Vân trước việc tận dụng danh tiếng của mình để làm thương mại – việc cô thực hiện một cách lịch sự hơn trong việc kiếm tiền – chắc chắn có gốc rễ không chỉ từ cảm nhận của cô về nghệ thuật mà còn từ một sự đối kháng xưa hơn và rộng hơn đối với nền thương nghiệp tư nhân trong văn hóa Việt Nam. Cả Nho giáo lẫn chủ nghĩa xã hội đều khuyến cáo nhân dân tin rằng tư thương là việc bất chính.[47] Trong lịch sử Việt Nam, thương nhân bị xếp hạng bét – sau sĩ, nông và công – trong hệ thống đẳng cấp xã hội. Lòng tin rằng phụ nữ là “nội tướng” khiến cho nhiều người vợ không sẵn lòng chiếm lĩnh không gian của đàn ông trong việc buôn bán ngoài xã hội. Trong khi đúng là phụ nữ Việt Nam, như phụ nữ khắp Đông Nam Á, đã tham gia buôn bán hàng thế kỷ, việc buôn bán như vậy được xem như một phần phụ thêm có thể chấp nhận được của nhiệm vụ gia chánh. Tuy vậy phụ nữ Việt Nam luôn ý thức rằng việc buôn bán của họ không giúp cho họ đạt được bình đẳng giới. Một câu ca dao đã nói: “Dù em buôn tây bán đông / Không bằng hơi thở của chồng em ra.”[48] Ở Việt Nam trước Đổi mới, đàn ông và phụ nữ đạt được bình đẳng giới bằng việc cùng làm trong các nhà máy và hợp tác xã nhà nước. Trí thức và nghệ sĩ không thể bán tài năng của họ cho nhà đầu tư nào đấu thầu họ với giá cao nhất; họ làm việc cho một cơ quan nhà nước và nhận đồng lương nhà nước. Như Pettus nói, ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tư thương bán hàng hóa hay dịch vụ chỉ là “một nhóm làm ăn không chính đáng.”[49] Nếu họ đi đến địa phương khác để mua bán, họ bị gọi là bọn buôn lậu.[50] Khi Đổi mới được triển khai, việc phụ nữ tham gia kinh doanh được chấp nhận hơn trong xã hội. Nhưng ngay lúc đó, những nhà quản lý văn hóa Hà Nội, lo ngại việc phụ nữ bỏ bê nhiệm vụ gia chánh, đã đưa ra chiến dịch để đưa họ trở về với việc nội trợ. Trong việc tiến hành chiến dịch này, họ biết họ có thể khơi lại những tín điều cũ, cả Nho giáo lẫn chủ nghĩa xã hội, về tầm quan trọng của việc chế ngự tham vọng kinh tế của phụ nữ.

Lê Vân chắc hẳn đã đón nhận nhiệm vụ gia chánh một cách nhiệt tình vì những lý do chính trị và cá nhân. Chiến dịch lành mạnh hóa gia đình của nhà nước và sự tấn công  vào những người phụ nữ hám tiền có ảnh hưởng đến cô phần nào, nhưng người đọc có cảm tưởng rằng cảm xúc của cô về sự thất bại trong việc tề gia của cha mẹ cô đã đóng một vai trò lớn hơn. Khi trở thành một người mẹ, cô quyết tâm làm tốt hơn họ. Tuy vậy, với việc phê phán cha mình, cô khó có thể được xem như một hình mẫu của ngôn, và với việc phản bội hai người tình, cô cũng thất bại trong việc thể hiện hạnh. Lê Vân cho mình tự do chọn lựa đức tính nào cô muốn trong bốn đức tính truyền thống này.


Hi sinh

Hi sinh! Không một từ nào trong tiếng Việt lại gắn chặt hơn với người phụ nữ. Theo quan niệm Khổng giáo cũng như xã hội chủ nghĩa, mọi người – đàn ông và phụ nữ – nên hạn chế  những đòi hỏi của mình để làm tốt hơn cho cộng đồng, nhưng người Việt luôn coi phụ nữ là những người chịu hi sinh giỏi hơn đàn ông. Hi sinh, là sự mất mát một cái gì có giá trị để đạt đến một cái gì có giá trị hơn. Từ này trong tiếng Việt này còn bao hàm nghĩa chịu đựng và chung thủy, và trong những mô tả về người phụ nữ Việt Nam truyền thống, từ hi sinh hay được đặt trong sự kết hợp của cả ba từ ghép này. Nhiều thứ buộc người phụ nữ phải hi sinh – đói nghèo, chiến tranh và thảm họa thiên nhiên, hay một bà mẹ chồng khắc nghiệt, hoặc một ông chồng có  nhiều đòi hỏi vô lý và/hoặc có tính lăng nhăng.

Sự hi sinh của phụ nữ được tôn vinh trong truyện, thơ và bài hát về những người phụ nữ ở nhà nuôi dạy con cái, cấy hái ngoài đồng ruộng và chăm sóc cha mẹ chồng trong khi người chồng đi đánh giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước.[51] Cũng có những câu chuyện và bài ca về những người phụ nữ chờ chồng quá lâu đến mức họ và đứa con bế trên tay hóa đá – một hình ảnh được gọi bằng tên “hòn vọng phu.”[52] Những người phụ nữ trong những câu chuyện “vọng phu” này tạo nên sự hy sinh và bày tỏ lòng chung thủy. Những đức tính này thường được kết nối với chiến tranh và lòng ái quốc bởi những vì người vợ hy sinh và chung thủy để cho chồng’ ra trận tin tưởng vợ mình sẽ gánh vác được việc hậu phương.

Thậm chí nếu chồng họ không phải đi xa để bảo vệ đất nước, phụ nữ Việt Nam vẫn bị đòi hỏi phải hi sinh. Trong nghiên cứu của mình tại miền Bắc Việt Nam vào những năm 1990, Tine Gammeltoft đã nhận thấy phụ nữ hi sinh sức khỏe và hạnh phúc của riêng mình để giữ cho gia đình được hạnh phúc. Khi giải thích cho lý lẽ của mình, những người phụ nữ này dẫn câu tục ngữ “Cá chuối đắm đuối vì con.”[53] (Gammeltoft giải thích: cá chuối giả chết để ngư dân bắt nó và để cho lũ cá con được yên.) Các văn bản truyền thống cũng đòi hỏi phụ nữ phải hi sinh cho dù chồng họ rượu chè cờ bạc hay lăng nhăng. Những văn bản đó khuyên phụ nữ nên khoan dung  cho những đam mê của chồng để giữ cho gia đình êm ấm. Trong một bài ca dao, một người vợ nói: “Khuyên anh cờ bạc thời chừa / Rượu chè, trai gái say sưa mặc lòng.”[54] Cờ bạc, rượu chè và theo đuổi người đàn bà khác đều là những ham mê, như CHTN Nha Trang giải thích, nhưng rượu và đàn bà chỉ hủy hoại thanh danh một người đàn ông, trong khi cờ bạc có thể làm lụn bại cả một gia đình. Với một người phụ nữ Việt Nam truyền thống thì “hạnh phúc gia đình quan trọng hơn cảm xúc cá nhân của mình, mặc dầu mình bị thương tổn trước sự dan díu của chồng mình với những người đàn bà khác.”[55] Duong nhận xét rằng phụ nữ Việt Nam là sản phẩm của một nền văn hóa mà “ưu tiên của cộng đồng cao hơn mọi mối bận tâm khác, kể cả vấn đề giới,” và vì thế người phụ nữ “phải tự xây dựng mối đồng thuận với đối tác nam giới của mình, thay vì cạnh tranh để giành một vị trí trong xã hội… Xu hướng giảm thiểu nhu cầu cá nhân của phụ nữ để lo cho nhu cầu gia đình là nguyên nhân khiến họ xem việc đề xuất một khái niệm bình đẳng giới có vẻ như một hành vi ích kỷ.”[56]

Tuy vậy, có một số dấu hiệu cho thấy phụ nữ Việt Nam ngày càng mệt mỏi hơn với việc hi sinh. Trong Hình ảnh người Phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI, Lê Thị Nhâm Tuyết băn khoăn tại sao “đàn ông Việt Nam quá thoải mái với việc là đàn ông trong khi phụ nữ luôn là nạn nhân của mọi định kiến, trong khi cùng lúc được nâng niu và trau chuốt trong vai trò là nguồn cảm hứng cho sáng tạo văn học nghệ thuật.”[57] Duong, người sống ở Mỹ, thì thẳng thắn hơn: “Chẳng lẽ tính nữ Việt Nam cứ phải luôn luôn bị đánh dấu bởi sự tử vì đạo hay sự hi sinh bất diệt sao?” Cô tổng kết: “Đức hi sinh quên mình từng giúp cho việc giành được độc lập dân tộc đã không còn thực dụng trong môi trường ngày nay khi mà các mưu đồ chính trị không phải lúc nào cũng phục vụ cho quần chúng. Đức hi sinh quên mình của phụ nữ chỉ kéo dài thêm công thức ‘nô lệ-ông chủ’.”[58]

Lê Vân không hẳn thẳng thắn như Duong, nhưng trong chương mà cô phê phán cha mình – trong một đoạn ngay sau khi cô nhắc đến chuyện ngoại tình của ông (“Hết người đàn bà này đến người đàn bà khác…”) – cô kể: “Nhiều người đàn bà giả mù, tặc lưỡi cho qua đời mình bằng một giao kèo nhiều tinh thần hi sinh nhưng cũng không ít ngu xuẩn rằng: miễn ông chu toàn nuôi con ăn học, tôi sẵn sàng chấp nhận sự ngoại tình của ông. Không hiểu từ đâu, từ bao giờ mà cái sự ‘ngậm bồ hòn làm ngọt’, biết chịu nhục, biết hi sinh lại trở thành những phẩm chất luôn được ca tụng ở đàn bà xứ Việt.”[59]

Lê Vân đã cho thấy trong đoạn này rằng cô ý thức được việc ca tụng ban tặng cho phụ nữ vì đức hi sinh của họ và sự chấp nhận không phản đối của phụ nữ về sự ca tụng này – sự thưởng thức của họ về sự “nâng niu và trau chuốt” này, như chữ của Lê Thị Nhâm Tuyết – đóng góp vào sự bị chế ngự của họ.[60] Chỉ khi người phụ nữ đã già, như Lê Vân nói, họ mới đặt câu hỏi về sự hi sinh:

Thân phận đàn bà nói chung thật muôn bề cay đắng. Từ lúc lấy chồng, cuộc đời người đàn bà có thêm bao gánh nặng. Chẳng ai bắt họ phải thế. Dường như là họ tự nguyện. Tự nguyện vất vả hi sinh để được nghe tiếng cười trong trẻo của con thơ; tự nguyện cắn răng chịu đựng khi biết chồng bội bạc để được thấy gia đình êm ấm đoàn tụ; tự nguyện nhoài lưng lo nuôi sống gia đình bởi xấu chàng hổ ai; tự nguyện hứng chịu mọi thua thiệt để đổi lấy hai chữ hạnh phúc. Trớ trêu thay, sau tất thảy sự hi sinh đức quên mình đó, họ chỉ tìm thấy bất hạnh. Tổ ấm hoá ra là không có thật, họ kín đáo giấu đi trái tim tan nát. Chỉ đến khi mái tóc đã điểm bạc, người chồng đã bỏ đi, con cái cũng ra đi nốt (vì nước mắt có bao giờ chảy ngược), người đàn bà mới giật mình tỉnh mộng. Đức hi sinh quên mình là thế này ư?[61]

Trong đoạn này về sự hi sinh, Lê Vân không phê phán phụ nữ vì hi sinh. Cô nói rằng sau khi có con, cô muốn “tự nguyện” và “hi sinh tất cả những ngày còn lại của cuộc đời cho hai đứa con.”[62] Cô kết tội phụ nữ không phải vì không hi sinh mà vì không nhận thức được các văn bản – các luật tục văn hóa liên quan đến sự hi sinh – đã bẫy họ và buộc họ phải hi sinh nhiều hơn đàn ông. Cô đổ lỗi cho họ đã thiếu một sự ý thức về nữ quyền. “Nhiều khi,” cô kể sau đoạn vừa dẫn, “tôi chỉ muốn kêu lên, gào lên: Người đàn bà ơi, hãy dũng cảm lên, hãy nhìn thẳng vào sự thật.”[63] Sự thể hiện thiếu nhất quán của Lê Vân – sự trách cứ của cô đối với phụ nữ khi chấp nhận sự ngoại tình trong khi bản thân cô lại dính vào những vụ ngoại tình như thế – trở nên dễ hiểu hơn và ít mâu thuẫn hơn khi ta nhận ra Lê Vân mong ước phụ nữ Việt Nam nên ý thức sâu xa về nữ quyền của mình. Nếu bạn có một người chồng ngoại tình, một người chồng không xứng đáng với sự hi sinh của bạn, cô dường như muốn nói, thì hãy li dị anh ta và tìm một người tốt hơn. Hãy cởi trói bản thân bạn ra khỏi mọi văn bản văn hóa đang ràng buộc phụ nữ. Lê Vân thương hại bản thân mình và những người đàn bà khác, nhưng bởi vì cô tin đàn bà vốn “ngu xuẩn” vì cứ hi sinh cho chồng, những người không đáng để họ hi sinh, nên cô không nhỏ một giọt nước mắt cá sấu nào cho họ. Đã từng vứt bỏ hai người đàn ông mà cô thấy không xứng cho mình, Lê Vân lẽ dĩ nhiên đã thực hành những gì cô đã phát ngôn.

Một phản hồi về cuốn tự truyện của Lê Vân đã minh chứng vì sao sự đề cao khả năng hi sinh của phụ nữ đã ngăn cản sự trỗi dậy của một ý thức nữ quyền. Phạm Ngọc Vân phản biện rằng, Lê Vân “đã rất khắc nghiệt lên án nhầm những người đàn bà thỏa hiệp, những người chấp nhận chồng có ‘bồ’ để giữ gia đình cho con. Nhưng khi đã là mẹ, chị đã bớt đi sự gay gắt. Chị bảo: ‘Thật lòng, tôi nguyện làm tất cả những gì có thể để giữ người bố cho chúng, vì tôi muốn hai con tôi được sống bình an trong tình yêu thương của một gia đình có bố mẹ hoà thuận hạnh phúc...’.”[64] Lời nguyện này, theo tác giả bài báo, chứng minh Lê Vân cũng mong muốn dâng hiến giống như mọi phụ nữ Việt Nam khác đang làm. Tác giả viết: “Chị xứng đáng được cảm thấy hạnh phúc trong sự dâng hiến đầy ý nghĩa này.”[65] Và vòng tròn luẩn quẩn lại được lặp lại: phụ nữ hi sinh, họ được ca tụng vì sự hi sinh của họ, và sự ca tụng này lại dẫn họ đến chỗ hoang mang đặt câu hỏi về giá trị và sự công bằng của sự hi sinh đó. Và vì thế phụ nữ Việt Nam lại tiếp tục “tự nguyện” hi sinh bản thân mình.



[1] Để có một nghiên cứu sâu về một “gia đình đa thê có tính cha truyền con nối cổ điển,” xem Hy V. Luong, Revolution in the Village: Tradition and Transformation in North Vietnam, 1925–1988[Cách mạng ở làng quê: Truyền thống và Biến đổi ở miền Bắc Việt Nam] (Honolulu: University of Hawai‘i Press, 1992), 71 và một số trang khác.

[2] Bài ca dao này được CHTN Nha Trang dẫn và dịch ra trong “Traditional Roles of Women,” 20.

[3] Truyện thơ này được Nguyễn Du viết khoảng năm 1800. Mọi câu được trích trong ngoặc kép đều lấy từ ấn phẩm song ngữ: Nguyễn Du, The Tale of Kiều [Truyện Kiều], Huỳnh Sanh Thông dịch (New Haven, CT: Yale University Press, 1983). Nếu không có chú dẫn nào khác, các phần dịch [trong bản tiếng Anh – ND] đều của Huỳnh Sanh Thông.

[4] Có một câu ca dao nổi tiếng: Đàn ông chớ kể Phan Trần / Đàn bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều. Thúy Vân là em Thúy Kiều, nhưng cả hai đều cùng chỉ một tác phẩm. Phan Trần là một truyện thơ khác, được viết cùng khoảng thời gian với Truyện Kiều. Trong tác phẩm có tác giả khuyết danh này, nam nữ nhân vật chính không tuân theo quy tắc yêu đương truyền thống.

[5] Truyện Kiều, câu 3115–3120, CHTN Nha Trang dịch trong “The Traditional Roles of Women, 154–155.

[6] Sđd., 155.

[7] Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 163.

[8] Sđd., 199.

[9] Sđd., 203.

[10] Về sự thú nhận này, xem Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 214.

[11] Sđd., 217.

[12] Sđd., 214 và 347.

[13] Người ấy gợi ý rằng cô nên gặp những người đàn ông “có tâm hồn” giống như Đặng Thái Sơn, một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng thế giới hiện sống ở Montreal. Xem Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 206.

[14] Xem Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 218. Dường như khá rõ ràng trong quan hệ của mình với Lê Vân, Người ấy nhìn nhận bản thân mình như một hình ảnh người cha, người thầy và một người tình được hòa thành một. Lê Vân nói rõ rằng với cô, ông vừa là thầy vừa là người tình và cũng gợi nhắc rằng ông như một người cha thay thế (164).

[15] “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.” Xem Nguyễn Du, Truyện Kiều, Huỳnh Sanh Thông dịch, câu 2370.

[16] CHTN Nha Trang, “Traditional Roles of Women,” 46.

[17] Xem Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 313.

[18] Sđd., 242.

[19] “Xã hội phong kiến đã đề cao những tiêu chuẩn đạo đức phụ nữ kết thành bốn chữ: tam tòng tứ đức, song song với tam cương ngũ thường của nam giới.” Xem Phạm Thị Hảo, “Từ quan niệm tứ đức của phong kiến bàn thêm về người phụ nữ với hạnh phúc gia đình”, Tạp Chí Khoa Học Xã Hội 13, số 3 (13-III/92) (1992): 125.

[20] Trong tiếng Hán Việt, mối quan hệ thứ ba này là “phu-phụ”; trong tiếng Việt gọi là “vợ chồng”. Các học giả muốn xác quyết sự bình đẳng giới ở Việt Nam tốt hơn so với tương ứng ở Trung Quốc đã nhấn mạnh vào dữ liệu rằng người Việt đặt người vợ lên trước khi họ chỉ một cặp hôn nhân. Ví dụ, xem Ngô Vĩnh Long, Vietnamese Women in Society and Revolution, vol. 1,
The French Colonial Period [Phụ nữ Việt Nam trong xã hội và cách mạng, tập 1, Thời kỳ thuộc địa Pháp] (Cambridge, MA: Vietnam Resource Center, 1974), 31; và Nguyen Van Ky, “Rethinking the Status of Vietnamese Women in Folklore
and Oral History,” [Suy nghĩ lại về địa vị phụ nữ Việt trong dân gian và lịch sử truyền khẩu] trongViet-Nam Exposé: French Scholarship on Twentieth-Century Vietnamese Society, [Khám phá Việt Nam: Nghiên cứu tiếng Pháp về xã hội Việt Nam thế kỷ hai mươi] Gisele L. Bousquet và Pierre Brocheux chủ biên (Ann Arbor: University of Michigan Press, 2005), 94–95.

[21] Xem Nguyễn Trãi, Gia huấn ca, in lần thứ 3 (Sài Gòn: Tân Việt, 1953), 27. CHTN Nha Trang dịch trong “Traditional Roles of Women,” 36.

[22] Ngo Thi Ngan Binh, “The Confucian Four Feminine Virtues (tứ đức): The Old Versus the New—kế thừa Versus phát huy,” [Tứ đức Nho giáo: Cũ và mới, kết thừa và phát huy] trong Gender Practices in Contemporary Vietnam, [Thực tiễn về giới ở Việt Nam đương đại] Lisa Drummond và Helle Rydstrom chủ biên (Singapore: Singapore University Press, 2004), 52; Ashley Pettus,Between Sacrifice and Desire: National Identity and the Governing of Femininity in Vietnam [Giữa hi sinh và khao khát: Căn tính quốc gia và Sự ngự trị của tính nữ ở Việt Nam] (New York: Routledge, 2003). 43.

[23] Pettus, Between Sacrifice and Desire, 60.

[24] Sđd., 60–63.

[25] Sđd., 81.

[26] Sđd. 112.

[27] Sđd., 124.

[28] Nguyễn Trãi, Gia huấn ca, 26.

[29] Phạm Thị Hảo, “Từ quan niệm tứ đức của phong kiến,” 127.

[30] Phỏng vấn này được lấy từ Lê Thị Nhâm Tuyết, Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, 15.

[31] Sđd., 15–16.

[32] Pettus, Between Sacrifice and Desire, 12.

[33] Barbieri và Bélanger chủ biên, Reconfiguring Families, 23.

[34] Cô cũng đã biết về những nguy hiểm của việc từ bỏ những giá trị đạo đức truyền thống và trở nên quá ham muốn tiền bạc qua sách vở và phim ảnh, như trong bộ phim Bao giờ cho đến tháng mười (1984) mà cô đóng, và những phim khác cùng thời như Thị trấn yên tĩnh (1986), Anh và em(1987), và Tướng về hưu (1989). Những phim này đối lập những phụ nữ tham lam với những cựu chiến binh trong sạch, như Mark Bradley chỉ ra, có một sự phê phán mang khía cạnh giới về giá trị con người trong nền kinh tế thị trường. Xem Mark Philip Bradley, “Contests of Memory: Remembering and Forgetting War in the Contemporary Vietnamese Cinema,” [Những cuộc so tài của ký ức: Nhớ và quên chiến tranh trong điện ảnh Việt Nam đương đại] trong The Country of Memory: Remaking the Past in Late Socialist Vietnam, [Đất nước của ký ức: Tái hiện quá khứ ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa gần đây] Hue-Tam Ho Tai biên tập (Berkeley: University of California Press, 2001), 196–226.

[35] Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 140 và 160.

[36] Sđd., 140 và 151.

[37] Sđd., 359.

[38] Người Việt dùng từ “bao cấp” để nói về nền kinh tế trước Đổi mới, khi nhà nước là nhà sử dụng lao động chủ yếu và là nhà cung cấp các dịch vụ xã hội.

[39] Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 140.

[40] Sđd.

[41] Pettus, Between Sacrifice and Desire, 127.

[42] Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 107.

[43] Sđd., 108.

[44] Sđd., 109.

[45] Sđd., 357. Trong phần tôi viết có tên “Tự vận động,” tôi giải thích vì sao Lê Vân lại đặt từ cởi trói trong ngoặc kép. Thuật ngữ này được dùng rất nhiều sau Đổi mới ở Việt Nam. Cô kể, “Với cách này, tôi đã có một khoản thu nhập hàng tháng đủ để mang lại tự do cho bản thân mình” (Tr.109).

[46] Sđd., 248. Cô đã khoe về việc tự dành dụm trong trang 109, 151 và 357. Cô cũng kể Người ấy đã khen cô vì “tự cởi trói” (Tr.140).

[47] Xem Pettus, Between Sacrifice and Desire, 175. Buôn bán tư nhân ít bị nghi ngờ ở miền Nam hơn so với ở miền Bắc. Xem Philip Taylor, Searching for Modernity in Vietnam’s South.

[48] Dù em buôn tây bán đông / không bằng hơi thở của chồng em ra. Một bà bán hàng khô 60 tuổi ở chợ Đồng Xuân, Hà Nội đã dẫn câu ca dao này ra trong một cuộc phỏng vấn hồi giữa những năm 1990. Xem Pettus, Between Sacrifice and Desire, 183.

[49] Sđd., 129.

[50] Truong Huyen Chi, “A Home Divided: Work, Body, and Emotions in the Post-Doi Moi Family,” [Một nhà phân ra: Công việc, Thể xác và Cảm xúc trong gia đình hậu Đổi Mới] trong Barbieri và Bélanger chủ biên, Reconfiguring Families, 315.

[51] Ví dụ, xem Chinh phụ ngâm, Huỳnh Sanh Thông dịch, An Anthology of Vietnamese Poems[Tuyển tập thi ca Việt Nam] (New Haven, CT: Yale University Press, 1996), 401–418. Cũng xem thêm truyện “Thiếu Phụ Nam Xương”, được Maurice M. Durand và Nguyen Tran Huan thuật lại trong An Introduction to Vietnamese Literature, [Một giới thiệu về văn học Việt Nam] D.M.Hawke dịch (New York: Columbia University Press, 1985), 65–69.

[52] Ví dụ, xem “Sự tích đá vọng phu” và “Sự tích đá bà rầu” trong Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1 (HCMC: Văn Nghệ, 1999), 181–188. Về ca khúc, xem và nghe chùm bài “Hòn vọng phu” 1, 2, 3 của Lê Thương.

[53] Cá chuối đắm đuối vì con. Xem Tine Gammeltoft, “‘Faithful, Heroic, Resourceful’: Changing Images of Women in Vietnam,” [Trung hậu, Anh hùng, Đảm đang] trong Vietnamese Society in Transition, [Xã hội Việt Nam trong sự chuyển đổi] John Kleinen chủ biên (Amsterdam: Het Spinhuis, 2001), 274.

[54] CHTN Nha Trang trích dẫn và dịch trong “Traditional Roles of Women,” 184.

[55] Sđd.

[56] Duong , “Gender Equality and Women’s Issues,” 25.

[57] Lê Thị Nhâm Tuyết, Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, 11–12.

[58] Duong, “Gender Equality and Women’s Issues,” 56.

[59] Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 52–53.

[60] Lê Thị Nhâm Tuyết, Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, 12.

[61] Lê Vân và Bùi Mai Hạnh, Lê Vân: Yêu và Sống, 344–345.

[62] Sđd., 299 and 322.

[63] Sđd., 345.

[64] Phạm Ngọc Vân, “Lê Vân tìm thấy hạnh phúc trong sự dâng hiến”,www.talawas.org/talaDB/suche.php?
res=8728&rb=0508 (truy cập 26 tháng Bảy 2008). Ông trích dẫn từ trang 322 của cuốn tự truyện.

[65] Cùng bài trên.

NHÌN NHẬN TRƯƠNG VĨNH KÝ THẾ NÀO CHO ĐÚNG? *

                                              Hoàng Văn Lân và Đặng Huy Vận   I. Q uan điểm xét vấn đề B ước vào nửa sau thế kỷ XIX, với sự ...