Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ CỦA A-LẾCH-XĂNG ĐỜ RỐT (A.D. RHODES) VÀ VẤN ĐỀ CHỮ QUỐC NGỮ *

                                                                                    Hoàng Văn Lân, Đặng Huy Vận


I. Những nguyên nhân lịch sử nào đã thúc đẩy Rốt tới phương Đông và lần mò tới Việt Nam

Để nhận định đúng về giáo sĩ Rốt, trước hết cần xét nguyên nhân nào đã đưa Rốt tới phương Đông rồi lần mò tới Việt Nam.

Như những ai có đọc lịch sử châu Âu đã biết vào thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản đang hình thành và đang ở trong thời kỳ ngùn ngụt những “máu và lửa” của tích lũy tư bản nguyên thủy. Sau khi tìm ra được những con đường biển và vùng đất mới ở châu Mỹ và châu Phi, nhất là sau khi chế tạo được thuốc súng, thì các công ty thương mại châu Âu dần dần xuất hiện như nấm. Thương nhân châu Âu thi nhau lao vào cuộc chạy đua tới “các nguồn hàng nổi tiếng và hầu như không bao giờ cạn”[1] ấy. Trong quá trình đó, họ đã tìm được những bạn đồng hành để ra sức lợi dụng là các giáo sĩ Dòng tên thuộc phái Cựu giáo đang tìm đường phát triển thế lực ra ngoài phạm vi châu Âu. Hai thế lực “phần đời” và “phần hồn” này dựa vào nhau để có thể dễ dàng xâm nhập vào nhân dân ở những nơi được mệnh danh là “đất mới” đối với châu Âu đang tiến lên tư bản chủ nghĩa. Thế lực “phần hồn” giúp đỡ thế lực “phần đời” về mặt thực tiễn cũng như bào chữa cho nó về mặt lý thuyết. Trong khi đám thương nhân đang ngập ngừng trước những bí mật thiên nhiên, nhất là những con người khác tiếng nói, khác phong tục, tập quán ở những “nguồn hàng” phương Đông thì các giáo sĩ ngoại quốc đã len lỏi xâm nhập vào hậu trường những nơi đó để tìm hiểu tiếng nói, tình hình chính trị, mọi sinh hoạt kinh tế. Rồi lớn tiếng rằng: “Chúa đã tạo ra vũ trụ cho tất cả mọi người, vì vậy không được cản trở một chút nào những người có thể khai thác một cách tốt nhất những tài nguyên của thế giới”, rằng: “Theo lời truyền của kinh Phúc âm, phải giáo dục tất cả các nước không được cản trở những người mang đạo Thiên Chúa đến cho những người ngoại đạo”. Nhưng ngược lại, chính họ cũng đã dựa vào lực lượng của bọn quý tộc tư sản hóa và lái buôn làm phương tiện mở rộng phạm vi ảnh hưởng thế lực của mình. Thế là, ngay từ thế kỷ XVI, cả hai thế lực ấy thông lưng nhau trong cuộc tiến công của chủ nghĩa tư bản đang hình thành sang châu Mỹ La Tinh, châu Phi và châu Á theo thứ tự: giáo sĩ ngoại quốc - hàng hóa - chiến thuyền có súng yểm hộ. Như vậy, chính sách thực dân cổ truyền đã hình thành từ thế kỷ XV và ngay từ khi chủ nghĩa tư bản Tây phương còn nằm trong lòng chế độ phong kiến, chính nó cũng đã lợi dụng danh nghĩa Chúa cứu thế để xâm lược những vùng đất đai rộng lớn phì nhiêu ở châu Phi, châu Mỹ La Tinh và châu Á. Chính sách thực dân cổ truyền ấy đã biến các tổ chức truyền giáo thành một phương tiện với tính cách là bộ phận hợp thành trong chính sách xâm lược của các nước phương Tây từ thế kỷ XV. Lúc bấy giờ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha còn là những nước gần như chiếm độc quyền ngang dọc trên các đại dương nối liền các đại lục. Cả hai cạnh tranh nhau kịch liệt, thì cũng không ai khác ngoài Va-ti-căng đã đóng vai trò trọng tài cho việc phân chia “nguồn hàng” của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trên phạm vi toàn thế giới. Sắc chỉ Rô-ma-nut Pông-ti-phec (Romanus Pontifex) ngày 8-1-1459 của Giáo hoàng Ni-cô-la V và sắc chỉ “Jater Coetera” ngày 4-5-1493 của Giáo hoàng Ca-lich-tơ cùng giáo hoàng A-lếch-xăng VI đã lấy một vệt thẳng từ Nam chí Bắc quả đất, cách quần đảo A-xo (Acores) 100 dặm làm ranh giới phân chia hai khu vực truyền giáo đồng thời cũng là hai khu vực ảnh hưởng của bọn lái buôn và quý tộc tư sản hóa Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha. Vua chúa hai nước này được Va-ti-căng giao cho đặc quyền hoạt động tôn giáo ở hai khu vực ảnh hưởng chính do giáo hoàng phân chia. Và lịch sử đẫm máu của hai khu vực đó sau khi có sự xâm nhập của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha như thế nào, ở đây chúng ta không cần nhắc lại, chỉ cần nêu rõ rằng sau cuộc phân chia đó, cùng với bọn lái buôn Bồ Đào Nha chở hàng hóa, đại bác sang phương Đông, các giáo sĩ Bồ Đào Nha cũng đua nhau sang đấy phát triển thế lực. Họ được triều đình Bồ Đào Nha cung cấp tiền nong và các phương tiện hoạt động khác với điều kiện duy nhất là phải hoàn toàn phụ thuộc vào vua chúa Bồ Đào Nha. Bọn vua chúa “hằng sản” này cũng có quyền uy lớn đối với Va-ti-căng. Thậm chí việc truyền chức giám mục, linh mục, bề trên nhà Dòng,… hoàn toàn do ý kiến nhà vua quyết định. Ngay cả giáo sĩ Dòng tên là người nước khác, trong lúc thế lực của Bồ còn mạnh cũng phải đến Lít-bon (Lisbonne) thủ đô Bồ Đào Nha để tuyên thệ trung thành với nhà vua trước khi xuống tàu[2]. Rồi dưới quyền Công ty Đông Ấn Độ của Bồ Đào Nha, ba tòa giám mục đã được thành lập ở Goa (1534), Ma-lắc-ca (1567) và Ma Cao (1573). Việc truyền đạo trong thực tế đã biến thành công cụ nằm trong tay hai nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. “Hai hội đồng Ấn Độ hai nước đó thành lập, nắm hết mọi quyền quyết định về việc đạo, không được sự đồng ý của họ, người ta (giáo hội và giáo sĩ) không thể thành lập được một xứ, một tu viện, xây dựng một nhà thờ, khánh thành một địa phận, sửa đổi một giáo phường, thuyên chuyển giáo sĩ,… Những quyền lợi thiêng liêng cũng do những hội đồng đó quyết định, giám mục phải xin ý kiến họ trước khi phong chức. Tất cả những sắc chỉ của Tòa thánh cần phải có sự chứng nhận của nhà vua. Giám mục chỉ có thể liên lạc với triều đình La Mã qua nhân viên nhà vua mà thôi”[3]. Được sự cộng tác của các giáo sĩ Dòng tên kết hợp với mọi cách mua chuộc, dọa dẫm, với mọi thủ đoạn chia rẽ gây mâu thuẫn từ cuối thế kỷ XV sang thế kỷ XVI, Bồ Đào Nha đã độc chiếm được thương mại toàn Ấn Độ, chiếm Mã Lai, làm chủ eo biển Ma-lác-ca (1511), chiếm cứ các đảo Nam Dương, trực tiếp giao thông với Trung Quốc (1517) và Nhật Bản (1542),… Đồng thời, các giáo sĩ Bồ đã lập tức xây dựng nhà thờ, mở tu viện, lập cơ sở truyền giáo ở Ma Cao để tỏa thế lực khắp các nước phương Đông khác theo yêu cầu của chủ nghĩa tư bản. Ở Việt Nam cũng từ thế kỷ XVI đã có những giáo sĩ ngoại quốc theo vết chân bọn lái buôn Bồ Đào Nha đến cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Nhưng phải sang thế kỷ XVII thì việc truyền giáo của họ ở nước ta mới liên tục và có kết quả một phần nào. Tính trong 10 năm từ 1615 đến 1625, Dòng tên đã phái đến Đàng Trong 21 nhà truyền giáo, (gồm 17 cha, 4 thầy cả, phần lớn là người Bồ Đào Nha, chỉ có một ngươi Pháp, 5 người Ý và 5 người Nhật). Có cha như Di Pi-na và Bô-ri đã học tiếng Việt Nam và rao giảng không phải qua phiên dịch. Điều đáng chú ý là song song với việc rao giảng “Kinh Phúc âm” các nhà tu hành này đã ra công học nói tiếng Việt Nam để dễ dàng điều tra, tìm hiểu khá tỉ mỉ về nước ta. Năm 1631, Bô-ri đã trình bày cặn kẽ vị trí, khí hậu, sản vật, tài nguyên, tình hình chính trị, thương mại cùng phong tục tập quán, sinh hoạt của nhân dân trong một tập sách nói về Đàng Trong. Chính nhờ đó, tư bản phương Tây đã biết được tình hình mọi mặt của nước ta trên những nét lớn và vì thế chúng ta không lấy làm lạ gì khi tập sách của “người lính của Chúa” ấy đã được hoan nghênh ở Âu châu và lập tức được dịch và in ra hầu hết các thứ tiếng Âu châu đương thời (Pháp, Ý, Anh, Đức, Hà Lan,…). Và chính vì thế họ bị chúa Trịnh và Chúa Nguyễn ra lệnh cấm. Nhưng chẳng bao lâu, khi thế lực “phần đời” nói trên của Bồ Đào Nha đã bị các nước tư bản khác mới lớn lên trong cuộc “chiến tranh tiền bạc” nằm trong tay họ cũng lung lay theo. Các giáo sĩ Dòng Tên của họ dần dần bị các giáo sĩ của Hội Truyền giáo Ngoại quốc thuộc dòng Thừa sai Paris do Rốt thành lập năm 1653 thay thế. Như chúng ta đã biết, khoảng nửa sau thế kỷ XVI do sự phát triển các đường biển mới, trung tâm thương mại thế giới đã từ các cảng Địa Trung hải chuyển sang các cảng Tây Âu. Công nghiệp và thương mại Hà Lan, Anh và Pháp đang trên đà phát triển càng được thúc đẩy thêm. Địa vị của Bồ Đào Nha cũng như Tây Ban Nha dần dần sút kém về mặt kinh tế, quân sự,… thì địa vị của Giáo đoàn Dòng Tên gắn liền với nó cũng mờ nhạt dần. Quá trình lịch sử các tổ chức truyền giáo Pháp ở phương Đông không thể tách rời với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản Pháp và với quá trình thành lập các công ty thương mại Pháp ở Viễn Đông.

Trong khi các lái buôn Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đang tung hoành trên mặt biển từ Đại Tây Dương qua Ấn Độ Dương tới Thái Bình Dương với một vòng đai bao gồm hàng ngàn thương điếm, dọc theo bờ biển châu Phi, châu Á, Châu Mỹ La Tinh thì từ giữa thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản Pháp bắt đầu hình thành. Vương triều phong kiến thông lưng với giai cấp tư sản đang lên để đi tới xác lập chế độ quân chủ tuyệt đối trên đất Pháp bắt đầu hình thành. Năm 1624, sau khi trình bày tình hình chính trị nước Pháp, Ri-sơ-li-ơ (Richelieu) (1585-1642) tể tướng của triều đinh Lu-i XIII đã tuyên bố chính sách của Pháp là loại trừ thế lực chính trị cát cứ lãnh chúa, kiềm chế tầng lớp quý tộc[4]. Thế rồi các hòa ước Vet-pha-li (Westphali) 1648, và Py-rê-nê (Pyre’nee’s) 1659, đã tạo ưu thế cho Pháp ở châu Âu. Nhờ thế lực quân sự mạnh nhất châu Âu, Lu-i XIV khống chế cả châu Âu. Với triều đại của Lu-i XIV (1661-1715), nền quân chủ tuyệt đối Pháp đạt tới đỉnh cao nhất. Cuộc liên minh tạm thời giữa vương triều Buốc-bông với giai cấp tư sản Pháp trong hơn một thế kỷ đã làm cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển rất nhanh chóng ở Pháp. Đặc biệt là với chính sách của Cô-be (Colbert) từ nửa sau thế kỷ XVII, lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa Pháp đã tiến những bước mới. Đồng thời với việc phát triển những ngành công nghiệp vốn có ở Pháp như kỹ nghệ dạ, bông vải sợi, giai cấp tư sản Pháp thi nhau xây dựng ngành công nghiệp cận đại. Triều đình Lu-i XIV đã đóng vai trò mạnh thường quân cho giai cấp tư sản Pháp trong việc đó. Lu-i XIV đã xuất 60.000 li-vơ-rơ cho tay tư sản Hi-na (Hinard) thành lập công trường thủ công sản xuất dạ ở Bô-ve (Beauvais), ngoài ra còn phụ cấp cho mỗi công nhân 20 li-vơ-rơ, mỗi thợ học việc 30 li-vơ-rơ. Vì thế, xưởng dạ này được gọi là công xưởng Hoàng gia và là cơ sở đầu tiên cho nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa cận đại ở Pháp. Song song với quá trình phát triển công nghiệp, Cô-be cũng phát triển thương nghiệp và đã thành lập hội đồng thương mại hoạt động bên cạnh chính phủ Pháp. Ngành thương mại hàng hải Pháp cũng phát triển nhanh chóng chưa từng có. Liên tiếp 5 công ty thương mại được thành lập: Công ty Đông Ấn Độ, Công ty Phương Đông, Công ty Phương Bắc và Công ty Xê- nê- gan (Sénégal). Riêng đối với công ty Đông Ấn Độ, chính triều đình Lu-i XIV đã quyên tiền thành lập cùng lúc với việc xuất vốn hàng năm cho các giáo sĩ, trong Hội Truyền giáo Ngoại quốc do Rốt thành lập. Trong cuốn Cổ động cho Công ty Đông Ấn Độ, tập 6, Sác-păng-chi-ê (Charpentier) nhà văn hàn lâm của giai cấp tư sản Pháp ở thế kỷ XVII đã không hề giấu giếm ước mơ phát triển sang phương Đông bằng tước đoạt và xâm lược như sau: “hoàn toàn không có một nền thương mại nào mà lại giàu có hơn, to lớn hơn nền thương mại Đông Ấn Độ… Chính nơi đây, người ta sẽ thu về được vàng và các thứ đá quý, chính nơi đây là nguồn hàng nổi tiếng và hầu như không bao giờ cạn: lụa, quế, gừng, đậu khấu, hồ tiêu, vỏ dùng để nhuộm, ngà voi, hương liệu,… cùng hàng ngàn những điều thú vị khác mà người đàn ông khi đã quen rồi thì không thể nào rời ra được nữa”[5].

Thế là mặc dù xuất hiện muộn hơn Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Anh nhưng nền công nghiệp và thương nghiệp tư bản chủ nghĩa Pháp phát triển nhanh chóng rồi vượt xa Bồ Đào Nha, Hà Lan,… chỉ còn lại một đối thủ ngoài lục địa châu Âu là Anh. Rồi cũng từ đấy, giai cấp tư sản Pháp bắt đầu ráo riết theo sát gót bọn thực dân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan trong cuộc chinh phục thuộc địa. Cuộc chinh phục thuộc địa ấy bắt đầu thì “cuộc chinh phục linh hồn” dưới ngọn cờ của Hội Truyền giáo ngoại quốc Pháp cũng bắt đầu. Chính trong quá trình tiến tới những “nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi đào” ở phương Đông, các tổ chức truyền giáo ngoại quốc của Pháp đã thành lập song song với việc thành lập các công ty thương mại đường biển, hệt như các tổ chức truyền giáo của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trước kia vậy. Nối gót các giáo sĩ Dòng Tên của Bồ Đào Nha, vết chân của các giáo sĩ Pháp trong tổ chức truyền giáo Pháp bắt đầu in dấu trên các nẻo đường xa xôi, hẻo lánh ở phương Đông. Sự cạnh tranh giữa các thế lực tư bản cũ ở thế kỷ XV, XVI (Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây ban Nha) và mới (Pháp) ở châu Âu ở thế kỷ XVII chính là cơ sở của cuộc cạnh tranh không kém phần khốc liệt đã diễn ra giữa các tổ chức truyền giáo của Pháp với các tổ chức truyền giáo của Bồ Đào Nha trong “cuộc chinh phục linh hồn” ở phương Đông. Nếu trên các chuyến tàu chở hàng có đại bác hộ tống cũng như ở các nơi có thương điếm từ châu Âu tới Viễn Đông, các lái buôn Pháp đã chạm trán với lái buôn Bồ Đào Nha, thì, cũng chính trên những con đường hàng hải ấy, lịch sử truyền giáo và lịch sử hình thành chủ nghĩa thực dân ở Viễn Đông đã để lại đậm nét những cuộc chạm trán, âm mưu hãm hại nhau giữa các giáo sĩ của Bồ Đào Nha và của Pháp mặc dù họ đều tự coi là “lính của Chúa” cả. Tóm lại, Rốt vượt trùng dương tới phương Đông rồi lần mò tới Việt Nam là do yêu cầu phát triển tư bản chủ nghĩa của giai cấp tư sản phương Tây trong thời kỳ tích lũy tư bản nguyên thủy của nó. Đó cũng là nguyên nhân khách quan đã thúc đẩy các giáo đoàn của người Âu châu từ Bồ Đào Nha cho đến Pháp được thành lập nhằm mục tiêu phát triển sang phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Đâu có chuyện Rốt tới Việt Nam “để làm việc cho Việt Nam”[6] như ông Nguyễn Khắc Xuyên đã nói? Hơn nữa, việc đó hoàn toàn không do một “ý chí phổ quát” nào đó chi phối thúc đẩy như Cơ quan Tác động tinh thần và Chiến tranh tâm lý của Dinh “Độc Lập” Sài Gòn đã mập mờ hòng gây nên những ấn tượng thần bí kiểu duy linh xung quanh những vòng hào quang giả tạo mà họ đã cố tình tô vẽ nên cho Rốt.

II. Mưu đồ chính trị của A-lếch-xăng Đờ Rốt và mục tiêu của Hội Truyền giáo  Ngoại quốc do Rốt thành lập

Giáo sĩ Rốt, tên Việt Nam là cố Tràng, sinh năm 1591 ở A-vi-nhông (Avignon); năm 15 tuổi Rốt nhập Dòng Tên ở Rôm (Rome) rồi theo học tại học viện ở Va-ti-căng. Rốt chuyên chú nghiên cứu thần học, toán học. Ngoài ra còn tinh thông việc vẽ bản đồ, hiểu biết kỹ thuật máy móc và đặc biệt chế tạo sửa chữa được đồng hồ, tính được nhật thực và nguyệt thực. Tóm lại, với những tri thức như thế, Rốt đã tự tạo điều kiện cho mình hoạt động có hiệu quả ở các tổ chức truyền giáo xuất hiện trong điều kiện lịch sử mà chúng ta đã thấy ở phần trên. Năm 1614, Rốt đến Lít-sbon, thủ đô của Bồ Đào Nha tuyên thệ trung thành với quyền lợi của triều đình Bồ Đào Nha, rồi xin sang Viễn Đông với ước mơ được truyền giáo ở Nhật. Nhưng lúc này ở Nhật đang cấm truyền giáo nên Rốt tìm cách tới Đàng Trong. Trong tập Hành trình và truyền giáo (Divers voyages et missions) xuất bản năm Rốt 62 tuổi (1633), Rốt đã nói rằng ngay trong những năm hoạt động ở Việt Nam, Rốt không bao giờ quên đất Nhật. Tháng 12 năm 1624, Rốt đặt chân tới Đà Nẵng. Để hoạt động được dễ dàng, Rốt đã ra sức học tiếng Việt Nam. Rốt đã hoạt động ở đây đến năm 1626. Nhưng rồi “vương quốc Đàng Ngoài” đã hấp dẫn Rốt và ngày 19 tháng 3 năm 1627, Rốt bèn cùng giáo sĩ Mác-kê (Marquex) vượt biển đổ bộ lên cửa Bạng ở Thanh Hóa. Với mọi thủ đoạn khéo léo, Rốt đã tìm cách được yết kiến chúa Trịnh Tráng ở Thanh Hóa rồi được theo chúa về Thăng Long mong dựa vào thế lực của chúa mà hoạt động. Rốt được chúa có phần ưu đãi, xây cho nhà ở. Nhưng rồi khi hoạt động của Rốt đụng chạm tới “phần đời” thì Rốt bị chúa Trịnh ra lệnh trục xuất, buộc phải rút ra Áo Môn hay vào Đàng Trong. Nhưng trong khi vượt biển, nhờ việc rửa tội cho 36 người trong đội thuyền hộ tống, kể cả người đội trưởng mà Rốt được họ che chở để bí mật quay trở lại vùng Nghệ Tĩnh, nơi mà Rốt đã có cơ sở. Ít lâu sau, Rốt gặp một giáo sĩ khác rồi hai người lại tìm cách trở lại Thăng Long lần thứ hai. Nhưng tới tháng 5 năm 1630, Rốt lại bị chúa Trịnh hạ lệnh trục xuất khỏi Đàng Ngoài. Rốt rất luyến tiếc khi phải ra khỏi vương quốc Đàng Ngoài, nơi mà lúc trở về Pa-ri, Rốt đã trầm trồ “họ giàu lắm”. Bởi thế khi Rốt được bổ nhiệm làm giáo sư trường Dòng ở Áo Môn thì Rốt đã tha thiết đề nghị với các đấng bề trên của mình là đừng bỏ cái “vương quốc” mà “nếu chiếm được thì thương gia Âu châu sẽ có một nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào”. Buốc-gioa (Bourgeois) đã viết: “Không thể nào không đau lòng khi Rốt phải bỏ cơ sở truyền giáo đầu tiên do bàn tay ông xây dựng và khi về đến Ma Cao ông đã thúc giục đấng bề trên là không nên bỏ rơi cái “chuồng cừu” đẹp đẽ này”[9]. Rốt ở Áo Môn 10 năm. Trong khoảng đó, Rốt học đọc và viết tiếng Trung Quốc. Đến tháng 12 năm 1640, Rốt được cử vào Đàng Trong lần thứ hai để thay đức cha Buy-dô-mi với hy vọng lần này sẽ chiếm được lòng tin cậy của chúa Nguyễn để tiến hành “cuộc chinh phục linh hồn trong các xứ An Nam”[10] có kết quả. Khi đến Hội An, Rốt tìm đến phố có người Nhật để học tiếng Nhật vì Rốt vẫn nuôi hy vọng sau này sẽ được đi Nhật lần nữa. Trước mắt, Rốt cần “chinh phục được lòng tin của chúa Nguyễn” để dựa vào thanh thế của chúa mà hoạt động. Quan năm thực dân Bô-ni-pha-xy đã nói rõ “phương pháp chinh phục” ấy: “Một trong những phương pháp của các đức cha dòng Thừa sai là làm vua thích thú bởi những lễ vật đem dâng. Thế là đức cha Rốt dâng lên chúa mấy chiếc đồng hồ ghi bằng chữ Hán và đức cha đã làm cho chúa vừa ý đến nỗi khi mà người Bồ Đào Nha đi khỏi xứ thì đức cha chinh phục được triều đình. Và đức cha chia thời gian mỗi ngày của mình làm 2 hai buổi, buổi sáng giảng cho chúa những bí mật của khoa toán pháp, buổi chiều rao giảng cho những tín đồ về phép huyền bí của đức tin”[11]. Nhưng phải chăng đức cha Rốt chỉ giảng toán và “phép huyền bí của đức tin” ngày hai buổi thế thôi? Thì cũng không ai khác, Bô-ni-pha-xy đã trả lời rõ điều đó. Lợi dụng uy thế của chúa, ban ngày “đức cha thực hiện việc thăm các tỉnh để rồi ban đêm rút về ngự trọ ở tòa giảng riêng của mình. Đức cha di chuyển từ nơi này qua nơi khác bằng cáng che kín để mọi người khỏi nhìn thấy và ngủ để lấy lại chút ít sức khỏe trong cáng, trong một thời gian ngắn đức cha đã có ba con chiên ngoan đạo trung thành”[12]. Kết quả của việc “thăm tất cả các tỉnh cho qua ngày để rồi ban đêm rút về ngự trị ở tòa giảng riêng của mình” ấy là gì? Bản đồ vẽ tỉ mỉ và những kết luận của Rốt dưới đây sẽ cho ta thấy rõ điều đó. Thời gian của việc mà Bô-ni-pha-xy còn gọi là “những cuộc du lịch” theo kiểu trên của Rốt kéo dài suốt hai năm. Nhưng rồi cũng chẳng ai khác ngoài bọn thương nhân và giáo sĩ Bồ Đào Nha đã tìm cách mời Rốt ra khỏi Đàng Trong. Trước khi ra đi, Rốt đã “triệu tập 10 con chiên lại và bắt họ cầm đuốc sáng rực mà thề trước bàn thờ rằng họ sẽ không bao giờ cưới vợ, rằng họ sẽ hiến đời mình cho nhà thờ, rằng họ sẽ vâng lời các linh mục của Hội Truyền giáo hay những người thay mặt”[13]. Tháng 3 năm 1644, Rốt lại lần mò vượt biển đến Đàng Trong và ngày 3 tháng 7 năm 1645 thì Rốt vĩnh viễn bị buộc phải rời khỏi Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài sau hàng chục lần quay ra, quay vào. Nhưng sau khi rời hẳn Việt Nam năm 1645, Rốt đã đem về châu Âu một bản đồ Việt Nam khá tỉ mỉ cùng với tình hình Việt Nam từ kinh tế, chính trị, xã hội cho đến cả ngôn ngữ Việt Nam được ghi bằng hệ thống ký hiệu ghi âm theo mẫu tự chữ cái la tinh. Trên cơ sở đó, Rốt trở về La Mã năm 1648 và trong khoảng ba năm, Rốt đã biên soạn các cuốn: Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Từ điển Việt- Bồ- La Tinh; Phép giảng tám ngày và cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt Nam viết bằng tiếng La Tinh… Đặc biệt cuốn Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài xuất bản năm 1850 bằng tiếng Ý, tiếng Pháp (1651) rồi tiếng La Tinh (1652) và tự tay Rốt lại dịch sang tiếng Việt Nam chính là món quà đầu tiên Rốt mang về cho châu Âu, nhất là cho nước Pháp tư bản vốn đang mơ ước. Chính vì thế, nó được in lại bằng tiếng Pháp sau không đầy một năm chào đời ở châu Âu. Rốt đã tự hào nói về món quà đầu tiên ấy như sau: “Tôi không biết vì đâu mà cái vương quốc đẹp đẽ này lại chưa được biết đến, đến nỗi mà ngay các nhà địa lý châu Âu cũng không biết tên nó nữa và họ hoàn toàn không nói gì hết về nó trong các bản đồ mà họ đã ghi rất rõ tất cả các nước trên thế giới này. Họ đã lầm lẫn nó với vương quốc Đàng Trong và hoàn toàn nói sai bét về hai vương quốc ấy, họ đã làm cho những người đã từng sống ở những nơi đó phải bật cười”[14]. Rồi Rốt tỏ nỗi luyến tiếc “hai vương quốc” ấy - điều này ông Phạm Đình Khiêm cũng phải thấy - rằng: “Tôi từ giã vương quốc Đàng Trong bằng thể xác nhưng chẳng phải bằng tâm hồn. Cả đối với vương quốc Đàng Ngoài cũng vậy. Thật sự tâm hồn tôi đã để trọn đời ở hai nơi ấy và tôi tưởng không bao giờ tâm hồn tôi đã có thể rời khỏi đó”[15]. Nhưng vì sao “tâm tưởng” của Rốt “đã gửi lại cho Việt Nam” một cách thiết tha đến như thế? Và có phải chăng như lời ông Lê Ngọc Trụ, Rốt là “một người lính ưu tú của Giê Su trọn đời tận tụy hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam” [16] nên mọi người dân nước ta phải tỏ lòng khâm phục và sùng bái vị đại ân nhân tài đức ấy? Thì cũng không phải ai khác ngoài Rốt, đã tự nói lên “tâm tư” ấy của mình như sau: “Họ giàu lắm vì đất đai trong xứ rất phì nhiêu. Vùng này có 24 con sông tưới nhuần giúp cho sự đi lại bằng đường thủy khắp xứ vô cùng thuận tiện, sự buôn bán và giao thông nhờ đó được dễ dàng… Đàng Trong có mỏ vàng, rất nhiều hồ tiêu và tơ, nhiều đường”[17] và Rốt kết luận: “Đây là một vị trí cần phải chiếm lấy. Và chiếm được vị trí này thì thương gia châu Âu sẽ tìm được nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào”[18]. Đấy, cái gọi là “trọn đời tận tụy hy sinh cho tổ quốc Việt Nam” là như thế! Như những ai đã đọc lịch sử nước nhà đều biết thời kỳ Rốt “tận tụy” ấy chính là thời kỳ suy sụp của chế độ phong kiến Việt Nam. Nội bộ giai cấp thống trị rất lục đục, kinh tế sa sút tiêu điều. Phong trào nông dân khởi nghĩa để giành quyền sống, quyền làm người không năm nào không có. Nhân dân đói khổ, đến nỗi phải bỏ quê hương làng xóm, lưu tán khắp nơi. Có lúc xảy ra chuyện ăn thịt người. Trong tình thế ấy, Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài đã trở thành miếng đất tốt cho mũi tấn công theo thứ tự bộ ba: Giáo sĩ ngoại quốc - hàng hóa - chiến thuyền có đại bác của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Khi con người đau khổ nơi thế gian thì thường tìm an ủi bằng một kiểu hạnh phúc nào đó ở nơi siêu thế gian. Cho nên, cũng chẳng có ai lạ gì khi với con đường họa phúc theo kiểu xuống địa ngục và lên thiên đàng, các giáo sĩ ngoại quốc đã chinh phục được linh hồn của những con người đang mong mỏi một hạnh phúc vĩnh viễn ở chốn siêu thế gian nào đó trong cái xã hội phong kiến Việt Nam đang quằn quại trong nhiều biến động của đói khổ lưu ly. Điều này, cũng chẳng ai khác ngoài Rốt đã tự nói rõ ra: “Phương pháp mà tôi đã theo là tự đặt vấn đề bất diệt của linh hồn và một cuộc đời khác. Ở cuộc đời khác ấy, tôi đã chuyển sang chứng minh sự tồn tại của thiên mệnh rồi thượng đế. Như thế từng bước, từng bước chúng tôi đã đi đến những điều huyền bí khó khăn nhất. Kinh nghiệm đã cho chúng tôi thấy rằng phương pháp giáo dục ấy cho những người tà giáo rất có ích, tôi đã giảng nghĩa trong đề cương giáo lý của tôi rằng tôi chia làm tám ngày, ở đó tôi cố gắng đặt tất cả những chân lý cần phải giáo dục những người còn u mê… Tàu chưa kịp cập bến thì chúng tôi đã thấy một khối người đông đặc đang từng đám chạy lại để xem những hàng hóa đẹp đẽ mà tàu chuyên chở. Lập tức tôi bắt đầu ngay vào công việc rao hàng của mình. Tôi nói với họ rằng tôi có một món hàng quý hơn và rẻ hơn hết thảy mọi thứ khác, rằng tôi sẽ biếu không cho những ai muốn có, rằng đó là cái đạo thật, con đường hạnh phúc thật. Tôi đã cho họ một bài giảng đạo nhỏ bởi vì cái chữ “đạo” (đàng) trong tiếng nước họ vừa có nghĩa là đạo vừa có nghĩa là con đường… Với mẻ lưới đầu tiên khi chúng tôi vừa kịp đặt chân xuống đất liền ấy, hai người rất khôn ngoan đã mắc lưới và đã quyết định chịu rửa tội”[19].

Rời khỏi Việt Nam, Rốt lại càng ráo riết hoạt động hơn, nhưng không tránh khỏi những trở ngại lớn do cuộc cạnh tranh giữa chủ nhĩa tư bản Bồ Đào Nha và Pháp gây ra. Rốt đã từng than thở: “Với sự ngượng ngùng và xấu hổ của các tín đồ Cơ đốc, tôi cần phải nói rằng, một người Pháp khi tới vương quốc Đàng Ngoài và gặp gỡ chung đụng với một người Bồ Đào Nha là bạn của mình thì không thể ở với nhau lâu dài mà không có chuyện cãi cọ xô xát với anh ta”[20]. Và “mặt khác, kinh phí các giáo sĩ đều thực sự gắn chặt với người Bồ Đào Nha lúc này đang bảo hộ nhà thờ ở Viễn Đông và không bao lâu, họ có khuynh hướng, có độc quyền về chức năng đó, ra sức loại trừ hết thảy các quốc gia công giáo khác”[21].

Tuy nhiên, như trên đã trình bày, khi thế lực kinh tế, quân sự của Bồ Đào Nha ở thế kỷ XVII dần dần sút kém thì địa vị của giáo đoàn Dòng Tên gắn liền với nó cũng lung lay. Cho nên, chúng ta cũng không lấy làm lạ gì khi Rốt đã tính toán tìm tới một thế lực “phần đời’ khác tuy phát triển sau Bồ Đào Nha nhưng lại vượt xa nó ở châu Âu. Năm 1649, khi đến La Mã, yết kiến giáo hoàng I-nô-xăng X và sau khi trình bày tình hình ở Đông Dương, Rốt đã xin cử thêm Giám mục sang hoạt động và nên dựa vào thế lực của tư bản Pháp, Rốt đã tâu với đấng bề trên: “Tôi tin rằng nước Pháp là vương quốc mến Chúa nhất trên thế giới sẽ cung cấp nhiều lính để đi chinh phục tất cả phương Đông và cưỡng bức họ về với đấng Ki-ri-xi-tô. Và đặc biệt là tôi sẽ tìm thấy ở vương quốc ấy các phương tiện để có các hàng giám mục có thể làm cha và làm thầy trong những nhà thờ ấy”[22]. Nhưng mưu đồ của Rốt không thoát khỏi con mắt của triều đình Bồ Đào Nha do vua Giăng IV đứng đầu “không phải ngu dốt gì trước những sự lo toan của đức cha Rốt để có những giám mục Pháp trực thuộc thẳng vào Bộ Truyền giáo rồi đây sẽ gạt hẳn ảnh hưởng của Ma Cao và của Bồ Đào Nha, nên Giăng IV đã chống đối lại kịch liệt. Quả thế, việc sáng lập hàng giáo phẩm mà Rốt cổ võ đối lập với quyền lợi của người Bồ Đào Nha, họ có thể lo sợ rằng những địa phận mới này vượt qua hẳn sự chỉ huy của họ, trong khi mà hai địa phận vốn có là Ma Cao và Ma-lắc-ca đã do các chức giám mục Bồ nắm giữ rồi”[23]. Giáo sĩ Lô-nay đã bộc lộ rõ hơn sự cạnh tranh giữa thế lực của tư bản Bồ Đào Nha và Pháp: “Thực ra, Bồ Đào Nha… đã coi những vùng đất đai mà các giáo sĩ đặt chân tới là thuộc phạm vi ảnh hưởng của họ, còn những nơi họ chưa chiếm được hoặc chưa truyền giáo được thì họ lại không muốn có một giáo sĩ nào của nước khác cả. Khi biết rằng có một số giáo sĩ Pháp được phong làm giám mục địa phận, họ rất lo sợ là nước Pháp đã thọc tay vào Viễn đông, sẽ phỗng mất những thuộc địa mà họ chưa chiếm được, sẽ hủy hoại ảnh hưởng của họ và phá hoại nền thương mại của họ...”[24]. Trước sự cạnh tranh giữa Pháp và Bồ Đào Nha trong cuộc chạy đua phát huy ảnh hưởng sang Viễn Đông, thì thái độ của Va-ti-căng thế nào? Va-ti-căng tuy biết rõ rằng thế lực “phần đời” của Bồ Đào Nha ở châu Âu đã suy yếu, nhưng chưa dám kiên quyết dựa hẳn vào Pháp dù rằng Rốt đã tâu lên là: “Nước Pháp… sẽ cung cấp nhiều lính để đi chinh phục tất cả phương Đông và cưỡng bức họ về với đấng Ki-ri-xi-tô”. Bởi vì: “La Mã cũng đã biết từ lâu sự phản kháng bí mật của họ [người Bồ Đào Nha -TG] nhưng không thể và cũng không muốn làm phật ý họ vì ngoài lòng biết ơn một nước đã làm cho mình nhiều việc thì La Mã còn sợ Bồ Đào Nha bắt bớ tù đày những giáo sĩ Pháp mà đại sứ Bồ Đào Nha đã đe dọa”[25]. Nhưng cuối cùng thì Va-ti-căng cũng tán thành ý muốn của Rốt về sự cần thiết thành lập những địa phận mới và muốn cử Rốt làm giám mục. Mặc dù có sự cạnh tranh của Bồ, Rốt vẫn mưu toan thành lập một giáo đoàn Pháp trực thuộc Va-ti-căng. Với dự định ấy, ngày 15/9/1652 Rốt rời La Mã tới thẳng Pa-ri sau khi đã hôn chân Giáo hoàng. Để đạt mục tiêu, Rốt nói rõ thủ đoạn của mình như sau: “Để xuất đầu lộ diện ở nước Pháp, tôi cần có một vị thần bảo hộ mở cho tôi một con đường thuận lợi trong triều đình của vị đế vương lớn nhất trên hành tinh này”[26]. Tới Pa-ri, Rốt được linh mục riêng của hoàng hậu là Hăng-ri đờ Mô-pa (H. de Maupas) ủng hộ. Sau đó lại được một đồng nghiệp của Rôt là giám mục Ba-gô (Bagot) tiến cử tham gia vào một giáo đoàn do giáo sĩ Pan-luy (F. Pallu) tổ chức và Ba-gô phụ trách. Rốt bèn trình bày với giáo đoàn này sự cần thiết phải thành lập những giáo đoàn sang Viễn Đông và nói rõ ý muốn của Giáo hoàng đã trao cho mình. Sau một thời gian ngắn, họ đáp ứng lời kêu gọi của Rốt và ý muốn của Va-ti-căng, Bộ Truyền giáo La Mã lập tức nhận được danh sách đề nghị những hàng giáo phẩm Pháp, Va-ti-căng biết rằng các giáo sĩ được hai thế lực tôn giáo và thế lực tư bản Pháp thông lưng nhau sắp đặt để sẵn sàng tham gia các giáo đoàn ở vương quốc Đàng Ngoài và Đàng Trong nên đã giao cho Khâm sai của Va-ti-căng ở Pa-ri toàn quyền lựa chọn 3 hàng giáo phẩm của Pháp có thể làm tổng giám mục địa phận. Việc lựa chọn này rơi vào Pan-luy, La-van (Laval) và Pi-cơ (Pique). Nhưng Bồ Đào Nha đã tìm cách ngăn trở và do đó đã gây ra sự công phẫn của Pháp. Việc điều đình giữa Pháp và Bồ Đào Nha được tiến triển nhờ sự can thiệp của Đại hội đồng các tu sĩ nước Pháp bên cạnh Va-ti-căng. Trong năm 1653, tổ chức các tu sĩ Pháp đã hai lần gửi thư cho Va-ti-căng yêu cầu I-nô-xăng X thừa nhận tính chất độc lập của các giáo đoàn hoạt động ở Viễn Đông của Pháp mà Rốt đã thành lập nghĩa là thừa nhận hẳn hoi thế lực “phần hồn” ở Viễn Đông nằm trong tay thế lực “phần đời’ của Pháp đang vượt xa Bồ Đào Nha ở châu Âu. Nhiều giám mục, giáo sĩ Pháp đã ký vào đơn thỉnh nguyện và cử Tổng giám mục địa phận Ranh và Vanh-xăng-đơ Pôn (St Vincen de Paul) mang tới Va-ti-căng vào tháng 1 năm 1653. Trước tình hình Va-ti-căng kiên quyết dựa vào thế lực của Pháp, thì thế lực phần hồn của Bồ Đào Nha đã trả thù Rốt vì Rốt đã “phản lại giáo đoàn Giê-su” của họ bằng cách phái Rốt đi Ba Tư với tư cách là giáo chủ một đoàn truyền giáo và Rốt chết ở đó năm 1660. Nhưng viên gạch đầu tiên mà Rốt đặt cho “lịch sử nước Pháp hải ngoại” ở Viễn Đông được những người cộng sự của Rốt tiếp tục thực hiện một cách không kém gì Rốt và ngày càng lộ liễu hơn Rốt.

Cuối cùng, ngày 9-9 năm 1659, một sắc chỉ của Va-ti-căng chỉ định ba hàng giáo phẩm của Pháp là Pan-luy, giám mục xứ Hê-li-ô-pô-lit (Hesliopolis);, Lăm-be (P. de la Motte Lambert), giám mục xứ Bê- rít- tơ (Béryte) và Lô-tô-lăng-đi (Sgnace Lotolendi), giám mục xứ Mê-ten-lô-pô-lit (Mesteellopolis) ở Viễn Đông. Cả ba trực thuộc hẳn vào giáo hoàng chứ không lệ thuộc vào hai chức Tổng giám mục Ma Cao và Ma-lăc-ca do Bồ Đào Nha nắm giữ nữa. Thế rồi, Hội Truyền giáo đối Ngoại quốc được chính thức thành lập với một chủng viện ở Pa-ri. Cơ sở hoạt động chung của hội là Chủng viện Hội Truyền giáo Ngoại quốc Pa-ri và Đại chủng viện Pi-năng độc nhất ở Viễn Đông. Hội đã được sự ủng hộ của vương triều Lu-i XIV, chỗ dựa của giai cấp tư sản Pháp đang lên. Triều đình Lu-i XIV trong khi tay phải bỏ vốn cho giai cấp tư sản Pháp lao vào “cuộc chiến tranh tiền bạc” ở châu Âu, phát triển công nghiệp cận đại và thành lập cùng một lúc 3 ba công ty thương mại đường biển thì đồng thời tay trái đã bỏ vốn cho Rốt thành lập Hội Truyền giáo Ngoại quốc. Vị mạnh thường quân của giai cấp tư sản Pháp, vua Lu-i XIV đã trợ cấp hàng năm cho mỗi giáo sĩ của Hội Truyền giáo Ngoại quốc Pháp do Rốt thành lập 1.000 li-vơ-rơ rồi tăng lên 3000 li-vơ-rơ. Tiếp đó, bọn quý tộc tư bản, các hàng giáo phẩm cao cấp của giáo đoàn thuộc Pháp, các chức tu sĩ đã góp tiền ủng hộ “sự nghiệp” của Rốt. “Bà lớn” E-ghi-ông (Aiguillon), dì của bà Ri-ơ-li-sơ, bà lớn Ma-da-ranh (Mazarin), … trợ cấp một món lợi nhuận hàng năm là 600 li-vơ-rơ, bà Ba-vi-ông (Miramion de Bavillon) và Phu-kê (Fouquet) tặng từ 3000 đến 6000 li-vơ-rơ hàng năm. Hội các tu sĩ giúp 6000 li-vơ-rơ và các thành viên của hội Xanh Sác-cơ-rơ-măng bỏ ra 120.000 li-vơ-rơ. Hội còn đề nghị tổ chức một công ty thương mại của Pháp ở Viễn Đông gọi là Công ty Hoàng gia Ấn Độ để đảm nhiệm việc liên lạc với địa phận truyền giáo của hội thành lập. Năm 1665, Va-ti-căng lại cho phép Hội Truyền giáo Ngoại quốc lập một đại chủng viện đào tạo giáo sĩ truyền giáo của riêng Pháp. Nhưng ở Đông Dương, hội vẫn gặp phải sự kình địch của Bồ Đào Nha và bị tổ chức truyền giáo của Bồ Đào Nha ngăn trở. Vì thế năm 1665, Pan-luy phải trở về châu Âu để yêu cầu Giáo hoàng giải quyết dứt khoát vấn đề độc lập của chức giám mục địa phận của Pháp với thế lực “phần đời” và “phần hồn” của Bồ Đào Nha. Và với sự hoạt động tích cực của Pan-luy năm 1677, La Mã đã chấp nhận dự án tổ chức các hàng giáo phẩm Pháp. Từ đó, các giáo sĩ của Hội Truyền giáo Ngoại quốc Pháp đã không ngừng hoạt động để chuẩn bị điều kiện thực hiện mưu đồ xâm lược của chủ nghĩa tư bản Pháp. và nếu như nói rằng Rốt đã “trọn đời hy sinh” thì chính là hy sinh cho mưu đồ ấy mà thôi. 

“Nói tóm lại, việc cử một hàng giáo phẩm gồm những giám mục Pháp tới vương quốc Đàng Ngoài là một sự kiện lớn, bởi vì cho đến bây giờ nước Pháp đã vắng mặt trong vùng châu Á này; từ đây trở đi sẽ luôn luôn được các giáo sĩ truyền giáo Pháp đại diện.”[27]. Cho nên, đến khi bị hất cẳng khỏi Ấn Độ, tư bản Pháp phải gấp rút thực hiện mưu đồ của chúng để tạo thế quân bình với Anh ở phương Đông và thế giới đồng thời làm bàn đạp tấn công lục địa Trung Quốc thì ở bán đảo Đông Dương Pháp có Hội Truyền giáo Ngoại quốc làm đại diện. Và cũng chính nhờ cơ sở đó mà Pi-nhô đờ Bê-hen (Pigneau de Behaine) đã được Nguyễn Ánh tìm tới xin cầu viện Pháp, “rước voi giầy mả tổ”. Sau hàng thế kỷ trường kỳ mai phục bằng Hội Truyền giáo Ngoại quốc, tới đây tư bản Pháp đã nắm được thời cơ can thiệp thẳng vào Việt Nam. Đó là cái mà các sử gia phong kiến, thực dân gọi là công nghiệp của Pi-nhô đờ Bê-hen, người được Lu-i XVI phong tước công và cử làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền bên cạnh Nguyễn Ánh và được Nguyễn Ánh tôn lên làm “Cha cả” với chức Thái phó tước Quận công. Nhưng vai trò của Bá Đa Lộc (Pi-nhô đờ Bê-hen) vốn chi chỉ là kẻ trực tiếp khiến cho tư bản Pháp nắm được Nguyễn Ánh, còn yếu tố quyết định đầu tiên là cả quá trình hoạt động không mệt mỏi của Hội Truyền giáo Ngoại quốc nằm trong tay thế lực tư bản Pháp, vốn do Rốt sáng lập. Chính vì thế mà Ca-đi-e (Cadiere) một giáo sĩ đồng thời là một sử gia thực dân Pháp đã nhận định rằng: “Lịch sử Hội Truyền giáo Ngoại quốc gắn chặt với lịch sử truyền bá ảnh hưởng của Pháp ở Đông Dương: một trong những người sáng lập của hội là Pan-luy đã nối liền những mối liên lạc đầu tiên giữa hai triều đình Việt - Pháp, vị giáo sĩ lỗi lạc nhất của hội là giám mục A-đơ-răng đã chính thức thắt chặt quan hệ đó. Sự hoạt động của các hội viên đã dẫn tới các cuộc vũ trang xâm nhập đầu tiên”[28]. Còn Bô-ni-pha-xy đã ghi công lao của Rốt đối với “Lịch sử nước Pháp hải ngoại” như sau: “Vai trò của Rốt trong việc thành lập dòng Thừa sai Pa-ri, sự hoạt động của Rốt đã làm cho các địa phận Đàng Trong và Đàng Ngoài thoát khỏi sự lệ thuộc vào Bồ Đào Nha và gắn chặt với Bộ Truyền giáo La Mã, tóm lại là đã làm cho nước Pháp có một vai trò quan trọng bậc nhất trên bán đảo Đông Dương”[29].

III. Phải chăng hệ thống ký hiệu ghi âm cuả tiếng Việt xuất hiện trong thế kỷ XVII là động lực lịch sử “làm cho nước Nam ta hay lên rất nhiều” trong suốt thời gian một thế kỷ qua?

Vấn đề trước tiên chúng ta cần xét là mối liên hệ giữa chữ Quốc ngữ với tư cách là một hệ thống ký hiệu ghi âm tiếng Việt Nam với bản thân tiếng Việt Nam.

Như mọi người đều biết, chữ Quốc ngữ là văn tự, là chữ viết của tiếng nói của người Việt Nam từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau. Chữ Quốc ngữ không phải là bản thân tiếng Việt Nam và ngược lại bản thân tiếng Việt Nam không phải là chữ Quốc ngữ, tiếng Việt Nam là ngôn ngữ của người Việt Nam được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, từ buổi bình minh của những con người đầu tiên xuất hiện trên đất nước Việt Nam. Còn cái chúng ta gọi là chữ Quốc ngữ chỉ là chữ viết; nói cụ thể hơn là hệ thống ký hiệu ghi âm của tiếng nói ấy xuất hiện cách đây ba thế kỷ. Nó xuất hiện như thế nào, dưới đây chúng tôi sẽ trình bày cụ thể. Nhưng trước khi hệ thống ký hiệu ghi âm ấy được xuất hiện thì người Việt Nam đã dùng hệ thống ký hiệu ghi âm gọi là chữ Nôm, tuy rằng không thể khoa học và tiện lợi như chữ Quốc ngữ. Thế nghĩa là như ai nấy đều biết, trước khi có chữ Quốc ngữ thì chữ Nôm đã là văn tự để ghi lại những thành tựu to lớn của văn hóa, văn học Việt Nam, của sự phát triển của ngôn ngữ Việt Nam tiêu biểu nhất là Truyện Kiều rồi. Ngôn ngữ và văn tự hay nói cách khác là tiếng nói và chữ viết là hai vấn đề tuy liên quan mật thiết với nhau, nhưng không phải là đồng nhất. Lịch sử chữ viết chứng tỏ điều đó. Ngôn ngữ xuất hiện từ rất lâu, cùng một lúc với sự xuất hiện chính thức của xã hội loài người, còn văn tự chỉ mới xuất hiện cách đây trên dưới 5000 năm thôi. Thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, nhà triết học kiêm thi sĩ Luy-cơ-rét (Lucrece) cũng đã biết rõ điều đó: “từ xa xưa, khi con người đã bước vào thời kỳ sinh sống trong những ngôi nhà kiên cố và mặt đất đã được cày cấy trồng trọt theo từng khu vực, từng ranh giới… và từ xa xưa, khi con người đã giúp đỡ lẫn nhau bằng những thỏa ước thì những nhà thơ mới bắt đầu viết bằng chữ, những câu chuyện về những sự kiện cao cả đó: thời kỳ sinh ra văn tự không thể xa hơn thế được”[30]. Mặt khác, đã gọi là xã hội thì không thể không có tiếng nói, ngôn ngữ nhưng lại chưa có văn tự. Văn tự có thể cải cách, nhưng tiếng nói thì lại không thể thay đổi được. Chính vì thế, với tư cách là công cụ trao đổi tư tưởng, ngôn ngữ, tiếng nói là cái cơ bản. Còn văn tự với tư cách là hệ thống ký hiệu ghi âm của một thứ tiếng nói nào đó, chỉ là bổ trợ ở 2 hai phương diện:

1. Ghi chép tiếng nói để phổ biến nó qua không gian, thời gian.

2. Giúp cho tiếng nói phát triển và thống nhất. Nói khác đi, văn tự phụ thuộc vào tiếng nói chứ tiếng nói không phụ thuộc vào văn tự.

Ngay từ giữa thế kỷ trước, một người Việt Nam như Nguyễn Trường Tộ đã sơ bộ nhìn thấy điều đó: “văn tự là tiếng nói bằng chữ” để ghi những việc làm. Hồi mới có nhân loại, chưa có văn tự, nhưng vẫn là người. Về sau công việc ngày càng nhiều, sao cho khỏi có những việc quên đi? Vì vậy, người ta mới tìm ra một hình vẽ để ghi lại. Đời càng tiến, việc càng nhiều, người ta càng phải vẽ để ghi lại nhiều thêm nữa. Dần dần thành ra chữ. Chữ lại tăng thêm theo tiếng nói”[31]. Tác dụng của chữ Quốc ngữ cũng như bất cứ một hệ thống ký hiệu ghi âm của bất cứ thứ ngôn ngữ nào trên thế giới không thể ra ngoài hai chức năng nói trên được.

Cũng như mọi văn tự của bất cứ tiếng nói nào trên thế giới, chữ Quốc ngữ là một hiện tượng xã hội, bản thân nó không thuộc riêng một giai cấp nào, nhưng kẻ sử dụng nó thì mang tính chất giai cấp. Chúng ta đã không ai có thể phủ nhận rằng chữ Quốc ngữ đầu tiên xuất hiện với tư cách là công cụ của các giáo sĩ ngoại quốc trong hoạt động “phần đời” và “phần hồn” của họ. Và suốt trong mấy thế kỷ, nó chỉ sống âm thầm trong các tu viện, giáo đường,… mà thôi. Việc phổ cập nó trong toàn dân Việt Nam và biến nó thành một công cụ đắc lực để truyền bá khoa học, văn hóa,… theo đúng chức năng của bất cứ hệ thống ký hiệu ghi âm của bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới, hoàn toàn nằm ngoài ý muốn chủ quan của Rốt. Cũng không phải ai khác mà chính bản thân Rốt đã cho ta thấy rõ điều đó. Trong lời tựa cuốn từ điển Việt - Bồ - La tinh (trang 8) xuất bản năm 1651 do Bộ Truyền giáo ấn hành ở Rôm, sau khi nêu lên “ý nghĩa thần học về các ngôn ngữ trong khắp thiên hạ” Rốt đã nói tới “sự cần thiết phải rao giảng tin mừng Thiên Chúa giáo trong khắp thế giới và trong hết thảy mọi tiếng nói”. Sau hai năm, trong cuốn Du ký và giáo đoàn ở Ttrung Hoa cùng các vương quốc phương Đông khác (Divers voyages et missions en la chine et autres royaumes de L’Orient ) (1653) Rốt nói rõ hơn rằng: “từ khi tôi trở lại châu Âu, tôi đã cho in ở La Mã quyển Tự điển An Nam - Bồ Đào Nha - La Tinh, một quyển ngữ pháp và một quyển giáo lý, trong đó tôi trình bày phương pháp diễn giảng các lẽ màu nhiệm cho người lương dân”[32]. Hơn thế nữa, Rốt đã tự hào và tự bộc lộ mục đích của mình như sau: “và thứ tiếng nói mà tôi đã học chính là nguyên nhân mà người ta rất lưu ý đến tôi để tiến hành chống lại mọi tà giáo của vương quốc Đàng Ngoài với vũ khí của đấng Ki-ri-xi-tô”[33]. Không phải bàn thêm nữa, mục đích của Rốt trong việc tiếp tục thiết chế ra hệ thống ký hiệu của tiếng Việt chỉ là thế, có đâu là chuyện “dùng làm một khí cụ sắc bén để tiến bộ” cho “nước Nam ta” như những kẻ mưu toan lợi dụng việc đó để hòng cứu vãn uy thế tinh thần của một nền thống trị khủng bố tất cả mọi người, kể cả người tu hành nơi cửa Phật?

Điều đáng chú ý là trong khi ông Phạm Đình Khiêm còn kín đáo cột chặt “hai phương diện tôn giáo và văn hóa” trong “một sự nghiệp lẫy lừng rạng chói từ Á sang Âu” của Rốt thì ông Nguyễn Khắc Xuyên lại công khai nâng cao uy thế Va-ti-căng theo kiểu sau đây: Tự điển Việt - Bồ - La của giáo sĩ Đắc Lộ đã do Thánh bộ Truyền giáo tại Rôm cho xuất bản năm 1651. Việc này chứng tỏ sự quan hệ và thận trọng bởi vì chính Tòa thánh đã đứng ra đảm đương phát hành cũng như truyền bá. Thực ra để hiểu cử chỉ ấy, người ta phải để ý tới công cuộc mà Thánh bộ đang theo đuổi tại miền Đông Nam Á châu vào cuối thế kỷ XVI và XVII. Công bố tin mừng Phúc âm và Đạo Ki tô trong những địa phương xa xôi này trong đó kể cả nước Việt Nam mà ngõ hầu chu toàn sứ mệnh cao cả ấy, không thể nào không cố gắng học hỏi các ngôn ngữ, tiếng nói của người bản thổ. Nhưng cuốn tự điển thật đã là một dụng cụ làm việc rất thiết yếu. Nói cho đúng trong khi Thánh bộ Truyền giáo lo việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo thì thế lực thương mại của người Bồ Đào Nha rất thịnh hành ở những miền này. Bởi thế, thứ tiếng dùng để chuyển ngữ thời đó chính là tiếng Bồ chứ không phải là tiếng Anh, tiếng Hà Lan hay là tiếng Pháp. Cho nên chúng ta đã thấy cái công cụ kép, một công cụ đôi việc của cuốn tự điển Việt - Bồ -La vậy”[34]. Việc làm của Rốt gắn với vấn đề mà quan năm thực dân Bô-ni-pha-xy đã nói là “làm cho các địa phận Đàng Trong và Đàng Ngoài thoát khỏi sự lệ thuộc vào Bồ Đào Nha và gắn bó chặt chẽ với Bộ Truyền giáo La Mã, tóm lại là làm cho nước Pháp có một vai trò quan trọng bậc nhất trên bán đảo Đông Dương” và mục đích của các giáo sĩ thực chất chỉ là để “chu toàn một sứ mệnh cao cả”, sứ mệnh chinh phục các dân tộc khác!

Mặt khác, việc thiết chế ra chữ Quốc ngữ không phải là sự nghiệp của riêng Rốt. Như chúng ta đã theo dõi ở phần trên khi các giáo sĩ châu Âu len lỏi vào các vùng ở phương Đông để “chu toàn sứ mệnh cao cả” của thánh bộ truyền giáo thì “họ không thể nào không cố gắng học hỏi ngôn ngữ, tiếng nói của người bản thổ”[35]. Thế là vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVII một số tự điển về ngôn ngữ của các dân tộc phương Đông lần lượt xuất hiện. Chẳng hạn như Từ điển Bồ - Hán của Ru-gi-ơ-ri (Rugieri) và Ri-xi (Ricei), Ttự điển La - Bồ - Nhật của Gô-la-đô (Dicardo Gollado) ấn hành năm 1632,… Riêng ở Việt Nam từ năm 1613, sau khi lập ra một giáo đoàn ở Đàng Trong (1615) và Đàng Ngoài (1627) thì “những lính của Chúa” ấy sang nước ta đều đặn hơn và tìm mọi cách ở lại lâu dài hơn. Và ai nấy đều biết rằng dĩ nhiên họ không thể “chu toàn cái sứ mệnh cao cả” của họ bằng một thứ tiếng Việt theo cái kiểu của Bô-ri đã kể lại: “con gnoo muon bau tlom laom Hoaloan chiam” (con nhỏ muốn vào trong lòng Hòa Lan chăng?) và Bu-dô-mi chữa lại là “muon bau dau Chtistiam chiam? (muốn vào đạo Christiam” chăng?)[36]. Mà chẳng riêng gì họ, ngay những thương nhân Hòa Lan, Tây Ban Nha cũng không thể dùng mãi một thứ ngôn ngữ Việt Nam bằng dấu hiệu tay chân được. Thế là đúng như ông Nguyễn Sĩ Đạo nhận xét từ năm 1941: “buôn bán hay giảng đạo, họ đều cần biết tiếng bản xứ. Khi học được tiếng nào, họ ghi tiếng ấy bằng chữ của nước họ để khỏi quên, cũng như ta bây giờ học tiếng “nước ngoài” mà ghi bằng vần Quốc ngữ. Muốn truyền đạo ở một nước văn học phổ thông như nước ta, họ không thể nào cứ giảng miệng mãi bằng cái tiếng Việt lơ lớ của họ mới học, và nhiều khi nói sai chỉ tổ làm cho đám bình dân mỉm cười. Muốn có thanh thế họ cần phải nhờ những người Việt học thức theo giúp. Họ dạy những người này học chữ La Tinh và tiếng của họ để giúp họ dịch giảng những kinh sách đạo ra chữ Nôm. Có lẽ vì sự giao thiệp chữ nghĩa như thế mà những tập chữ ghi âm của những người Âu kia đã làm cho những người Việt đặt ra lối viết Quốc ngữ bằng chữ cái La Tinh, nếu không phải tự họ đã có cái sáng kiến ấy. Sự khó khăn nhất là ghi được đúng những âm thanh Việt ngữ. Có lẽ cách thiết âm để tìm đọc chữ Hán Việt và cách đánh vần bằng trắc để tìm ra những dấu phân biệt những âm thanh đặc biệt của tiếng Việt mà người ngoại quốc dẫu lâu năm ở xứ này cũng vẫn không tài nào nhận được để nói đúng giọng. Ấy thế mà họ đã phát minh ra cái then chốt của lối viết chữ Quốc ngữ ngày nay… Sự phát minh này cũng như các sự sáng tạo khác của người Việt ngày xưa, đều là vô danh, ngày nay ta không còn biết là của ai. Trái lại, của người Âu châu thì một kiểu quần áo, dao cạo,… đều có tên người sáng chế vì họ bao giờ cũng làm sách hay để giấy má lưu truyền về sau”[37].

Thật là rõ. Chính các học giả thực dân của Trường Viễn Đông Bác cổ trước Cách mạng tháng Tám cũng phải xác nhận vai trò của người Việt Nam “đều là vô danh” trong công trình tập thể, thiết chế ra chữ Quốc ngữ: một cách tự nhiên, họ (các giáo sĩ) phải được những người bản xứ mà họ đào tạo ra giúp đỡ. Những người này vốn quê ở tỉnh Nghệ An”[38]. Nhưng ngay trong các giáo sĩ này, ngoài Rốt  phải kể đến Bu- đô-mi người Ý sang nước ta từ năm 1613, Pi-na người Bồ Đào Nha sang nước ta từ 1617, Bô-ri, người Ý sang nước ta từ 1618,… Hơn nữa, cũng không ai khác ngoài Rốt đã nói về công việc của mình trong lời đề tựa cuốn Tự điển An Nam - Bồ - La Tinh như sau: “ Để khởi thảo cuốn tự điển này, không những tôi đã nhờ chính những người bản xứ đã giúp tôi học tiếng Việt Nam gần 12 năm trong suốt thời kỳ tôi ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, mà tôi còn học hỏi với các nhà truyền giáo khác. Tôi đã từng học với Pi-na, một người Bồ Đào Nha thuộc dòng Tên hèn mọn của chúng tôi. Ông là người rất giỏi tiếng bản xứ và là người đầu tiên rao giảng tiếng bản xứ.

Ngoài ra, tôi còn lợi dụng công việc của các giáo sĩ khác cùng thuộc dòng Tên nhất là của A-mi-ran (Gaspar de Amiral) và Bac-bô-da (Antonio de Barbosa) cả hai ông này, mỗi người đều đã làm một cuốn tự điển. Ông A-mi-ran làm cuốn tự điển An Nam - Bồ Đào Nha, ông Bác-bô-đa làm cuốn từ điển Bồ Đào Nha - An Nam. Nhưng tiếc rằng cả hai ông đều chết sớm. Tôi lợi dụng công việc của cả hai ông để viết ra cuốn tự điển mới có chua thêm tiếng La Tinh” ...

Trên đây, chúng ta đã thấy rằng chữ Quốc ngữ xuất hiện hoàn toàn không phải với mục đích “làm việc cho Việt Nam”; hơn nữa nó không phải là “sự nghiệp rạng chói từ Á sang Âu của riêng Rốt và nhất là quyết không thể tách rời sự đóng góp lớn của những người Việt Nam “đều là vô danh” trong quá trình xây dựng chữ Quốc ngữ”. Nhưng sự thật lịch sử đã vạch ra rằng Rốt đã dựa thành tích tập thể ấy để hoàn thiện một phương tiện quan trọng trong việc thực hiện mưu đồ chính trị là tận tụy phục vụ cho hai thế lực “phần đời” và “phần hồn” nằm trong tay chủ nghĩa tư bản Pháp ở thế kỷ XVII.

Công việc trong gần một thê thế kỷ vừa qua “nước Nam ta hay lên rất nhiều” thì phải chăng chỉ là do sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ ở thế kỷ XVII quyết định?

Ở đây, chúng ta không ai phủ nhận chữ Quốc ngữ đã có tác dụng to lớn trong việc truyền lại tư tưởng và văn hóa mà trong phạm vi bài viết này chúng tôi không nhằm đề cập đến. Nhưng nếu nói đến tác dụng của nó cũng là ở chỗ nó là công cụ bổ trợ của tiếng nói ở hai phương diện như trên đã nói mà thôi. Chữ Quốc ngữ xuất hiện trong hoàn cảnh và điều kiện mà chúng ta đã thấy cũng không thể vượt ra ngoài hai chức năng đó. Tất nhiên so với chữ Nôm thì chữ Quốc ngữ tiện lợi hơn nhiều. Dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc nước ta, nó đã đến thẳng với quảng đại quần chúng nhân dân, nên nó càng có điều kiện đảm đương một cách tốt đẹp hai chức năng của nó trong sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa mới thực sự do nhân dân, của nhân dân và vì nhân dân.

Vậy thì do đâu mà chỉ trong vòng không đầy một thế kỷ, dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam, ngôn ngữ Việt Nam đã phát triển nhanh chóng lạ thường? Ấy là chỉ vì trong vòng không đầy một thế kỷ ấy, xã hội Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã có những biến chuyển rất cơ bản với một tốc độ nhanh chóng vượt hẳn hàng chục thế kỷ trước cộng lại. Từ một nước phong kiến đình trệ, năm 1858 nước Việt Nam đã dần dần bị biến thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhưng nhân dân Việt Nam không ngừng anh dũng đứng lên đấu tranh giành độc lập từ thế hệ này sang thế hệ khác, kẻ trước, người sau liên tiếp tiến lên; phong trào quần chúng có lúc bị dập vùi trong máu lửa, trong sắt thép nhưng ngọn cờ cứu nước chưa hề bị buông lỏng và không ngừng phát triển. Cuộc chiến đấu ấy đã trải qua những chặng đường gay go, gian khổ từ phạm trù phong kiến qua phạm trù tư sản rồi sang phạm trù xã hội chủ nghĩa. Và tới năm 1945, với Cách mạng tháng Tám do chính Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo, từ một dân tộc nô lệ, dân tộc Việt Nam đã lớn lên như đức Thánh Gióng, thành một dân tộc độc lập chân chính và bước vào giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ tiến trình phát triển của loài người, không một sức mạnh nào ngăn cản nổi. Những biến chuyển nhanh chóng trong cơ cấu xã hội Việt Nam từ 1858 đến Cách mạng tháng Tám và trận Điện Biên Phủ đã làm cho cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp trên ba phương diện chính trị, kinh tế và văn hóa trong thời gian không đầy một thế kỷ ấy phát triển không ngừng. Chính sách ngu dân, văn hóa nô dịch, mất gốc bị đánh bại. Địa vị của tiếng Việt Nam, xã hội Việt Nam, văn hóa, khoa học chân chính Việt Nam đã tiến lên mạnh mẽ, phù hợp với quy luật lịch sử loài người và lịch sử dân tộc. Tương ứng với sự tiến lên mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam, văn hóa chân chính Việt Nam, và tiếng nói của người Việt Nam từ Nam chí Bắc cũng ngày càng phong phú, ngày càng chặt chẽ, vượt xa những thế kỷ trước, còn chữ Quốc ngữ vốn là một hệ thống ký hiệu ghi âm của nó chỉ góp phần bổ trợ ở hai chức năng của văn tự đối với ngôn ngữ mà thôi. Không có những điều kiện lịch sử tiên quyết trong gần một thế kỷ qua đó thì chữ Quốc ngữ cũng chỉ có thể sống âm thầm trong “cuộc chinh phục linh hồn các xứ An Nam” của Rốt như nó đã từng sống như thế trong gần ba thế kỷ từ khi nó xuất hiện thôi, làm thế nào mà một hiện tượng xã hội ấy lại có thể quyết định cái gọi là: “nước Nam” ta đã biết.

Mặt khác, lịch sử Việt Nam từ 1858 đến Cách mạng tháng Tám rồi trận Điện Biên Phủ đã chứng minh rằng, sở dĩ chữ Quốc ngữ, một hiện tượng xã hội xuất hiện giữa thế kỷ XVII trên đất nước Việt Nam, đã từ chỗ sống âm thầm trong “cuộc chinh phục linh hồn các xứ An Nam” đến chỗ tung bay ra ánh sáng để đến với hàng chục triệu con người Việt Nam và biến thành công cụ văn hóa, khoa học của giải phóng là một quá trình đấu tranh lâu dài cho một nền văn hóa dân tộc khoa học và đại chúng gắn liền một khối với toàn bộ lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Trong sự nghiệp đấu tranh cho một nền văn hóa dân tộc, khoa học và đại chúng ấy có cả xương máu và nước mắt của nhiều thế hệ Việt Nam, từ lớp sĩ phu của Đông Kinh Nghĩa Thục (1907-1908) đến các chiến sĩ của Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ thời kỳ Mặt trận Bình dân (1936-1939) và sự nghiệp “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, giặc xâm lăng” cũng như sự nghiệp “thanh toán nạn mù chữ”, sự nghiệp phát triển văn hóa, khoa học ở thời kỳ lịch sử sau Cách mạng tháng Tám dưới sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp vô sản Việt Nam. Chỉ có những kẻ vì đang nuôi ảo tưởng quay ngược bánh xe lịch sử Việt Nam nên đã sợ sự thật lịch sử Việt Nam một cách có ý thức trước quá trình phát triển rực rỡ đó của nền văn hóa dân tộc. Quá trình phát triển này gắn liền với quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta.

Nói tóm lại, sự thực lịch sử từ trước đến nay cũng như chân lý khoa học đã chứng minh rằng: bản thân một hiện tượng xã hội xuất hiện ở thế kỷ XVII trên đất nước Việt Nam là chữ Quốc ngữ không quyết định cái gọi là “hay lên rất nhiều của dân tộc Việt Nam” mà ngược lại chỉ có sự nghiệp đấu tranh chống xâm lược, chống chính sách ngu dân và văn hóa nô dịch mới làm cho dân tộc Việt Nam “đã hay lên rất nhiều” đồng thời quyết định vận mệnh chữ Quốc ngữ, nghĩa là đã làm cho nó thoát khỏi cảnh sống âm thầm như nó đã từng sống như thế trong hơn hai thế kỷ rồi đến với toàn dân Việt Nam để làm trọn hai chức năng của nó đúng như bất cứ hệ thống ký hiệu ghi âm của bất cứ tiếng nói nào trên thế giới. Giang sơn đất nước thực sự độc lập, thực sự của nhân dân thì văn hóa mới thực sự độc lập và do đó tiếng nói của dân tộc mới thực sự được tôn trọng và phát triển. Trên cơ sở đó hệ thống ký hiệu ghi âm tiếng nói - dù rất khoa học và tiện lợi - mới có thể làm tròn hai chức năng của nó đối với bản thân tiếng nói đó, đồng thời gián tiếp tác động tới sự phát triển của văn hóa dân tộc, văn hóa nhân dân được... Lịch sử văn hóa, lịch sử ngôn ngữ và lịch sử chữ viết của dân tộc ta cũng như bất cứ dân tộc nào trên thế giới ngày nay chẳng đã chứng minh như thế hay sao?

 

*  1.Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 63, tháng 6-1964, tr.14-28.  Mưu đồ chính trị này được F. Romanet du Caillaud mệnh danh là “Cuộc chinh phục linh hồn trong các xứ An Nam” (La conquête des aames dans les pays Aannamites). Tham khảo Romannet du Caillaud,- Essai sur les origines du Christianisme au Tonkin et dans les autres pays Aannamites. Paris, 1915, tr.182-183.
     2. Đăng lại trong Đặng Huy Vận ( 2019), Phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIXm đầu thế kỷ XX, NXB ĐHQG T.P Hồ Chí Minh sau khi đã được chúng tôi -– Đặng Thị Vân Chi - biên tập lại  chỉ giữ lại nội dung cốt lõi tập trung vào chủ đề của bài viết)

[1] Lavisse, Histoire de France, tập VII, Hachette, Paris.

[2] Nguyễn Hữu Trọng (1961), Nguồn gốc hàng giáo phẩm Việt Nam, dẫn theo Thế Hưng, “Đạo Thiên chúa ở Việt Nam”, Ttạp chí Học tập, số 11, tr.28.

[3] Nguyễn Hữu Trọng (1961), Tài liệu đã dẫnNhư trên, tr.29.

[4] Tham khảo: Lavisse, Sách đã dẫn ở trên.

[5] Tham khảo: Lavisse, Sách đã dẫn ở trên.

 

[6] Nguyễn Khắc Xuyên, (1960), Văn hóa châu Á, số 22.

[7] Nguyễn Khắc Xuyên, (1960), Văn hóa châu Á, số 22.

 

[8] Nguyễn Khắc Xuyên, (1960), Văn hóa châu Á, số 22.

[9] Bourgeois (1941), A.de Rhodes (1551-1650), Hà Nội, tr.1-5.

[10] F. Romanet du Caillaud, Sách đã dẫn, tr.182-183.

[11] Bonifacy, Les desbuts du Christianisme en Annam, Hà Nội, tr.40.

[12] Bonifacy, Sách đã dẫn, tr.40-41.

[13] Bonifacy, Sách đã dẫn, tr.41-42.

[14] A. de Rhodes, Divers voyages te missions, Paris, 1853.

[15] A. de Rhodes, Sách đã dẫn. Phạm Đình Khiêm dẫn trong Tạp chí Văn đàn số đặc biệt kỷ niệm giáo sĩ Đắc Llộ, tr.7.

[16] Lê Ngọc Trụ, Tạp chí Văn đàn số đã dẫn ở trên.

[17] A. de Rhodes, Sách đã dẫn, trích theo Thomazi, La conquête de L’Indochine, tr.13. Nguyên văn của Rốt: “Il y a là, une place à prende et, en s’y establissant, dé marchands d’Europe pourraient y trouver une source fe’conde de profít et de richesse”.

[18] A. de Rhodes, Sách đã dẫn, trích theo Thomazi, La conquête de L’Indochine, tr.13Như trên.

[19] A.de Rhodes, Sách đã dẫn, tr.109-110.

[20] A.de Rhodes, Sách đã dẫn, tr.101.

[21] Tham khảo: Launay, Histoire gésneral de la societe’ des missions e’trangeres, Paris, 1894, tập 1, tr.18.

[22] Bonifacy, Sách đã dẫn, tr.66.

[23] Boniffacy, Sách đã dẫn, tr.67.

[24] Launay, Sách đã dẫn, tr.18.

[25] Launay, Sách đã dẫn, tr.18.

[26] Bonifacy, Sách đã dẫn, tr.67.

[27] Tham khảo: Hanoteaux et Martineau- histoire des colonies Francaises, tập V, Paris, 1930-1931.

[28] Tham khảo Maybon (Charles), Histoire moderne du pay d’Annam.

[29] Bonifacy, Sách đã dẫn, tr.17.

[30] Lucrece, De natura rerum (1 er siecle avant J.C.), q.V câu thơ từ 1440-1442 và từ 1444-1448.

[31] Nguyễn Trường Tộ, Tế cấp bát điều.

[32] A. De Rhodes, Sách dã dẫn, tr.74.

[33] A. De Rhodes, Sách dã dẫn,Như trên, tr.97.

[34] Tạp chí Bách Khoa số 77 ra ngày 15/3/1960

[35] Nguyễn Khắc Xuyên (1960), Văn hóa châu Á, số 22.

[36] Tham khảo Christoforo BỏiBori, Relation de la nouvelle mission de la compagnie de Jesies au Royaume de la Cochinchine,. Rome, 1931.

[37] Nguyễn Sĩ Đạo, Đại Việt văn học lịch sử, 1941, tr.28-30.

[38] Meslanges sur L’Indochine annamite, Hà NoiNội, 1907, tập VII.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ CỦA A-LẾCH-XĂNG ĐỜ RỐT (A.D. RHODES) VÀ VẤN ĐỀ CHỮ QUỐC NGỮ *

                                                                                      Hoàng Văn Lân, Đặng Huy Vận I. N hững nguyên nhân l...