Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Gia huấn, Nữ huấn và giáo dục phụ nữ dưới thời phong kiến qua một số tác phẩm về giáo dục gia đình của Đặng Xuân Bảng

Đặng Thị Vân Chi
( Bài đăng trong Việt Nam học và Tiếng Việt- Các hướng tiếp cận, NXB KHXH, 2011, từ tr 31 đến tr43)
                                               
        1.Toàn cảnh
Giáo dục gia đình là một mảng giáo dục quan trọng trong quá trình hình thành và đào luyện nhân cách con người. Đối với phụ nữ, vấn đề giáo dục trong gia đình càng trở nên quan trọng không thể thiếu bởi dưới chế độ phong kiến, giáo dục học đường dường như là đặc quyền của nam giới, phụ nữ không có mặt trong nền Khoa cử cũng như trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên, với vai trò là người nội tướng trong gia đình, là người thày đầu tiên của trẻ em cũng như yêu cầu về người phụ nữ phải hội đủ “tam tòng”, “tứ đức” thì việc giáo dục “tại gia” đối với phụ nữ được các trí thức Nho giáo vô cùng coi trọng, là hình thức giáo dục thay thế cho giáo dục học đường. Sách Khuyết Hiến ca, trong bài Bạt đã giải thích rõ: “Người đàn bà có ngoan hay không là do ở gia đình và có quan hệ tới sự thịnh suy của đạo nội trợ. Như vậy thì việc răn dạy không thể bỏ qua được”[1]. Để đáp ứng nhu cầu này, nhiều dòng họ lớn, nhiều trí thức lớn như Thượng thư Hồ Phi Tích, Tiến sĩ Bùi Dương Lịch, Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, Tiến sĩ Nguyễn Tông Khuê[2]… đã soạn các loại Gia huấn, Nữ huấn để giáo dục con cái trong gia đình. Bản Gia huấn ca được cho là bản Gia huấn đầu tiên và là bản được nhắc đến nhiều nhất từng được công bố gắn với tên tuổi của Nguyễn Trãi, nhưng dựa trên việc khảo sát về mặt văn bản học và ngôn ngữ học, hầu hết các chuyên gia đều phủ định niên đại thế kỷ 15 của bản Gia huấn ca này[3]. Theo thống kê của Lê Thu Hương[4] thì trong kho sách Hán Nôm hiện còn lưu giữ 35 tên tài liệu thuộc thể loại Gia huấn, Nữ huấn. Trong số 35 tài liệu này có 9 tài liệu mang tiêu đề tập trung giáo dục phụ nữ như: Giáo nữ di quy của Trần Hoành Mưu, Huấn nữ diễn âm ca của Nguyễn Đình Thiết, và các tác phẩm khuyết danh như Huấn nữ tử ca, Huấn nữ tử giới, Huấn nữ tam tự thư, Nữ học diễn ca, Nữ bảo châm… Các tác phẩm mang tiêu đề Gia huấn thường cũng có phần dành cho con gái, đề cập đến việc giáo dục từ khi còn ở nhà với cha mẹ cho đến khi đi về làm dâu nhà chồng. Các bài Gia huấn, Nữ huấn này hầu hết được trình bày dưới dạng văn vần, thể loại lục - bát, dễ nhớ, dễ truyền khẩu như một tác giả đã trình bày: “Còn như khách quần thoa son phấn, mà chịu để sức xem xét, ra công trước thuật như nàng Thái, ả Tạ thì thực là hiếm lắm. Đối với bọn họ lại càng không thể không giáo dục. Nhưng nếu như chữ nghĩa trúc trắc, giọng văn cao xa, thì lại không thể nhớ mà ngâm nga được. [Cho nên], nhân lúc dạy học rỗi rãi. [ta] nhặt nhạnh những câu cách ngôn cổ và những câu ca dao, tục ngữ bằng quốc ngữ có thể làm lời khuyên răn được, sắp thành hơn 40 điều diễn ra quốc âm để làm chân ngôn cho bọn đàn bà con gái”[5].
Gia huấn, Nữ huấn vì thế có thể được lưu truyền qua nhiều thế hệ, góp phần vào quá trình giáo dục, đào tạo nhân cách con người.
2.     Đặng Xuân Bảng với các sách về giáo dục trong gia đình.
        Đặng Xuân Bảng sinh năm1828 (mất năm 1910), tự là Hy Long, hiệu là Thiện Đình. Ông là người làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, một làng quê nổi tiếng hiếu học và khoa bảng. Nối nghiệp nhà, ông đi thi từ khá sớm, ngay trong hai khoa thi Bính Ngọ (1846) và Mậu Thân (1848), ông đều đỗ Tú tài khi chưa đầy 20 tuổi. Đến năm Canh Tuất (1850) thì ông đỗ Cử nhân và năm Bính Thìn (1856) đỗ Tiến sĩ khi mới 28 tuổi. Sau khi thi đỗ, ông ra làm quan và đã từng giữ chức Tuần phủ Hải Dương, rồi Đốc học tỉnh Nam Định. Ông học rộng, thích nghiên cứu sử học, thiên văn, y học, nhất là dược thảo. Ông cũng viết nhiều về vấn đề giáo dục. Đến đời Thành Thái, tuổi già, nghỉ hưu tại quê nhà, ông chuyên tâm khảo cứu và viết sách. Các tác phẩm của ông có thể kể như:
 - Nam phương danh vật bị khảo
   -  Thiện đình Việt sử
    - Việt sử cương mục tiết yếu
-        Thiên đình thi (1c)
-       Thiên đình văn (1c)
-       Khâm định tập vận trích yếu
-       Huấn tục quốc âm ca (HTQAC)
-       Cổ kim thiện ác kính (2c)
-       Thánh tổ hành thực diễn ca
-       Bắc sử thông giám tập lãm tiện độc sử
-       Sử học bị khảo
-       Nam sử tiện lãm
-       Như Tuyên thi tập
-       Cổ nhân ngôn hạnh lục
-       Cổ Huấn nữ ca ( CHNC)
-       Cư gia khuyến giới tắc
       Trong số các tác phẩm của ông, có 4 tác phẩm có nội dung giáo dục trong gia đình: Huấn tục quốc âm ca, Cổ Huấn nữ ca, và Cư gia khuyến giới tắc, Cổ nhân ngôn hạnh lục.
2.1. Cổ nhân ngôn hạnh lục: Như Đặng Xuân Bảng viết trong lời đề tựa cuốn Cư gia khuyến giới tắc là xuất phát từ việc lo lắng rằng “con cháu sinh trưởng trong cảnh phú quý, quen tính kiêu căng, lười biếng có khi làm trụy lạc cả cơ nghiệp tiền nhân” nên ông đã soạn cuốn Cổ nhân hạnh lục và cho in để giảng dạy, nhắc nhở con cháu những “lời hay nết tốt”. Tuy nhiên cuốn này, theo ông, vẫn còn “thiếu sót nhiều” và một số điều răn về cờ bạc, rượu chè, nghiện hút… vẫn chưa được nhắc tới và đó là lý do để ông soạn quyển Cư gia khuyến giới tắc.
2.2. Cư gia khuyến giới tắc: Ký hiệu sách tại Viện Hán Nôm A.166, xuất bản năm 1901, bản dịch của phòng tư liệu Viện Triết học. Ngay đầu sách, ông cho biết: “Những điều lục vào sách này đều là lời hay nết tốt của các bậc tiên hiền. Về nhân tình thiên lý, nó nói được thấu, biết được suốt. Con cháu nhà ta phải ghi nhớ cho kỹ để làm cái cốt yếu cho việc sửa mình, giữ nhà, không được xao lãng”. Trong bài tựa, ông nói rõ quan điểm của mình khi làm cuốn sách này là để “cảnh tỉnh” những người trong nhà ý thức được: “Xưa nay, bao nhiêu con cháu các nhà khanh tướng bị nghèo khổ, bao nhiêu con cháu các nhà nghèo khổ trở nên khanh tướng, điều đó không phải trời có hận bạc riêng với ai, mà là do lòng thiện hay ác của ông cha gây nên. Thực đó, thiện hay ác chỉ phát khởi nhất thời, nhưng phúc hay họa thì để mãi đến đời sau”.
        Tập sách Cư gia khuyến giới tắc có tất cả 3 quyển gồm những câu danh ngôn và các câu truyện trong thư tịch cổ Trung Quốc được chọn lọc và phân thành 16 mục (8 điều khuyên và 8 điều răn)
Quyển1:  Mục 1: Khuyên về việc tích đức
                Mục 2: Khuyên về đạo hiếu
                Mục 3: Khuyên về đạo đễ
Quyển 2:  Mục 4: Khuyên vể việc dạy dỗ
                 Mục 5: Khuyên vể đức cần
                 Mục 6: Khuyên về đức kiệm
                 Mục 7: Khuyên về khiêm tốn
                 Mục 8: Khuyên về đức khoan thư
                  Mục 9: Răn về việc rượu chè
                  Mục 10: Răn về dâm dục
 Quyển 3:   Mục 11: Răn về tiền của
                   Mục 12: Răn về tính nóng nảy
                   Mục 13: Răn về vạ miệng
                   Mục 14: Răn về việc kiện cáo
                   Mục 15: Răn về việc cờ bạc
                   Mục 16: Răn về thuốc phiện
2.3. Huấn tục quốc âm ca [6]: gồm 192 câu viết theo thể thơ lục bát. Nội dung Huấn tục quốc âm ca là những lời dạy bảo con cái trong gia đình từ thái độ đối với việc học tập, cách chọn bạn, kết bạn, thái độ đối với việc chọn nghề nghiệp, cách đối xử với cha mẹ, anh em, vợ, chồng, con cái, họ hàng, hàng xóm láng giềng… và đặc biệt là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, rèn luyện những đức tính tốt và tránh xa những thói hư tật xấu…
 2.3.1. Từ câu 1 đến câu 32: Dạy con phảỉ chăm hoc, phân tích ích lợi của việc học tập và cần phải có cách ứng xử hài hòa, cân bằng giữa việc học tập và lao động sản xuất, đề cao nghiệp khoa cử nhưng cũng coi trọng các nghề nghiệp khác như làm ruộng, buôn bán…
2.3.2. Từ câu 33 đến câu 52: Dạy phải giữ tròn đạo hiếu
2.3.3. Từ câu 53 đến câu 68: Dạy về quan hệ giữa anh em trong một  nhà
2.3.4. Từ câu 68 đến câu 84: Dạy về quan hệ vợ chồng, cách vợ chồng đối xử với nhau
 2.3.5. Từ câu 85 đến câu 112: Dạy cách ứng xử trong xã hội, đối với  người trong họ, ngoài làng
   2.3.6.  Từ câu 113 đến câu 133: Khuyên tránh xa những thói hư tật xấu như cờ, bạc, rượu chè, nghiện hút, xa hoa lãng phí, chơi bời dâm dục, ăn ở thất đức…
     2.3.7.Từ câu 134 đến câu 192: Dành cho con gái sau khi về nhà chồng, phải giữ đức hiếu thuận, phụng dưỡng bố mẹ chồng, giúp chồng xây dựng sự nghiệp…
2.4. Cổ huấn nữ ca[7]gồm 468 câu, cũng làm theo thể thơ lục bát. Đây là tập hợp những lời dạy dỗ, hướng dẫn, bao quát toàn bộ cuộc đời của một người phụ nữ từ khi còn là một cô gái nhỏ sống cùng bố mẹ cho đến khi xây dựng gia đình và cả tới lúc về già.
       2.4.1. Từ câu 1 đến câu 50: lời dạy dỗ con gái về đường ăn, nết ở, cách nói   năng thưa gửi với người lớn… khi còn ở với cha mẹ
      2.4.2.Từ câu 51 đến câu 120: dạy con gái khi về làm dâu nhà chồng, cách đối xử với chồng và bố mẹ chồng
         2.4.3. Từ câu 122 đến câu 142: khi sinh con, từ trong thời kì cần chú ý giữ   gìn khi thai nghén đến việc nuôi dạy con nên người
           2.4.4. Từ câu 143 đến câu 158: về việc lo tổ chức đám tang cho cha mẹ khi họ về với tổ tiên
               2.4.5. Từ câu 159 đến câu 170: về việc lo gả chồng cho con gái
               2.4.6. Từ câu 171 đến câu 196: Việc cưới vợ cho con trai
 2.4.7. Từ câu 197 đến câu 210: Trong trường hợp chồng có con riêng, cách đối đãi với con riêng của chồng
  2.4.8. Từ câu 211 đến câu 242: Cách ứng xử với thói trăng hoa của chồng và cách ứng xử trong mối quan hệ vợ cả -vợ lẽ
  2.4.9. Từ câu 243 đến câu 368: Về cách ứng xử với anh em ruột thịt của chồng  và họ hàng nhà chồng
               2.4.10. Từ câu 267 đến câu 290: Về việc đối xử với hàng xóm láng giềng
               2.4.11. Từ câu 291 đến câu 310: Về việc đối xử với người làm trong nhà
             2.4.12. Từ câu 311 đến câu 330: Về cách cư xử,  đối đãi với bạn cùng buôn bán và với đối tác làm ăn
               2.4.13. Từ câu 331 đến câu 340: Về cách cư xử với bạn bè của chồng
               2.4.14.  Từ câu 334 đến câu 354: cách đối xử với súc vật
2.4.15. Từ câu 355 đến câu 364: Về việc chăm lo thờ cúng tổ tiên trong các ngày rằm, mùng một, lễ Tểt
2.4.16. Từ câu 369 đến câu 408: Về cách xử thế trong trường hợp chẳng may phải ở góa, nhấn mạnh đức đoan chính, khuyến khích ở vậy thờ chồng, nuôi con
2.4.17. Từ câu 409 đến câu 432: Về việc dạy dỗ con cái phải công bằng, không thiên vị
2.4.18. Từ câu 432 đến câu 468: Khuyên phải làm việc thiện, sửa mình theo giáo lý nhà Phật
Nhìn tổng thể, qua cách chọn, phân loại và biên tập những câu truyện và phân chia thành các tiểu mục những lời khuyên và những điều răn trong Cư gia khuyến giới tắc cũng như những lời khuyên răn trong hai tập Huấn tử quốc âm ca và Cổ huấn nữ ca” của Đặng Xuân Bảng, chúng ta không chỉ thấy toát lên quan điểm của ông về vấn đề giáo dục con người mà còn phản ánh tác động của lịch sử, văn hóa và nền giáo dục Nho học đối với việc hình thành các quan điểm đó.
3. Những giá trị văn hóa và nhân văn trong các tác phẩm về giáo dục gia đình của Đặng Xuân Bảng
3.1. Đề cao việc tu dưỡng và thực hành đạo đức theo tinh thần Nho giáo
          Nổi lên bao quát toàn bộ các lời răn dậy trong các tập sách là quan điểm nhấn mạnh vào việc “tu thân” của đạo Nho. Đó là quan điểm trẻ con cần phải được giáo dục từ sớm (“Bé mà chẳng uốn cả nên gẫy cành”)
          Đối với con trai thì mục tiêu lớn nhất là theo nghiệp khoa cử, nên phải chăm chỉ học hành:
                        “Khuyên con giữ việc học hành...
                          Sớm khuya đèn sách nức lòng
                         Một mai thi đỗ bõ công học hành
                        Dẫu mà còn muộn công danh
                        Khoa này chẳng đỗ để dành khoa sau…” (HTQAC)
         Đặc biệt Đặng Xuân Bảng cũng đề cao chữ “hiếu” của đạo Nho, khẳng định “ Xưa nay chữ hiếu tam cương đứng đầu” và không kể con trai, hay con gái cũng đều phải nhớ công đức cha mẹ sinh thành và dưỡng dục. Chữ “hiếu” theo Đặng Xuân Bảng không chỉ là những việc chăm sóc khi cha mẹ già đau yếu, báo hiếu trong các nghi lễ tang ma, mà đối với con gái có hiếu hay không còn thể hiện cả trong những hành động và lời nói hằng ngày như:
                        “Khi nghe tiếng gọi trên nhà
                          Theo lời vâng dạ chân đà bước mau
                           Nào đâu lấy nước têm trầu
                           Nào đâu nấu bếp, nào đâu quét nhà
                           Đường ăn ở có nết na
                            Để người vui dạ là ta yên lòng
                           Dưới màn ngày hạ, đêm đông
                           Chăm lo đắp lạnh, quạt lồng sớm khuya…” (CHNC)
          Riêng với con gái, ông dành nhiều sự quan tâm hơn trong việc dạy dỗ và yêu cầu phải theo đúng đạo “tam tòng” và trau dồi “tứ đức”: Phải đoan chính, giữ gìn sự trinh tiết, kính chồng và nếu chẳng may phải chịu phận góa chồng thì cũng cần:
                            “Kiên trinh hai chữ là đầu,
                             Đá trơ trơ vững, gương lầu lầu trong…
                            … Dẫu mà tuổi trẻ đầu xanh
                             Quyết lòng ở vậy, chẳng tình trăng hoa
                            Bướm ong đâu mặc người ta
                           Nước trong, trăng sáng mới là gái trinh…” (CHNC)
        Để hoàn thiện nhân cách, Đặng Xuân Bảng cũng đặc biệt vạch rõ tác hại của những thói xấu cần phải tránh như cờ bạc, rượu chè, nghiện hút, quan hệ nam nữ trái với luân thường đạo lý…
                                 “Lại còn năm việc thời đừng
                                 Đừng sinh cờ bạc, đừng sinh rượu chè
                                  Đừng say thuốc phiện mà mê
                                  Xe xe lọ lọ bùa mê chết người
                                  Những điều tổn hại, hao tài
                                 Khuynh gia bại sản ra người hư sinh” (HTQAC)
3.2. Đề cao tinh thần từ bi nhân ái của Phật giáo, đặc biệt trong những lời dạy dành cho phụ nữ
          Các điều giáo huấn của Đặng Xuân Bảng thường nhấn mạnh việc “hành thiện” “tích đức” trong cách ứng xử và hành động. Từ những việc nhỏ như đối xử với những người làm công trong nhà cũng cần phải thể hiện lòng nhân ái:
                             “Đến như đứa ở con hầu
                               Khó hèn nó mới đem đầu làm tôi
                               Bát cơm đổi bát mồ hôi
                               Lỡ nào đánh lấp, chửi vùi cho đương
                                Ngày đêm giãi nắng cùng sương
                                 Nghĩ khi khó nhọc phải thương cho cùng
                                 Thịt da không phải sắt đồng
                                 Dẫu tay roi vọt cũng lòng từ nhân…” (CHNC)
        Đến việc cần có tấm lòng rộng rãi hào hiệp với những người gặp khó khăn hoạn nạn:
                         “Là người phúc đức hẳn trời cho hay
                             Thấy ai nghèo khó thương thay
                          Bỏ tiền bỏ của cho ngay tiếc gì”
                            … Đến như tiền thuốc nợ nần
                          Khó nghèo mới phải mang ơn nhà mình
                            …Chẳng qua của cũng của trời
                         Ta đừng cay đắng để người xót đau…”(CHNC)
                      Đối với các loài súc vật cũng không nên “giết càn”…
         3.3. Chú trọng việc củng cố gia đình, dòng họ
           Cùng với việc nhấn mạnh vào việc tu thân, hành thiện, tích đức, Gia huấn, Nữ huấn của Đặng Xuân Bảng còn quan tâm tới việc dạy con cháu phải gìn giữ và xây dựng một gia đình đầm ấm, thuận hòa qua từng mối quan hệ trong gia đình: quan hệ vợ - chồng  cần phải “ Cùng nhau chồng kính vợ yêu”, quan hệ vợ cả - vợ lẽ thì: “ Chớ nên cậy của, cậy công,
                                       Cậy tài, cậy sắc xui chồng ghét rơ
                                       Xui chồng chửi sớm, chửi trưa,
                                       Để người nhục nhã cho vừa lòng ghen”…, (CHNC)
         Trong quan hệ mẹ chồng-nàng dâu:
                                “Đến như kính mẹ thờ cha,
                                 Biết đường lui tới mới là đạo dâu,
                                 Dưới màn sớm trực khuya hầu,
                                Ghét đâu cũng chịu, thương đâu cũng nhờ,
                                 Chẳng nên nhạt nhẽo ơ hờ
                                 Cho người tóc bạc sớm trưa phàn nàn” (CHNC)
          Trong quan hệ dì ghẻ- con chồng , Ông khuyên nhủ:
                                  “Lại như mẹ ghẻ con chồng,
                               Đừng điều phi tạc, đừng lòng khắt khe…”(CHNC)
            Quan hệ chị em dâu, quan hệ giữa người vợ với anh em, họ hàng bên chồng, ông nhấn mạnh tình ruột thịt, sự bao dung,… còn đối xử của cha mẹ với con cái thì cần phải công bằng, không thiên vị…
3.4. Đề cao tinh thần cộng đồng, xây dựng một môi trường sống nhân ái hòa thuận
        Trong quan hệ với cộng đồng hàng xóm láng giềng, quan hệ bạn bè làm ăn, đối tác buôn bán, Đặng Xuân Bảng cũng khuyến khích tôn trọng mọi người, giữ lấy hòa khí, tinh thần nhường nhịn, đức khiêm cung…
       Với con trai ông khuyên:
                     Chẳng nên cậy thế, cậy tài
                     Cậy giàu, cậy mạnh khinh người bần nhân
                   Tôn tôn, trưởng trưởng, thân thân
                    Kính già yêu trẻ thánh nhân dạy thường…
                   Chẳng nên tranh cạnh hơn thua
                  Kẻ trên người dưới ở cho kính nhường…
                 Người ta cả tiếng ta thời nhịn đi… (HTQAC)
         Đối với con gái trong quan hệ xóm giềng cần sự chân thành, tinh thần tương thân tương ái:
                    Ở cho trên thuận dưới hòa
                    Ở cho trung hậu thực thà là hơn
                     Đừng như những kẻ thế gian
                     Chua ngoa cậy thế, khôn ngoan cậy giàu
                      Tối đèn tắt lửa có nhau
                    Người vương nạn ý, ta mau chân này… (CHNC)
       Trong quan hệ làm ăn ông cũng khuyên giữ chữ tín, trọng nghĩa khinh tài, trung thực, ngay thẳng:
                     Thiệt hơn để dạ, trước sau như lời
                    … theo chi những thói khôn ngoan
                        Pha phôi thực giả tìm đường đối nhau
                      Của phi nghĩa có giàu đâu
                      Ở cho ngay thực giàu sau mới bền… (CHNC)

4.Một vài lời kết
     Do những điều kiện lịch sử cụ thể, mặc dù còn một số điểm ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, đặc biệt trong những lời dạy dành cho phụ nữ như ủng hộ chế độ đa thê, khuyến khích phụ nữ góa chồng ở vậy, không tái giá… các lời dạy dỗ con cháu trong gia đình của Đặng Xuân Bảng thấm đẫm giá trị nhân bản, tinh thần thân dân và có tính khoa học cao.
       Đặc biệt, dưới chế độ phong kiến, phụ nữ không được đi học, bài Cổ  huấn nữ ca của ông có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc giáo dục phụ nữ- người thầy đầu tiên của trẻ em, tương lai của đất nước, người giữ vai trò quan trọng không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà trong cả việc sáng tạo, lưu giữ và truyền bá văn hóa.
        Cho đến ngày nay, khi đọc lại những lời giáo huấn của ông, chúng ta vẫn còn học được nhiều điều từ việc đề cao tinh thần tự tu dưỡng đạo đức, tinh thần nhân ái, thái độ coi trọng các giá trị của gia đình và ý thức xây dựng cộng đồng.


cHÚ THÍCH
[1] Ký hiệu AB.53 kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (44 trang, khổ 20x13) gồm ba tác phẩm Nôm: Khuyết hiếu ca, Trường hận ca (bản dịch Nôm) và Cảnh Phụ Châm. Cảnh phụ châm gồm 26. Dẫn theo Hoàng Văn Lâu (1984), Tập san Hán-Nôm, số1.
[2] Xem thêm Lời giới thiệu của Phạm Hòang Quân cho tác phẩm Gia huấn diễn ca , NXN Phương Đông, 2005
 [3] Hoàng Văn Lâu (1984), Tập san Hán-Nôm, số1;  Thi Nham Đinh Gia Thuyết (1953): Gia huấn ca, Tân Việt, Sài Gòn,; Nguyễn Hồng Phong(1957) Tìm hiểu Gia huấn ca , Tập san Văn Sử Địa số 27 và 29;  Đoàn Khoách (1982) Gia huấn ca có phải của Nguyễn Trãi không? Tạp chí Văn học số 1…
  [4] Lê Thu Hương ( 1996), Sách có nội dung giáo dục gia đình hiện tang trữ trong kho sách Hán Nôm, Tạp chí nghiên cứu Hán Nôm, số 3
[5] Hoàng Văn Lâu (1984): đã dẫn
           [6]  Chúng tôi chưa thể xác định được năm viết, cũng như số hiệu lưu trữ và tình trạng văn bản
[7] nt

I. Tài liệu tham khảo:
1. Hoàng Văn Lâu (1984), “Ai viết Gia huấn ca”, Tập san Hán -Nôm, số1.
2. Lê Thu Hương (1996), “Sách có nội dung giáo dục gia đình hiện tàng trữ trong kho sách Hán Nôm”, Tạp chí nghiên cứu Hán Nôm, số 3
3.  Gia huấn diễn ca, NXN Phương Đông, 2005
4. Gia Huấn Ca (bản được coi là của Nguyễn Trãi- đăng trên mạng Việt Nam thư quán)
4. Đặng Xuân Bảng, Huấn tử quốc âm ca, Tư liệu gia đình do Ông Đặng Xuân Phi, cháu nội Cụ Đặng Xuân Bảng cung cấp
5. Đặng Xuân Bảng, Cổ Huấn nữ ca, Tư liệu gia đình do ông Đặng Xuân Phi, cháu nội cụ Đặng Xuân Bảng cung cấp
6. Đặng Xuân Bảng, Cư gia khuyến giới tắc, tư liệu của phòng tư liệu Viện Triết học
7. Đặng Xuân Bảng, Cổ nhân ngôn hạnh lục.



Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

GS. Nhà giáo nhân dân Phan Huy Lê

Tại phiên họp ngày 27/5/2011  của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn - thuộc Học viện Pháp quốc- một viện Hàn lâm được thành lập từ năm 1663 - chuyên nghiên cứu ngôn ngữ Phương Đông cổ, thổ ngữ trung đại và lịch sử , Khảo cổ học, các vị Viện sĩ lẫy lừng uy danh dưới hình thức bỏ phiếu kín theo một quy trình tuyển chọn hết sức chặt chẽ đã hoàn toàn nhất trí bầu GS Phan Huy Lê của Việt Nam làm Viện sĩ Thông tấn nước ngoài (Membre correspondant étranger de l' Académie) ở vị trí “ghế bành” (fauteuil) (trước đây của Viện sĩ Francisco Rico (Tây Ban Nha ).. Đây không chỉ là niềm vinh dự to lớn của GS Phan Huy Lê, của gia đình, đồng nghiệp, học trò, mà còn là niềm tự hào chung của giới Sử học, Khoa học xã hội nhân văn và của Tài năng, Trí tuệ Việt Nam trong mối tương quan quốc tế.
 Nhân sự kiện này, tôi xin giới thiệu bài viết của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc về sự nghiệp nghiên cứu Sử học của Ông.

Giáo sư Phan Huy Lê- một chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam

Giáo sư Phan Huy Lê sinh ngày 23.2.1934 tại xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh - một vùng quê văn hiến của xứ Nghệ, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng, trọng tình nghĩa, cần cù và hiếu học.
Cả hai dòng họ nội, ngoại của GS. Phan Huy Lê đều là những dòng họ khoa bảng nổi tiếng với những danh nhân văn hoá lớn như Phan Huy Cẩn, Phan Huy Ích, Phan Huy Thực, Phan Huy Vịnh, Phan Huy Chú, Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy... Cụ thân sinh là Phan Huy Tùng, tiến sĩ Nho học, từng làm quan trong triều đình Huế, nổi tiếng thanh liêm, phúc đức, nhân hậu, hết mực yêu con, quý cháu.
Phan Huy Lê đã sống trọn những năm tháng tuổi thơ tại quê nhà, thừa hưởng truyền thống gia đình và quê hương, định hình cá tính và nhân cách trước khi hoà nhập vào cuộc sống xã hội. Năm 1952, khi 18 tuổi, ông rời gia đình ra học Dự bị Đại học ở Thanh Hoá và tại đây ông có cơ hội được tiếp xúc với những trí thức cách mạng hàng đầu của đất nước. Vốn là học sinh có năng khiếu và ham mê khoa học tự nhiên, ông dự định chọn Toán - Lý cho tương lai nghề nghiệp của mình, nhưng dường như số phận đã định trước cho ông con đường trở thành nhà Sử học. Ông dự cảm từ trong chiều sâu lịch sử Việt Nam có con đường đi của mình: "Đất nước ta không rộng lớn lắm, lịch sử không để lại những công trình kỳ vĩ như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành..., nhưng ông cha ta đã tạo dựng, lưu giữ và truyền lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau một di sản thật vô giá với giang sơn tươi đẹp, đa dạng được lao động của con người khai phá, điểm tô; với những trang sử xây dựng và bảo vệ đất nước gian truân, hào hùng; với một kho tàng văn hoá phong phú và những giá trị truyền thống tiêu biểu cho sức sống và bản sắc dân tộc. Đó chính là cội nguồn sức mạnh trường tồn của dân tộc, là nội lực lớn lao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, của công cuộc phục hưng dân tộc. Mỗi khi biết trân trọng, kế thừa và phát huy sức mạnh tiềm tàng đó, dân tộc ta có thể vươn lên đón nhận và hấp thụ mọi tinh hoa của thời đại, của các nền văn minh trong khu vực và trên thế giới mà vẫn giữ vững cốt cách, bản sắc dân tộc". Đất nước hơn lúc nào hết đang cần những người có tâm và đủ tầm đứng ra xây dựng một nền sử học mới. GS. Trần Văn Giàu và GS. Đào Duy Anh là những người đầu tiên nhận ra ở Phan Huy Lê phẩm chất quý giá này và hướng ông vào học Ban Sử - Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thành lập gồm 4 khoa: Toán - Lý, Hoá - Sinh, Văn và Sử. Phan Huy Lê vừa tốt nghiệp cử nhân Sử - Địa đã được nhận ngay vào Bộ môn Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Khoa Lịch sử dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của GS. Đào Duy Anh.
Ngay từ khi còn làm trợ lý giảng dạy, ông đã được các giáo sư Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh giao cho viết bài giảng và đảm nhiệm các công việc của những chuyên gia thực thụ. Có lẽ vì thế mà chỉ 2 năm sau, khi GS. Đào Duy Anh chuyển công tác về Viện Sử học, mới 24 tuổi đời, ông đã vững vàng trong trọng trách của một Chủ nhiệm bộ môn đứng mũi chịu sào tổ chức và xây dựng một ngành học giữ vị trí then chốt trong hệ thống các môn học về khoa học xã hội Việt Nam.
Dấn thân vào nghề Sử, Phan Huy Lê càng ngày càng nhận thấy lịch sử Việt Nam ẩn chứa biết bao điều cần khám phá và lý giải một cách khoa học. Con đường để đi đến chân lý lịch sử là con đường phức tạp, quanh co, không một chút giản đơn. Phan Huy Lê quan niệm kinh tế - xã hội là cơ sở nền tảng của toàn bộ lịch sử. Nước ta là một nước nông nghiệp nên nghiên cứu kinh tế - xã hội Việt Nam truyền thống không thể không bắt đầu từ nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Điều này giải thích vì sao những ấn phẩm đầu tiên trong sự nghiệp khoa học của ông là "Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ", "Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn" và có đến 8 công trình, chiếm một nửa tổng số các công trình của 5 năm đầu bước vào nghề là thuộc về kinh tế - xã hội.
Ông vừa mới tạo lập được vị trí của mình trong nghiên cứu về kinh tế - xã hội thì cũng là lúc đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Tự ý thức trách nhiệm công dân phải tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc, Phan Huy Lê chuyển sang nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và những trận đánh lớn trong lịch sử. Ông tổ chức hàng loạt chuyến điều tra khảo sát thực địa tại các vùng chiến trận, không chỉ mở rộng thêm đáng kể nguồn sử liệu để hiểu một cách cụ thể và đa diện các sự kiện lịch sử vốn được ghi chép hết sức cô đọng trong sử cũ, mà còn mở ra một phương hướng nghiên cứu và đào tạo mới, gắn chặt với nhu cầu của đời sống thực tiễn. Những công trình "Khởi nghĩa Lam Sơn"; "Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam", "Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc", "Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288"... được hoàn thành trong điều kiện như thế và đã trở thành những tác phẩm lịch sử quân sự tiêu biểu.
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, một mặt do yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc vẫn còn đặt ra hết sức bức thiết, mặt khác bản thân ông cũng rất cần thời gian để hoàn tất một số công trình mang tính tổng kết, Phan Huy Lê tiếp tục dành nhiều tâm huyết cho mảng đề tài chống ngoại xâm. Khoảng 15 năm tính từ năm 1975, ông viết đến trên 80 công trình loại này, đưa tổng số các công trình về lịch sử chống ngoại xâm lên 120 (chiếm 26,97% trong tổng số 445 công trình ông đã hoàn thành).
Nói đến Phan Huy Lê người ta nghĩ ngay đến chuyên gia hàng đầu về lịch sử chống ngoại xâm với số lượng vượt trội các công trình nghiên cứu và với những tổng kết sâu sắc đã trực tiếp góp vào những chiến công chung của đất nước. Thế nhưng Phan Huy Lê không phải là nhà lịch sử quân sự chuyên nghiệp. Điều ông trước sau đặc biệt quan tâm là những vấn đề về kinh tế - xã hội. Mỗi khi có cơ hội, ông lại tranh thủ trở về với đề tài chế độ ruộng đất, nông dân, làng xã và đi sâu khai thác những nguồn tư liệu liên quan như địa bạ, châu bản, gia phả... kết hợp với điều tra khảo sát thực địa. Số công trình loại này từ năm 1975 đến 1999 tăng lên từ 10 đến 23 công trình trong khoảng thời gian 5 năm. Tổng số các công trình về mảng kinh tế - xã hội là 114 (chiếm 25,62%), đứng vào hàng thứ hai ngay sau mảng lịch sử chống ngoại xâm. Tiêu biểu cho mảng đề tài này ngoài "Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ", các tác phẩm viết về phong trào nông dân Tây Sơn, còn phải kể đến các bộ địa bạ Hà Đông, Thái Bình, Hà Nội, chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam, các cuốn sách, chuyên đề về hình thái kinh tế - xã hội, kết cấu kinh tế - xã hội, làng xã người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ...
GS. Phan Huy Lê bắt đầu mở rộng sang nghiên cứu lĩnh vực văn hoá - truyền thống từ những năm 1980 và sự quan tâm của ông đến lĩnh vực này càng ngày càng sâu sắc, toàn diện với số lượng trung bình trên 20 công trình cho khoảng thời gian 5 năm và tổng số công trình lên đến 104 (chiếm 23,37%). Những công trình tiêu biểu là "Truyền thống và cách mạng", "Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay" (3 tập), "Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống và hiện đại" và hệ thống các bài viết về di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội...
Nhưng trách nhiệm lớn nhất đặt ra cho GS. Phan Huy Lê không phải là từng mảng lịch sử cụ thể mà là tổng kết lịch sử đất nước. Ngay từ năm 1959, nghĩa là khi mới bắt tay viết những trang bản thảo đầu tiên, ông đã có một tập bài giảng "Lịch sử Việt Nam từ 1406 đến 1858". Liên tiếp 2 năm sau, ông cho ra mắt "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" tập II (1960) và "Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam" tập III (1961), góp phần làm nên tầm vóc của Khoa Lịch sử. Năm 1971, ông cùng Trần Quốc Vượng viết "Lịch sử Việt Nam" tập I, được coi là cuốn thông sử đầu tiên của chế độ mới. Trong thời gian này hàng loạt các bài giảng, giáo trình khác về "Lịch sử Việt Nam" ra đời (vào các năm 1966, 1970, 1978...) làm cơ sở cho sự xuất hiện "Lịch sử Việt Nam" tập I (1983) - một cuốn sách tổng kết lịch sử Việt Nam từ thời kỳ nguyên thuỷ đến thế kỷ thứ X tương đối đầy đủ và cập nhật. Đặc biệt gần đây, trong đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước xây dựng bộ sách "Lịch sử Việt Nam" 4 tập, GS. Phan Huy Lê vừa là chủ biên, vừa là tác giả chính của 2 tập I và II, được coi là tổng kết cao nhất về giai đoạn lịch sử từ nguồn gốc cho đến giữa thế kỷ XIX.
Không chỉ dồn tâm, dồn sức viết các bộ thông sử, các tập giáo trình, Phan Huy Lê còn là tác giả của nhiều công trình lịch sử địa phương. Ông chăm chú theo dõi toàn bộ tiến trình lịch sử đất nước từ các quy luật vận động chung cho đến những hiện tượng có tính ngẫu nhiên của lịch sử. Với ông, sử liệu là chất liệu quan trọng nhất của công trình Sử học, nên trong quá trình nghiên cứu bao giờ ông cũng tìm cách mở rộng khai thác triệt để các nguồn sử liệu. Đồng thời với tiếp cận trực tiếp đối tượng, ông nêu thành nguyên tắc tiếp cận toàn bộ, toàn diện, đa tuyến về lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ với khu vực và thế giới. Trân trọng và đề cao kinh nghiệm viết sử truyền thống, ông lại chính là người đi tiên phong hiện đại hoá và cập nhật các phương pháp nghiên cứu mới. Số lượng các công trình tổng kết lịch sử của ông vì thế cũng lên đến 107 (chiếm tỷ lệ 24,04%), đứng vào hàng thứ ba sau các mảng chống ngoại xâm và kinh tế - xã hội.
Có thể hình dung toàn bộ trước tác của GS. Phan Huy Lê được chia ra thành 4 mảng lớn gần tương đương nhau và đều ở mức rất cao (từ 104 đến 120 công trình). Thật hiếm có một học giả có khối lượng các công trình nghiên cứu đồ sộ và đạt đến đỉnh cao trên nhiều lĩnh vực chuyên môn như thế.
Tầm uyên bác trong các công trình Sử học của GS. Phan Huy Lê bắt nguồn từ trách nhiệm cao cả của một người thầy, vì theo ông dạy đại học là dạy kết quả nghiên cứu của chính mình.
Gần nửa thế kỷ qua, ngoài việc giảng dạy chính ở Khoa Lịch sử, ông còn dạy cho nhiều lớp ở Khoa Đông phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Paris VII (Pháp), Đại học Amsterdam (Hà Lan)... Hàng nghìn học trò qua ông đào tạo, nhiều người đã thành đạt, đang giữ những cương vị quan trọng trong các cơ quan nghiên cứu và giảng dạy ở trung ương và địa phương, ở trong nước và nước ngoài. Ông cũng là một trong những chuyên gia đầu tiên của nền giáo dục mới Việt Nam tham gia giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn và phản biện nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế, trong đó có 17 học trò trực tiếp của ông đã bảo vệ thành công các luận án tiến sĩ, tiến sĩ khoa học.
Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo Sử học, ông còn được giao trách nhiệm xây dựng hai ngành học mới là Đông phương học và Việt Nam học. Ngành Đông phương học đến năm 1995 đã trở thành một khoa của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc ĐHQGHN, và ông đồng thời là Chủ nhiệm khoa đầu tiên, góp phần đào tạo trên 500 cử nhân các chuyên ngành Trung Quốc học, Nhật Bản học, Hàn Quốc học và Đông Nam Á học. Ngành Việt Nam học được khởi đầu bằng các Trung tâm Hợp tác nghiên cứu Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hoá do ông làm Giám đốc, đến nay đã phát triển thành Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển trực thuộc ĐHQGHN. Ông là người đi đầu khai mở và xây dựng quan hệ giao lưu, hợp tác với hầu hết các nhà Việt Nam học danh tiếng và các tổ chức nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức thành công Hội thảo Quốc tế Việt Nam học, đặt Việt Nam vào vị trí trung tâm của Việt Nam học toàn thế giới.
Từ năm 1988 cho đến nay, GS. Phan Huy Lê liên tục là Chủ tịch Hội Sử học Việt Nam. Ông còn giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt hay là uỷ viên của nhiều Hội đồng Quốc gia như Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa, Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước, Hội đồng Quốc gia Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước, Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia... Ở cương vị nào ông cũng đều có những đóng góp xuất sắc.
Ông được phong học hàm Giáo sư (1980), Nhà giáo ưu tú (1988), Nhà giáo nhân dân (1994); được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì (1985), Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), hạng Nhì (1994), hạng Ba (1974); được tặng Giải thưởng Nhà nước (2000), Giải thưởng Quốc tế Văn hoá châu Á Fukuoka, Nhật Bản (1996), Huân chương Cành cọ Hàn lâm của chính phủ Pháp (2002).
Và cao hơn cả, tên ông đã trở thành niềm kiêu hãnh của học trò và đồng nghiệp trong nước và quốc tế./.
Nguyễn Quang Ngọc [100 Years-VietNam National University,HaNoi

Ngày 25/7, Đại học quốc gia Hà Nội, Hội sử học Việt Nam,Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học KHXH& NV, cùng nhiều bạn bè, đồng nghiệp, và các thế hệ học trò đã chúc mừng GS Phan Huy Lê nhân sự kiện này.

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển là người thay mặt ban tổ chức đã có bài phát biểu  chào mừng:
GS Phan Huy Lê là một trong “Tứ trụ” huyền thoại của Khoa Lịch sử Anh hùng, tròn 30 năm Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ trung đại, người sáng lập Khoa Đông Phương học, bậc “Khai quốc công thần” của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; nhà sáng lập và Giám đốc đầu tiên của trung tâm Việt Nam học liên ngành và Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội; Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Công dân Ưu tú của Thủ đô. GS Phan Huy Lê là người Thầy mẫu mực có hơn nửa thế kỷ đứng trên bục giảng với những thành công nổi bật trong đào tạo các lớp học trò kế cận. GS Phan Huy Lê là một học giả lỗi lạc mà đóng góp của ông bao trùm lên nhiều lĩnh vực quan trọng nhất của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam và có tầm ảnh hưởng quốc tế rộng lớn.
GS Phan Huy Lê là người khởi xướng và chủ trì các Hội thảo quốc tế Việt Nam học là những đại hội của các nhà Việt Nam học toàn thế giới. Ông đã được tặng nhiều Huân danh và Giải thưởng quốc tế lớn như Huân chương Cành Cọ Hàn Lâm của Chính phủ Pháp, Giải thưởng Fukuoka của Nhật Bản...




  GS.TS Mai Trọng Nhuận – Giám đốc ĐHQGHN phát biểu trong lễ chúc mừng.
Đánh giá công lao của GS. Phan Huy Lê tại ĐHQGHN, GS. Giám đốc nhấn mạnh: GS Phan Huy Lê đã góp phần tạo nên nhiều thế hệ học trò, trong đó không ít người đã trở thành những nhà lãnh đạo cao cấp giữ những vị trí chủ chốt của các cơ quan Đảng và Nhà nước, những nhà khoa học danh tiếng, đầu đàn của ĐHQGHN. Tài năng và đức độ của GS đã trở thành một biểu tượng, một yếu tố để tạo nên thương hiệu, danh tiếng của Khoa Lịch sử và của ngành nghiên cứu Xã hội và Nhân văn.
GS. Giám đốc nhận định, GS. Phan Huy Lê được biết tới như là một trí thức dũng cảm, dấn thân góp phần mở đường cho công cuộc đổi mới và phát triển của nền khoa học và giáo dục nước nhà, nhất là trong ngành KHXH-NV.
GS. Đinh Xuân Lâm, một trong “Tứ trụ huyền thoại” của Khoa Lịch sử phát biểu; Việc Viện hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn bầu GS. Phan Huy Lê làm thành viên chứng tỏ uy tín và ảnh hưởng rộng lớn của Giáo sư đối với giới khoa học Xã hội và Nhân văn nước Pháp, đồng thời với giới khoa học Xã hội thế giới nói chung.

GS.TS Nguyễn Văn Khánh – Hiệu trưởng trường ĐHKHXH-NV, nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử cho rằng: Bằng tài năng của mình, GS đã hoàn thành một khối lượng công trình khoa học đồ sộ với hơn 400 tác phẩm tập trung giải quyết nhiều vấn đề khác nhau về khoa học lịch sử và truyền thống dân tộc. Do đó, đây là sự kiện khoa học lớn ghi nhận và khẳng định vai trò của GS đối với ngành khoa học lịch sử nói riêng, ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung. GS Phan Huy Lê là người gắn bó và lãnh đạo bộ môn Lịch sử Cổ trung đại Việt Nam trong suốt 30 năm, ngoài ra ông còn là người sáng lập nhiều ngành học mới như Đông phương học và Việt Nam học.

PGS.TS Nguyễn Hải Kế - Chủ nhiệm Khoa Lịch sử nhấn mạnh: Hơn 7000 cán bộ và sinh viên của Khoa Lịch sử coi sự kiện ngày hôm nay là sự kiện của chính mình. Cuộc đời khoa học của GS gắn liền với chặng đường 55 năm của Khoa Lịch sử Anh hùng và là một trong những người khơi nền, đắp móng cùng với các nhà khoa học lỗi lạc khác như Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu.
Phát biểu đáp từ, GS. Phan Huy Lê cảm ơn những lời chúc mừng của các GS, các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp. GS nói: Bộ môn Lịch sử Cổ và Trung đại Việt Nam, trước đây là Bộ môn Cổ sử thuộc Khoa Lịch sử, Khoa Đông phương học của Trường ĐHKHXHNV và Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, trước đây là Trung tâm Việt Nam học là những đơn vị gắn bó với tôi suốt đời như một gia đình, một tổ ấm nơi mà mọi người gắn bó mật thiết với nhau.
GS đã chụp ảnh chung với ban lãnh đạo Viện:
Và chụp ảnh với toàn thể cán bộ của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển

Một số hình ảnh của buổi lễ:







 Tổng hợp từ bản tin của Đại học quốc gia Hà Nội. Nguồn : http://www.vnu.edu.vn/

Nguồn: 

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TỤC BIÊN ( (I676-I789) là tài liệu mới hay không mới?

Trên blog Nguyễn Xuân Diện có đăng bài " Phát hiện thêm một tài liệu cổ viết về Hoàng Sa- Trường Sa" của tác giả Trịnh Khắc Mạnh là PGS.TS, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm đăng trên Tạp chí Hán Nôm; Số 4 (94) 2009; Tr.79-82.  
Có thật đây là một tài liệu mới được phát hiện không?

Sự thực là từ những năm I990, nhóm nghiên cứu Lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa- Trường Sa đã biết đến tài liệu này rồi và đã sử dụng trong các bài viết của mình. Gần đây nhất là trong bài viết " Giá trị của các trang sử liệu viết về Hoàng Sa-Trường Sa trong sách Phủ Biên tạp lục" trong cuốn "20 năm Việt Nam học theo định hướng liên ngành" NXB Thế giới năm 2008, Nguyễn Quang Ngọc đã viết: " Bộ sách được hoàn thành chỉ sau Phủ Biên tạp lục một thời gian ngắn là ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TỤC BIÊN ( (I676-I789)- bộ sử do Quốc sử viện thời Lê -Trịnh tổ chức biên soạn nối tiếp vào quyển XIX sách Đại Việt sử ký toàn thư. Trong sách, đoạn ghi chépvề Hoàng Sa- Trường sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Nói một cách khác, các nhà chép sử thời Lê Trịnh sau khi xác định ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục là hoàn toàn đúng sự thật, đã đưa gần như nguyên vẹn nội dung này vào chính sử của triều đại mình. Ý nghĩa của ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TỤC BIÊN chính là nó đã biến ghi chép khoa học khách quan của Lê Quý Đôn thành nội dung của bộ quốc sử"


 Phần ghi chú có viết: Tham khảo ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TỤC BIÊN ( (I676-I789), bản dịch, NXB KHXH, H I99I, tr 243-244. Theo những người dịch, khảo chứng và hiệu đính sách ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TỤC BIÊN thì có đến 9 bản cuốn sách này, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa- Trường Sa lại nằm trong Hậu Lê Thi sử ký lược do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm tại gia đình Lê Trọng Hàm, lưu trữ tại Viện sử học, Hà Nội, Kí hiệu HV II9." (tr 359)
 
Tài liệu này lại được nhắc lại trong bài CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA TRONG CÁC THẾ KỶ XVII, XVIII, XIX: TƯ LIỆU VÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ, " đã được đăng trên tạp chí Xưa & Nay và blog Chi đã có giới thiệu. trong bài này Nguyễn Quang Ngọc đã viết : "Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789) là bộ chính sử do Quốc sử viện thời Lê Trịnh biên soạn, trong đó đoạn ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa trên căn bản không khác ghi chép của Lê Quý Đôn. Ý nghĩa củaĐại Việt sử ký tục biên chính là nó đã biến ghi chép khoa học, khách quan của Lê Quý Đôn thành một nội dung của bộ Quốc sử, chuyển tinh thần cơ bản của bản chép tay của Lê Quý Đôn thành bản khắc in chính thức trên danh nghĩa quốc gia


 Tình trạng này cho thấy:
- Các kết quả nghiên cứu của giơi sử học đã không được phổ biến rộng rãi trong nhân dân để nâng cao nhận thức của người dân về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa. 
- Giới thiệu Đại Việt sử ký tục biên như một tài liệu mới phát hiện cho thấy tình trạng thiếu sự tổ chức và thống nhất  trong việc nghiên cứu.
 Theo yêu cầu của Giao Blog làm rõ luận điểm 2 trong nhận định của tôi, xin đưa mấy ảnh chụp toàn văn bài của GS Nguyễn quang Ngọc lần đăng thứ hai, trong đó phần chú thích có ghi rõ bài đã được đăng trên TCNCLS từ năm 2001.










MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ CỦA A-LẾCH-XĂNG ĐỜ RỐT (A.D. RHODES) VÀ VẤN ĐỀ CHỮ QUỐC NGỮ *

                                                                            Hoàng Văn Lân, Đặng Huy Vận I. N hững nguyên nhân lịch sử nào...