Đặng Thị Vân Chi
Đặng
Đoàn Bằng là một nhà yêu nước, một chiến sĩ của phong trào Đông du chống Pháp đầu thế kỷ XX. Ông có tên thật là Đặng Hữu Bằng
quê ở làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường (nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường,
tỉnh Nam Định). Tên tự của ông là Đoàn Bằng, được đặt theo sách của Trang Tử
từ ý “chim bằng dời đến lánh ở bể Nam Minh, nước dào dạt đến 3 ngàn dặm, nó
tựa vào cơn gió lốc vượt lên chín vạn dặm và nương theo gió lớn tháng 6 mà bay
đi” mang theo mong muốn con trai có ý chi cao xa, có sự nghiệp hiển hách của
người cha. Trong thời gian tham gia phong trào Đông Du, ông còn có tên là Đặng
Xung Hồng, Đặng Sư Mạc…
Đặng Hữu Bằng sinh
năm 1883 trong một gia đình có truyền thống khoa cử. Thân sinh ra ông là Tiến
sĩ Đặng Hữu Dương. Cụ Đặng Hữu Dương sinh năm 1860, đậu cử nhân năm 1879, đậu Tiến sĩ đệ tam giáp, khoa thi Đình năm 1889. Cụ từng kinh qua các chức vụ Giáo thụ phủ Kiến Thuỵ (Kiến
An), tri phủ Nam Sách (Hải Dương), Án sát Hà Nội. Làm Án sát Hà Nội được 3 năm,
năm 1893, do đau mắt cụ xin nghỉ về quê nhà dưỡng bệnh. Thuở nhỏ, Đặng Hữu Bằng
đi theo cha sinh sống và học hành ở những nơi cha làm việc quan. Khi cha trở về
làng Hành Thiện dưỡng bệnh, ông theo cha về quê và theo học tại trường của cụ Tiến
sĩ Nguyễn Ngọc Liên. Ông nổi tiếng thông minh, nhanh nhẹn, và là học trò yêu
quý của cụ Nghè Liên. Cụ Nghè Liên đặt rất nhiều hi vọng vào cậu học trò tài
hoa này và tin rằng, với năng lực của ông, ông có thể sẽ đỗ đại khoa.
Năm
1906, khi phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng, chủ trương phát triển
hội Duy Tân do Kỳ ngoại hầu Cường Để làm Hội chủ, Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền,
một yếu nhân của Hội Duy Tân, đang là đốc học tỉnh Ninh Bình đến thăm TS Nguyễn
Ngọc Liên, vừa là bạn học, vừa là anh em đồng hao để bàn việc mở rộng thanh thế
hội và tìm người đi du học, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập. Cụ TS
Nguyễn Ngọc Liên đã dẫn Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền sang thăm TS Đặng Hữu
Dương là bạn đồng môn của TS Nguyễn Thượng Hiền thuở cùng đi thi Hội hơn hai chục
năm trước. Trong cuộc gặp gỡ này, TS Đặng Hữu Dương giới thiệu người con trai cả
của mình là Đặng Hữu Bằng tham gia phong trào Đông du, sang Nhật du học. Lúc này, Đặng Hữu Bằng mới đỗ ấm sinh[1]
(vì vậy người làng còn gọi ông là cậu Ấm Bằng), nhưng ông chưa kịp tham dự kỳ
thi hương nào thì đã quyết định đi theo phong trào Đông Du.
Cuối năm 1906, Đặng Hữu Bằng cùng 3 người ở làng
Hành Thiện là Đặng Huy Dật, Đặng Quốc Kiều, Nguyễn Xuân Thức, và một người nữa
lên đường xuất dương du học cùng với thư giới thiệu của Hoàng giáp Nguyễn Thượng
Hiền gửi Phan Bội Châu. Lúc này, ông lấy tên là Đặng Xung Hồng, còn Đặng Huy Dật,
cháu gọi ông bằng cậu ruột lấy tên là Đặng Tử Mẫn. Các ông mang theo 1.000 đồng
Đông Dương, trong đó số tiền của cụ TS Đặng Hữu Dương đưa ông cầm theo để ủng hộ
phong trào là 500 đồng, tương đương 25 lạng vàng.
Cuối tháng 11 năm 1906 các ông tới Yokohama (Hoành
Tân) Nhật Bản, gặp Phan Bội Châu tại đây. Các ông đã đưa Phan Bội Châu hơn 1.000
đồng Đông Dương, trị giá 50 lạng vàng để ủng hộ phong trào. Đây là khoản tiền rất
quý giá đã giúp Phan Bội Châu vượt qua khó khăn trong thời điểm đó. Trong cuốn Tự Phê phán, Phan Bội Châu đã viết về cuộc
gặp gỡ này: “Hạ tuần tháng 11, tôi thấy số học sinh xuất dương hãy còn ít, mà
công việc cách mạng trong nước cũng chả thấy tin tức gì, nóng ruột muốn về nước
ngay để tự mình tham gia việc vận động, nhưng khó vì nỗi không đủ lộ phí, may
sao có 5 thanh niên ở Nam Định vừa xuất dương tìm đến gặp tôi là anh Đặng Xung
Hồng, Đặng Tử Mẫn và một anh trẻ tuổi nhất là Đặng Quốc Kiều (14 tuổi) và 2 người
nữa. Ba anh kể trên đều rất nhanh nhẹn đáng yêu,… các anh đưa ra hơn một ngàn đồng để giúp đảng, bấy giờ
tôi mới quyết định việc trở về nước…”[2]
Ở Nhật Bản, ông được Phan Bội Châu bố trí vào
học trường Võ bị Chấn Vũ Đông Kinh (Tokyo). Trong thời gian học ở trường, ông
luôn là một học viên xuất sắc. Ông đã đậu thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp năm 1908.
Thiên hoàng Minh Trị (Mutsu Hito Meiji) của Nhật Bản đã đến dự lễ tốt nghiêp của
trường và trao tặng ông phần thưởng cho thủ khoa khóa học Đặng Xung Hồng (tức Đặng
Hữu Bằng) chiếc đồng hồ bỏ túi có khắc tên và chữ ký của Thiên Hoàng…
Cuối năm 1908, các
phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam trên cả nước đã khiến chính quyền thực
dân Pháp lo lắng. Đến tháng 9 năm 1908, Pháp ký với Nhật Bản hiệp ước, theo đó
Nhật có thể tự do mua bán hàng ở Đông Dương, đổi lại, chính phủ Nhật Bản phải
trục xuất các thanh niên Việt Nam đang du học tại Nhật. Ngay trong buổi liên
hoan mừng tốt nghiệp của học viên trường Võ bị Đông Kinh thì có lệnh của chính
quyền Nhật Bản là “giải tán du học sinh”.
Năm 1909, Nhật buộc tất cả học sinh du học tại Nhật phải về nước, ông
sang Thái Lan rồi về Việt Nam thăm gia đình đồng thời quyên tiền giúp Hội Duy
Tân hoạt động. Lần về quê Hành Thiện này, ông đã liên hệ với thầy mình là TS
Nguyễn Ngọc Liên. TS Nguyễn Ngọc Liên đã trao cho ông số tiền trị giá 5 lạng
vàng để giúp cách mạng.
Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công, nước Trung Hoa dân quốc
được thành lập đã là hình mẫu để Phan Bội Châu noi theo trong khi các hoạt động
của Duy Tân hội và phong trào Đông Du đang gặp bế tắc.
Thượng tuần tháng
2 năm 1912, Phan Bội Châu cùng các đồng chí của mình thành lập Việt Nam Quang phục hội, một tổ chức yêu
nước, và cách mạng chủ trương đấu tranh vũ trang giành độc lập, xây dựng một
nhà nước Việt Nam cộng hòa dân quốc với
thể chế dân chủ. Về tổ chức, hội có 3 bộ lớn: (1) Bộ tổng vụ do Kỳ Ngoại hầu Cường
Để làm Bộ trưởng, Phan Bội Châu làm Tổng lý của hội
sung làm phó Bộ trưởng; (2) Bộ Bình nghị: Phan Bội Châu là đại diện Trung
Kỳ, Nguyễn Thượng Hiền là đại diện Bắc Kỳ và Nguyễn Thần Hiến là đại diện Nam Kỳ; (3) Bộ
chấp hành gồm 10 ủy viên phụ trách quân vụ, kinh tế, giao tế, văn học. Ngoài 10
ủy viên bộ chấp hành còn có 3 Ủy viên vận động trong nước là Đặng Xung Hồng (tức
Đặng Hữu Bằng) là Ủy viên vận động Bắc Kỳ, Đặng Bỉnh Thành là Ủy viên vận động
Nam Kỳ và Lâm Quảng Trung là Ủy viên vận động Trung Kỳ.
Sau khi nhận trách
nhiệm là Ủy viên vận động trong nước, phụ trách khu vực Bắc Kỳ, ông về nước lần
thứ hai. Lần này, ông đã vận động được nhiều thanh niên tham gia Việt Nam Quang phục hội hoạt động trong
nước, trong đó có một số người là thanh niên làng Hành Thiện. Ông cũng quyên
góp được 600 đồng bạc Đông Dương của nhân dân Bắc Kỳ ủng hộ phong trào[3].
Cũng trong lần về nước này, ông đã viết thư cảnh cáo các quan lại làm việc
trong chính quyền của thực dân Pháp là nếu họ tham gia lùng bắt các chiến sĩ
cách mạng Việt Nam Quang phục hội thì
họ sẽ bị trừng trị.
Năm 1913, các
thành viên của Việt Nam Quang phục hội
ở Bắc Kỳ đã tiến hành một số hoạt động ám sát khủng bố quân Pháp và các viên
quan lại làm việc cho Pháp... Hai thiếu
tá Pháp bị tử thương trong vụ đặt bom ở Hà Nội Hotel ngày 26-4-1913, Tuần phủ
Nguyễn Duy Hàn bị đặt bom chết ở bên đò Thái Bình ngày 12-4-1913, Tổng đốc Hà
Đông Hoàng Trọng Phu cũng nằm trong kế hoạch ám sát nhưng thoát chết vì vụ ám
sát không thành… Tại phiên tòa của Hội đồng Đề hình tại Hà Nội ngày 5-9-1913, 12
người bị đưa ra xử vắng mặt. 6 người bị án tử hình trong đó có Phan Bội Châu và
Cường Để, còn Đặng Hữu Bằng bị kết án đày biệt xứ[4]. Từ đó, ông sống và hoạt động ở Trung Quốc.
Năm 1915, khi toàn
quyền Đông Dương thông báo kêu gọi những nhà cách mạng trong phong trào Đông Du
về đầu thú sẽ được yên ổn làm ăn, đồng thời cấp giấy phép cho người nhà sang
Trung Quốc để tìm cách khuyên nhủ, đưa thân nhân của mình về nước đầu thú. Nhân
cơ hội này, cụ Đặng Hữu Dương đã cho con rể là Nguyễn Xuân Khải (tức Nguyễn Tư
An) sang Trung Quốc lấy lý do để tìm Đặng Hữu Bằng về nước, nhưng thực chất là
mang tiền sang tiếp tế cho ông hoạt động.
Để có tiền tiếp tục
hoạt động, Đặng Hữu Bằng đã gia nhập quân đội Trung Quốc ở Quảng Tây. Với kiến
thức quân sự xuất sắc thu nhận được trong thời gian học tập tại trường Chấn Võ
Đông Kinh, ông đã từng được phong quân hàm Đại tá, rồi thăng chức Tham mưu trưởng
quân đội tỉnh Quảng Tây, gọi là Điền quân Tham mưu trưởng, ngang quân hàm cấp
tướng. Đốc quân tỉnh Quảng Tây là Louk A Sung mến tài ông nên dù ông không phải
là người Trung Quốc, ông vẫn được cử làm Tổng tham mưu quân đội Trung Quốc ở Quảng
Tây. Ông giữ chức vụ này trong 8 năm. Năm 1922, khi Tưởng Giới Thạch làm Giám đốc
trường Quân sự Hoàng Phố tại Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông biết khả năng của
ông đã mời ông làm Giáo sự giảng dạy quân sự cho trường.
Ông là một người
thông minh, đa tài. Ông giỏi tiếng Hán, tiếng Nhật, nói thành thạo tiếng Quan
thoại, tiếng Bắc Kinh, tiếng Quảng Đông, viết chữ rất đẹp, có năng khiếu thơ
văn, đặc biệt các đồng chí của ông còn truyền tụng khả năng viết các câu đối,
liễn hoặc có thể viết bằng hai tay cùng một lúc hai vế của câu đối.
Năm 1916, ông đã viết lại tiểu sử của 49 liệt
sĩ của phong trào Đông Du đã hy sinh vì Tổ quốc thành một cuốn sách có tên Việt
Nam nghĩa liệt sử, dưới tên Đặng Đoàn Bằng là họ và tên tự của ông, cái tên
mà cha ông TS Đặng Hữu Dương đặt cho ông mang theo khát vọng mong muốn ông sẽ
trở thành người có sự nghiệp lớn lao. Theo các nhà nghiên cứu, thì cuốn Việt
Nam Nghĩa liệt sử của ông còn có sự tham gia bổ sung, nhuận sắc của
Phan Bội Châu và Nguyễn Thượng Hiền. Năm 1918, khi in cuốn sách lần đầu, ông Đặng
Đoàn Bằng đã thêm liệt sĩ thứ 50 là Lương Lập Nham (tức Lương Ngọc Quyến) hi
sinh năm 1917.
Tình cảm yêu nước
mãnh liệt, ý chí kiên cường, bất khuất không ngại gian khổ hi sinh vì độc lập
dân tộc của nhà cách mạng, chiến sĩ phong trào Đông Du và Việt Nam Quang Phục hội, Đặng Đoàn Bằng, được thể hiện trong lời tựa
đầu tiên khi bắt tay làm sách ở Nam Ninh, Quảng Tây Trung Quốc: “Quyển sử Việt
Nam nghĩa liệt vì sao mà làm ra? Tôi thực cũng không thể biết được. Tôi chỉ cảm
thấy muôn cay ngàn đắng, muôn đau ngàn sướng kích thích trong não tôi, tôi chỉ
cảm thấy thần ngâm quỷ khóc, gió thét mưa gào, vang rầm bên tai tôi, tôi chỉ cảm
thấy điện chớp, sấm gầm, núi đi, bể chạy, nhấp nhoáng ở trong mắt tôi, buộc tôi
phải nói, vì thế mà tôi nói ra.
Than ôi, nước ta từ vào tay Pháp, đến nay đã
hơn 50 năm: các đồng bào tiền bối chúng ta rơi đầu, bỏ xác để chống giặc, thời
nào cũng có không thể kể hết được… Nay tôi chỉ nói ra theo chỗ tai nghe mắt thấy.
Hơn 10 năm lại đây, đồng chí chúng ta yêu nước ghét thù, bỏ nhà xuất dương, ở
trong nước bị đau đớn, ra nước ngoài được kích thích, biết rằng văn minh là cái
giá trị của giọt máu, cái chết là làm thang bậc cho cái sống. Mỗi lúc gió mưa
gà gáy, anh em ngồi kề nhau, trò chuyện, khuyến khích nhau hẹn hò lấy cái chết
mà báo đền ơn nước… có người đánh giặc mà chết, có người mạo hiểm mà chết, có
người lo giận mà chết, có người học tập kiệt sức mà chết, có người chết để thực
hiện chí mình, cái chết tuy khác nhau, nhưng mục đích chết là một… Cho nên tôi
hòa nước mắt cầm bút ghi lại. Than ôi, đây là hồn nước của ta, đây là vật kỷ niệm
của các đồng chí ta”[5].
Năm 1938, khi đang
sống ở thành phố Quảng Châu, do ảnh hưởng bởi sức ép của bom do máy bay Nhật
ném xuống thành phố Quảng Châu hàng ngày, ông bị loạn thần kinh. Trong một phút
không làm chủ được bản thân, ông đã nhẩy xuống sông Châu Giang tự vẫn.
Đặng Đoàn Bằng (Đặng
Hữu Bằng) mất đi, nhưng như nhà hoạt động Đông du Hoàng Nam Hùng đã viết: “Ông
chết đi nhưng cái tang vẫn còn mãi mãi” không chỉ trong trong tâm khảm những
người đồng chí của ông, mà Ông luôn là niềm tự hào, là tấm gương về tinh thần
yêu nước và lòng quả cảm hi sinh vì đất nước, vì dân tộc của nhân dân Việt Nam
nói chung và nhân dân Nam Định nói riêng.
Tên ông, Đặng Đoàn
Bằng hiện được đặt cho đường phố ở Thành phố Nam Định và thành phố Đà Nẵng.
Bản thảo hoàn thành háng 12/2023
* Bài đã đăng trong:
1. Nhà báo Quốc Phong ( CB) (2024), Hành Thiện- Ngôi làng hình cá chép, huyền thoại và lịch sử, tập 2, NXB Thanh Niên
2. Địa chí Nam Định ( 2025), Nhân vật chí tập 5 , NXB Hồng Đức
Tài liệu
tham khảo:
- Phan
Bội Châu, (1955), Tự phê phán, Nxb Văn sử địa.
- Đặng
Đoàn Bằng (1959), Việt Nam Nghĩa liệt sử, Nxb Văn hóa.
- Thiết
Thạch (1976), Về một số điểm cần xác minh trong cuốn “Việt Nam Nghĩa liệt sử”,
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 161, (6).
- Chương
Thâu, (1973), Về cuốn Việt Nam Nghĩa liệt sử, Tạp chí Nghiên cứu lịch
sử, số 151 (1).
Đặng Hữu Thụ, (2007) Làng Hành Thiện và các nhà Nho Hành Thiện triều Nguyễn, tái bảnlần thứ 2 Tác giả tự xuất bản Melun,
[1] Là người
đã vượt qua kỳ khảo hạch ở địa phương, đủ điều kiện tham dự kỳ thi hương,
[2] Phan Bội
Châu (1955), Tự phê phán, Văn sử địa xuất bản, tr.88.
[3] Phan Bội
Châu (1955), Tự Phê phán, NXB Văn Sử địa, tr.157.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét