Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

NGUYỄN THẾ TRUYỀN (1898-1969)*

                                                                                         Đặng  Thị  Vân Chi

Nguyễn Thế Truyền là một người yêu nước, một nhà cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông sinh ngày 17-12-1898 tại làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Thân sinh ra ông là cụ Tú tài Nguyễn Duy Nhạc. Cụ hai lần đậu Tú tài nên được gọi là Tú tài kép. Ông nội của ông là Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn, đậu cử nhân Hán học khoa thi năm 1886 trước khi ra làm quan. Cụ nội của ông là Nguyễn Ngọc Quỳnh, đậu cử nhân năm 1850, làm tri huyện huyện Hàm Yên, Tuyên Quang. Cụ Nguyễn Ngọc Quỳnh sau khi cáo quan đã về Nam Định và Thái Bình khai khẩn đất đai miền ven biển Giao Thủy (Nam Định), Tiền Hải (Thái Bình) và sớm trở nên giàu có. Cụ sở hữu hàng ngàn mẫu ta đất đai.

          Thuở nhỏ, từ khi mới 7 tuổi, Nguyễn Thế Truyền đã được ông nội là cử nhân Nguyễn Duy Hàn, làm quan ở Thái Bình (làm Án sát từ 1903 đến 1905 và làm Tuần phủ từ 1906 đến 1913) nuôi dạy. Ông được cho học ở Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Thái Bình. Ông sớm tỏ ra là một học sinh thông minh, học rất xuất sắc, vì vậy ngay từ cuối năm 1910, khi mới 12 tuổi, chưa tốt nghiệp tiểu học, nhờ sự bảo lãnh của một người Pháp, ông đã được ông nội gửi sang Pháp học tập.

           Tại Pháp, ông được gửi vào học nội trú tại trường tư thục Parangon, một trường của hội Pháp văn Đồng Minh (Alliance Francaise) ở ngoại ô Paris. Ông học rất xuất sắc, vì thế từ năm 1913, ông được nhận học bổng của chính quyền thuộc địa ở Đông Dương là 1200 Fr /1 năm, tương đương 40 đồng Đông Dương /1 tháng, bằng gấp rưỡi lương của 1 giáo viên tiểu học tại Việt Nam.

 Năm 1915, chỉ trong 5 năm (từ 1910 đến 1915), ông đã học xong chương trình cao đẳng tiểu học, chương trình trung học và thi đậu bằng Brevest Supérieur, tương đương với bằng Tú tài toàn phần ở tuổi 17. Sau khi nhận bằng Brevest Supérieur, ông trở về Việt Nam thăm gia đình.

Năm 1916, Nguyễn Thế Truyền trở lại Pháp học đại học cùng 2 người họ hàng là Nguyễn Đương Năng, Nguyễn Đương Rục. Đến Pháp 2 người này đều đổi tên là Nguyễn Thế Vinh và Nguyễn Thế Rục. Cả 2 người này sau đều tham gia tổ chức của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Đặc biệt, Nguyễn Thế Rục trở thành người cộng sản, góp phần vào việc viết Luận cương chính trị của Đẳng Cộng sản Đông Dương năm 1930.

Từ năm 1916 đến năm 1920, Nguyễn Thế Truyền theo học Trường đào tạo kỹ sư Hóa học và Đại học Khoa học tại thành phố Toulouse, miền Nam nước Pháp.

 

 Năm 1920, ông về Việt Nam với hai tấm bằng Đại học (Kỹ sư Hóa học và Cử nhân Khoa học), ông trở thành thần tượng của các thanh niên trí thức Việt Nam khi là người đầu tiên ở Bắc Kỳ có bằng Cử nhân Khoa học tại Pháp.

Trong thời gian học tại Pháp từ năm 1910 tới 1920, Nguyễn Thế Truyền chỉ tập trung cho việc học tập, không tham gia các hoạt động chính trị, mặc dù thời gian này, cộng đồng người Việt Nam tại Pháp ngày càng tăng, đặc biệt trong thời gian chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), khi chính phủ Pháp huy động nhân dân từ các nước thuộc địa cùng chịu gánh nặng chiến tranh cho “Mẫu quốc”. Vào cuối cuộc chiến tranh, số người Việt tại Pháp lên tới gần 50 nghìn người, là cộng đồng người nước ngoài lớn nhất tại Pháp. Trong số này phần lớn là những người lao động sang Pháp phục vụ trong quân đội, đi lính, làm lính thợ, làm y tá... phục vụ cuộc chiến, có một số là học sinh, sinh viên sang Pháp du học, cũng có những người tới Pháp làm việc, hoặc vì mục đích chính trị như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc).

Phan Châu Trinh[1] là nhà yêu nước và cách mạng nổi tiếng của phong trào đấu tranh theo khuynh hướng cải lương, ông là người tham gia và ủng hộ nhiệt liệt phong trào Đông Kinh Nghĩa thục, là người lãnh đạo phong trào Duy Tân, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Năm 1908, ông bị bắt và bị kết án tử hình (sau đổi thành án bị đày vĩnh viễn ngoài Côn Đảo). Trước sức ép đấu tranh của quần chúng nhân dân, năm 1911, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương đưa ông sang Pháp. Tại đây ông đã yêu cầu xem xét lại các bản án của chính quyền thuộc địa đối với những người yêu nước Việt Nam và viết nhiều bài báo tố cáo chế độ thuộc địa ở Đông Dương như Đông Dương chính trị luận.

Tháng 1-1912, Phan Châu Trinh cùng Phan Văn Trường[2] đã thành lập Hội đồng bào thân ái (La Fraternite’). Hai ông tổ chức nhiều buổi diễn thuyết về những nguyện vọng của người Việt Nam đối với chính quyền thuộc địa ở Đông Dương. Phan Văn Trường đậu Tiến sĩ Luật năm 1919 và nhờ thời gian đi nghĩa vụ quân sự trong chiến tranh nên ông có ảnh hưởng đối với binh lính và lính thợ người Việt ở Pháp. Những hoạt động của 2 ông đã thu hút sự quan tâm của những trí thức đang học tập tại Pháp và dần dần những người yêu nước tập hợp chung quanh các ông.

 Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc cũng tới Paris, ông đã tìm gặp Phan Châu Trinh, là người có những mối quan hệ quen thân với cha ông là Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (cả hai người Nguyễn Sinh Sắc và Phan Châu Trinh đều đậu Phó bảng kỳ thi Hội  khoa Tân Sửu 1901 tại Huế). Nhờ mối quan hệ này, Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng hòa mình vào phong trào yêu nước của người Việt Nam tại Pháp những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất.  

Tháng 8-1921, Nguyễn Thế Truyền sang Pháp du học lần thứ ba. Lần này ông cũng được học bổng của chính phủ Đông Dương cấp. Ở Pháp ông theo học bậc Tiến sĩ khoa học tại đại học Sorbonne, ban Vật lý và Thiên văn học. Ông cũng ghi danh học ban Văn khoa, học cử nhân Triết học tại trường này và chỉ trong một năm rưỡi, từ tháng 8-1921 đến cuối năm 1922, ông đã lấy bằng Cử nhân Triết học.

Cũng trong thời gian quay lại Pháp du học lần thứ ba này, chịu ảnh hưởng của Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, cũng như những hoạt động đấu tranh của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp sau chiến tranh, với tư cách của một trí thức đang làm luận án Tiến sĩ khoa học, ông có điều kiện quan hệ và kết thân  với nhiều trí thức và  những nhà hoạt động xã hội có tên tuổi ở Pháp như: Lagrosillière, thủ lĩnh Luật sư đoàn ở đảo Martinique, các dân biểu Pau Vaillant- Couturier, Marcel Cachin, thuộc Đảng cộng sản Pháp,  Giáo sư, Thạc sĩ triết học Félicien Challaye của học viện Pháp, nhà văn Romain Rolland, Henri Barbusse, Victor Marguerite... Nguyễn Thế Truyền bắt đầu tham gia vào các hoạt động yêu nước tại Pháp. Ông cũng thân thiết với các nhà văn nhà báo quan tâm và viết nhiều sách báo về vấn đề thuộc địa và Đông Dương như bà Andrée Viollis viết cuốn Indochine SOS (Đông Dương kêu cứu), ông Léon Werth viết cuốn Cochinchine (Nam Kỳ) tố cáo chính sách đàn áp của Pháp tại Nam Kỳ... nhà báo  Amédée Clémenti, chủ bút báo L’ Argus Indochinois ở Hà Nội, nhà báo Ernest Babut, nhân viên Hội nhân quyền, nhà báo Dejean de la Bâtie viết báo Tiếng chuông rè (La Cloche Fêlée ) ở Sài Gòn ... và qua họ, ông lên tiếng về những vấn đề về chính sách của Pháp ở Đông Dương... Những hoạt động của ông trong thời gian này gắn liền với những hoạt động yêu nước của người Việt Nam tại Pháp, đặc biệt nhóm “Ngũ Long” gồm: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Ái Quốc.

 Năm 1922, Nguyễn Thế Truyền gia nhập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa (Union intercoloniale) được thành lập vào tháng 7-1921, gồm những người từ các thuộc địa của Pháp với mục tiêu đấu tranh với chính phủ Pháp phải cải tổ chế độ cai trị của Pháp tại các thuộc địa cũng như cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân các nước thuộc địa của Pháp.

Tháng 4-1922, báo Người cùng khổ (Le Paria), cơ quan ngôn luận của Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa ra số đầu tiên. Báo ra mỗi tháng 1 kỳ viết bằng tiếng Pháp, chữ Hán và tiếng Ả Rập. Từ số 9 ra ngày 1-12-1922, ông Nguyễn Thế Truyền bắt đầu viết bài cho báo Le Paria. Ngay trong bài báo đầu tiên này, Nguyễn Thế Truyền đã lên tiếng bênh vực Nguyễn Ái Quốc đả kích lại ý kiến của báo La Dépêche Coloniale (Bản tin Thuộc địa)  khi nói Nguyễn Ái Quốc chẳng được nhân dân Việt Nam trao cho sứ mạng gì. Ông viết: “Nguyễn Ái Quốc có tham vọng giải phóng đồng bào khỏi sự kìm kẹp của thực dân Pháp, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam. Hỏi có tham vọng nào đẹp hơn không? Nguyễn Ái Quốc không được chính quyền Đông Dương ủy nhiệm bày tỏ ý kiến trên báo Le Paria, nhưng tiếng nói của Nguyễn Ái Quốc là phản ánh niềm khát vọng của người dân Việt Nam muốn được cơm no, áo ấm, được tự do, không bị áp bức. Tiếng nói của Nguyễn Ái Quốc là tiếng nói của toàn dân Việt Nam. Vậy các ông ở báo La Dépêche Coloniale hãy im mồm lại, đừng vu khống nữa”[3].

 Từ cuối năm 1922 đến năm 1924 các bài viết của ông trên Le Paria bên cạnh đả kích chế độ quan lại, bộ máy chính quyền thực dân, ông cũng nhắc đến nhiều những tấm gương đấu tranh của những người yêu nước Việt Nam hi sinh vì đất nước như Phạm Hồng Thái[4], Phan Tuấn Phong, Phan Trọng Kiên[5]...

Năm 1925, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa và làm chủ bút báo Le Paria. Tờ báo này đã phát hành tăng số lượng bản báo từ 2.000 lên tới 5.000 rồi 10.000 bản vào năm tháng 5 năm 1925. Trong đó, số báo được gửi về nước cũng tăng từ 200 lên 1.000 bản.

 Sau hơn 10 năm sống ở Pháp, năm 1924, sức khỏe của cụ Phan Châu Trinh ngày càng giảm sút. Nhờ những mối quan hệ của mình ông Nguyễn Thế Truyền tích cực vận động cũng như làm mọi việc cần thiết để đưa cụ trở về Việt Nam vào ngày 25-8-1925. Nguyễn Thế Truyền đã biến bữa tiệc liên hoan chia tay cụ Phan Châu Trinh hồi hương thành một sự kiện chính trị, là dịp để quảng bá cho cuộc đấu tranh với chính quyền thuộc địa về các quyền tự do cho những nhà hoạt động cách mạng Việt Nam.

Năm 1925, Phan Bội Châu bị Pháp bắt, Pháp bí mật không để lọt tin tức ra bên ngoài, nhưng chính Nguyễn Thế Truyền qua mối quan hệ của mình với các trí thức, nhân sĩ tiến bộ cũng như các nhà báo Pháp đã báo tin cho các báo ở Việt Nam lên tiếng tố cáo chính quyền thực dân đã bắt cụ Phan Bội Châu một cách trái phép. Ngày 3-12-1925, Nguyễn Thế Truyền tổ chức một cuộc mít tinh tại Hội Trường Hội Bác học để phản đối việc Hội đồng Đề hình Hà Nội kết án khổ sai chung thân đối với cụ Phan Bội Châu. Những hoạt động tích cực của ông đã góp phần làm dấy lên phong trào đòi trả tự do cho Phan Bội Châu trong cả nước. Kết quả là ngày 24-12-1925 Toàn quyền Đông Dương Varenne phải ra quyết định ân xá cho cụ Phan Bội Châu, cho cụ được an trí tại Huế.

 Từ cuối năm 1922, đầu năm 1923, khi còn ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã đăng quảng cáo về việc sẽ  ra một tờ báo tiếng Việt lấy tên báo là Việt Nam hồn, tuy nhiên số người đăng ký mua không nhiều, nên không thể xuất bản được. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc sang Nga. Vì vậy, cuối năm 1925, Nguyễn Thế Truyền chủ động cho xuất bản tờ báo này. Báo Việt Nam hồn do Nguyễn Thế Truyền làm chủ bút ra số đầu tiên ngày 1-1-1926 được sự đón nhận của Việt kiều tại Pháp cũng như đông đảo thanh niên và trí thức trong nước. Họ truyền tay nhau đọc và học thuộc lòng những bài thơ hừng hực cảm xúc khát khao được đấu tranh và cống hiến cho Tổ quốc Việt Nam:

Hăm nhăm triệu đồng bào nổi dậy

Đuổi quân thù ra khỏi giang sơn

Chớ sao ngậm oán nuốt hờn

Để mang nỗi nhục cho hồn Việt Nam

Bẻ xiềng xích phá vòng nô lệ

Đem máu đào rửa hận non sông

Hỡi đàn con cháu Lạc hồng

Chớ mê giấc ngủ còn hòng việc chi[6]

Báo Việt Nam Hồn trở thành tiếng nói của sinh viên và người lao động Việt Nam vì mục tiêu đấu tranh bênh vực quyền lợi của người dân Việt Nam, đòi các quyền tư do chính trị,  tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do đi lại, cùng nhau trao đổi, cùng nhau  mở rộng hiểu biết, cùng tiến bộ, cùng đoàn kết, không phân biệt giàu nghèo, người lao động hay trí thức, không phân biệt các khuynh hướng chính trị, tư tưởng và tôn giáo, tín ngưỡng... Và trên hết, tất cả vì mục tiêu chung là giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách đô hộ của thực dân. Báo Việt Nam hồn ra được 8 số thì bị đình bản. Sau khi bị đình bản Báo Việt Nam hồn vẫn xuất bản bí mật, và có 4 số lấy tên là Hồn Việt Nam.

 Ngoài viết báo, Nguyễn Thế Truyền còn đi diễn thuyết chỉ trích chính sách thực dân ở thuộc địa như kiểm duyệt báo chí, các loại thuế vô lý...

Năm 1926, cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc xuất bản ở Paris, Nguyễn Thế Truyền đã viết lời giới thiệu cuốn sách. Năm 1946, cuốn sách được xuất bản tại Hà Nội cũng vẫn còn lời giới thiệu của ông.

Trong những năm 1925, Nguyễn Thế Truyền gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và đến dự các lớp học về chủ nghĩa cộng sản. Ông được Đảng cộng sản Pháp tín nhiệm. Nhờ đó ông đã giới thiệu một số thanh niên yêu nước như Nguyễn Thế Rục,  Nguyễn Thế Vinh, Đặng Đình Thọ sang Liên Xô học tập qua sự giới thiệu của Đảng Cộng sản Pháp. Những thanh niên này đã vào học ở Đại học phương Đông, ngôi trường được coi là “mái nhà ấp ủ tương lai của các dân tộc thuộc địa”. Trong số những thanh niên này, nhiều người đã trở thành những chiến sĩ cộng sản trung kiên có nhiều đóng góp cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam như Nguyễn Thế Rục,...

Đầu năm 1927, ông xin thành lập Đảng Việt Nam độc lập do ông làm chủ tịch. Mục tiêu của Đảng là đấu tranh giành độc lập dân tộc, liên minh với Pháp và trở thành một thành viên của Liên hợp quốc.

            Đảng Việt Nam độc lập ra báo Phục Việt làm cơ quan ngôn luận của Đảng.

           Tháng 12-1927 Nguyễn Thế Truyền trở về Việt Nam cùng vợ và các con. Những tin đồn về việc ông dự định  đòi thành lập chính phủ độc lập đã khiến ông bị chính quyền thực dân o ép, gây khó dễ sau khi ông từ chối các lời đề nghị hợp tác cũng như sự ưu đãi của chính quyền thuộc địa dành cho ông. Chính vì vậy, mặc dù ở Pháp, Đảng Việt Nam độc lập bị Pháp giải tán, nhưng trong khoảng thời gian từ 1928-1934 ở Việt Nam ông cũng  không thể hoạt động chính trị hay làm gì khác cho Đảng Việt Nam độc lập. Ông cùng gia đình sống bằng hoa lợi vừa phải từ số ruộng đất của gia đình. Gia đình ông sống giản dị tại thành phố Nam Định.

               Tháng 3-1934, Nguyễn Thế Truyền quay trở lại Pháp, lần đến Pháp này ông liên hệ với các đảng viên cũ của Đảng Việt Nam độc lập, đi diễn thuyết nhiều nơi về chủ nghĩa quốc gia, hoạt động trong Ủy ban đòi ân xá tù chính trị Đông Dương và bào vệ dân ở các nước thuộc địa và tích cực  hoạt động  đấu tranh  đòi độc lập tự do cho Đông Dương.

           Tháng 8-1938 Nguyễn Thế Truyền trở về Việt Nam. Năm 1940, Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp nghi ngờ ông có liên hệ với những người yêu nước tại Trung Quốc và Nhật Bản để lật đổ chính quyền của Pháp nên ông và em trai là Nguyễn Thế Song bị Pháp bắt đưa đi đày ở Madagasca. Đến tháng 8-1946, sau khi Việt Nam giành được độc lập, ông mới được trả tự do. Khi từ Madagasca về, ông sống ở Sài Gòn cho đến lúc mất vào ngày 16-9-1969.

          Mặc dù những năm cuối đời, từ sau khi bị đi đày ở Madagasca trở về, ông không làm được gì nhiều cho Việt Nam theo lý tưởng của ông, dù ông yêu nước theo cách riêng của mình, nhưng cuộc đời của ông là cuộc đời của một thanh niên trí thức yêu nước nhiệt thành. Sinh ra trong một gia đình khá giả, được đi du học từ sớm, ông hoàn toàn có thể chọn sống một cuộc đời vinh hoa, phú quý, nhưng ông đã chọn sống một cuộc đời tranh đấu vì độc lập dân tộc, vì tự do cho nhân dân. Ông xứng đáng được tưởng nhớ tôn vinh.

                                                                            Bản thảo hoàn thành tháng 12/1923

* Bài đã đăng trong:

 1. Nhà báo Quốc Phong ( CB) (1924), Hành Thiện- Ngôi làng hình cá chép, huyền thoại và lịch sử, tập 2, NXB Thanh Niên

2. Địa chí Nam Định ( 2025), Nhân vật chí tập 5 , NXB Hồng Đức

 

 

Tài liệu tham khảo:

- Đặng Hữu Thụ (1993), Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, Quick Print- Trùng Dương, Virtry sur- Seine.

- Đặng Hữu Thụ (1995), Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chaateau - 400 Liège- Belgique.

- Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Đặng Huy Vận, Nguyễn Văn Sự (1960), Lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.



[1] Phan Châu Trinh (1872- 1926), quê quán tại làng Tây Lộc, huyện Tuy Phước tỉnh Quảng Nam, tên tự là Tử Án, hiệu là Tây Hồ, bút hiệu là Hy Mã. Ông đậu cử nhân năm 1900 và đậu phó bảng năm 1901, năm 1903, ông làm thừa biện Bộ Lễ tại Huế. Đến năm 1905 ông từ quan và bắt đầu vận động yêu nước, tham gia phong trào Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục.

[2] Phan Văn Trường (1878-1933) là người làng Đông Ngạc, phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông nay là Hà Nội. Ông học trường Dòng ở Hà Nội, làm thư ký thông ngôn cho Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, năm 1908 ông được cử sang Pháp làm việc tại trường Ngôn ngữ Phương Đông (Rép’titeur à  l’É cole des Langues Orientales) tại Paris. Trong thời gian làm việc tại trường này, ông đã kịp lấy bằng cử nhân luật. Đến năm 1912 vì tham gia hoạt động chính trị nên ông thôi việc và xin làm Luật sư tập sự tại Tòa thượng thẩm Paris.

[3] Đặng Hữu Thụ (1993), Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, Quick Print- Trùng Dương, Virtry sur- Seine.

[4] Liệt sĩ  ném bom ám sát Toàn quyền Đông Dương ở Sa Điện.

[5] Là hai chiến sĩ tham gia phong trào Đông Du.

[6] Đặng Hữu Thụ (1993), Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn thế Truyền, Quick Print- Trùng Dương, Virtry sur- Seine, tr.74.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

NGUYỄN THẾ TRUYỀN (1898-1969)*

                                                                                          Đặng  Thị  Vân Chi Nguyễn Thế Truyền là một người ...