Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHIÊN CỨU LIÊN NGÀNH TRONG KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HIỆN NAY



GS.TS. ĐỖ QUANG HƯNG
 Bộ môn Khoa học chính trị, Trường Đại học KHXHVNV
Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Đặt vấn đề
Mới đây, tháng 12/2009 Trường ĐHKHXH&NV của chúng ta đã tổ chức Hội thảo quốc tế với chủ đề Nghiên cứu liên ngành trong Khoa học Xã hội và Nhân văn: Kinh nghiệm và triển vọng. Trong phát biểu khai mạc Hội thảo GS.TS. Nguyễn Văn Khánh, Hiệu trưởng nhà trường có nói rằng: “Trong điều kiện hiện nay, mỗi nhà khoa học cũng như mỗi ngành học cụ thể vừa cần chuyên môn hóa, tăng cường mở mang các hiểu biết bằng các phương pháp nghiên cứu chuyên biệt của mình, đồng thời vừa phải chú trọng và mở rộng liên kết, thâm nhập và hợp tác chặt chẽ với các ngành khoa học khác. Chính sự phát triển đến trình độ cao, chuyên sâu của mỗi ngành, chuyên ngành sẽ đảm bảo cơ sở vững chắc để phát triển nghiên cứu liên ngành hoặc các ngành liên ngành. Nghiên cứu liên ngành chỉ thực sự đạt được những thành tựu nghiên cứu mới trên cơ sở kế thừa và khai thác được thế mạnh của các ngành khoa học khác”[1].
Trong cuộc hội thảo này, chủ yếu là cuộc đối thoại giữa các GS, các nhà nghiên cứu Trường ĐHKHXH&NV và một số Trường đại học của Pháp, xoay quanh nhiều chủ đề có liên quan như: Lịch sử, Văn minh và văn hóa; Kinh tế và quản lý; Ngôn ngữ học và Văn học; Tâm lý học, Xã hội học và Khoa học giáo dục. Phần lớn các tham luận đi vào những chiều kích cụ thể của “tính liên ngành”thể hiện qua mỗi chuyên ngành, gợi ra nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu và đào tạo.
Trở lại với vấn đề này, tham luận của chúng tôi muốn tiếp cận ở góc độ khác. Trên cơ sở đưa ra một cái nhìn bao quát hơn về “tính lý thuyết”của phương pháp nghiên cứu liên ngành, đối chiếu với thực tại của Trường chúng ta (cả bình diện nghiên cứu và đào tạo), để có thể rút ra một số nhận định có tính phương pháp, tính thực tiễn sát hợp hơn, thúc đẩy đường hướng nghiên cứu đúng đắn này trong điều kiện cụ thể của Nhà trường.
Để đạt mục tiêu đó, tham luận của chúng tôi đề cập 2 vấn đề sau đây:
- Thứ nhất, bàn thêm về “lý thuyết nghiên cứu liên ngành”đối với Khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta hiện nay.
- Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh phương pháp nghiên cứu liên ngành ở Trường Đại học KHXH&NV chúng ta hiện nay.

II. Nội dung
II.1. Bàn thêm về “lý thuyết nghiên cứu liên ngành”và những liên hệ cần thiết
Cho đến hiện nay, khi nói đến nghiên cứu liên ngành (interdisciplinaire), đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, người ta thường nhấn mạnh đến sự chi phối trước hết của lối nghiên cứu đa ngành (multi-disciplinary), như một định đề mặc nhiên được thừa nhận, đặc biệt từ nửa cuối thế kỷ XX. Điểm nhấn của lý thuyết này, đúng như lời phát biểu trên đây là mỗi chuyên ngành cần có sự phát triển “trình độ cao, chuyên sâu” để có thể “mở rộng liên kết, xâm nhập” với các ngành khoa học khác.
Tính cách đa ngành của lý thuyết này cũng được nhiều người trong chúng ta đi sâu, thậm chí “mô hình hóa” nó, theo hướng: “Nghiên cứu liên ngành và một tổ hợp của nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, đòi hỏi tính liên kết, tính tổ chức và tính tập thể rất cao. Phương thức tốt nhất để tổ chức nghiên cứu liên ngành là các nhóm nghiên cứu liên ngành”[2].
Lối “mô hình hóa” này cũng đưa ra quan niệm “Nghiên cứu liên ngành không thích hợp với nghiên cứu cá nhân, cũng không hiệu quả khi là tập hợp các chuyên gia cùng một chuyên ngành. Những chuyên gia cùng một chuyên ngành dù giỏi đến mấy, khi ngồi cùng với nhau, trong một nhóm như thế này, thì sự bổ sung, hỗ trợ nâng cao nhận thức của nhau trong nhóm cũng không thật nhiều. Trái lại các chuyên gia ở các chuyên ngành khác nhau, cùng có chung một vấn đề quan tâm… thì có thể làm giàu rất nhanh vốn hiểu biết của mình cũng như toàn nhóm…”.
Như vậy là khi đề cập lý thuyết nghiên cứu đa ngành, chúng ta có thói quen là nhấn mạnh tính tất yếu của sự phối kết hợp của các chuyên gia của các chuyên ngành khác nhau (đa ngành), dường như nó đối lập với “nghiên cứu cá nhân đơn lẻ và độc lập”, mặc dù lập luận này cũng không phủ nhận vai trò cá thể trong nghiên cứu.
Theo chúng tôi, cách hiểu lý thuyết nghiên cứu đa ngành như thế đương nhiên có tính hợp lý và thực tiễn. Nhưng việc “mô hình hóa” lý thuyết ấy cần có sự tiếp cận từ những góc độ khác, để có thể lột tả đúng đắn hơn nữa bản chất của “nghiên cứu đa ngành”.
Trước hết, chúng ta “đành phải” trở lại câu chuyện sự phát triển của khoa học. Khoa học luận hiện nay đã chỉ ra 4 đặc tính quy luật của sự vận hành khoa học, chúng vừa có tính độc lập vừa phụ thuộc lẫn nhau đó là: lý tính, thực nghiệm, tưởng tượng và kiểm chứng. Trong đó thường xảy ra tình trạng xung đột thường xuyên giữa tư duy lý luận và thực nghiệm luận (thực nghiệm thường phá hủy kết cấu của duy lý và đòi hỏi nó phải tái cấu trúc). Sự bổ sung của yếu tố “tưởng tượng” và “kiểm chứng” trong quá trình vận hành là rất quan trọng.
Tuy thế, nhìn một cách đại thể trong lịch sử tư duy và khoa học thì, từ giữa thế kỷ XX trở về trước, khoa học dường như đều dựa trên lối tư duy đơn thể,  còn hiện nay là sự ngự trị của tư duy phức hợp (pensée complexe).
Theo ý kiến của Edgar Morin, người sáng lập Hiệp hội tư duy phức hợp – APC (Paris) thì, bản chất của tư duy hiện đại phải được hiểu là những gì được liên kết lại với nhau, đan dệt vào nhau: “triển khai một lý thuyết, một logic, một tri thức luận về tính phức hợp để có thể nhận biết con người”[3].
Trên cơ sở vạch ra những nguyên tắc của khái niệm vĩ mô (nói như Pascal “Tôi không thể quan niệm được cái toàn thể mà không quan niệm các bộ phận, và không thể quan niệm được các bộ phận mà không quan niệm cái toàn thể”), làm rõ hơn mối quan hệ “toàn thể nằm trong bộ phận, bộ phận nằm trong toàn thể”, Edgar Morin đã gợi ý cho chúng ta bản chất, mục tiêu của tính phức hợp (la complexité), xem đó như một động lực của khoa học hiện đại, trong đó để đạt được kết quả ấy nó phải trải qua 3 giai đoạn. Ông viết: “Giai đoạn đầu của tính phức hợp: ta thu nhận các tri thức giản đơn không giúp ta nhận biết đặc tính tổng thể. Một nhận xét có vẻ tẻ nhạt như sau đây, song các hệ quả của nó lại không nhàm chán: tấm tranh thảm lớn hơn tổng cộng các sợi đã cấu thành nó. Cái toàn thể là lớn hơn tổng cộng những bộ phận cấu thành.
Giai đoạn thứ hai của tính phức hợp: việc dệt nên tấm tranh thảm khiến cho chất lượng của loại sợi này hay loại sợi khác không thể giúp cho tất cả đều được biểu hiện trọn vẹn. Chúng bị ức chế hoặc mở ảo. Thế là cái toàn thể lại nhỏ hơn tổng cộng những bộ phận.
Giai đoạn thứ ba: tình hình đó gây nên những khó khăn cho giác tính và cấu trúc tinh thần của ta. Cái toàn thể vừa lớn hơn vừa nhỏ hơn tổng cộng những bộ phận”[4].
Lẽ dĩ nhiên, những ý kiến của Edgar Morin về tri thức luận và tư duy phức hợp là mới mẻ và còn gây nhiều tranh cãi. Nhưng ít nhất trong phạm vi nhận thức luận và phương pháp nó cũng cho ta những kinh nghiệm quý báu về “những thảm cảnh tàn phá mà các quan điểm đơn giản hóa đã gây ra, không chỉ trong thế giới trí tuệ mà cả trong cuộc sống”. Liên hệ với chủ đề của chúng ta hôm nay, chúng tôi muốn có một liên hệ lý thuyết rằng: bản thân nhu cầu của tri thức luận về tính phức hợp tự nó cũng đòi hỏi mỗi cá nhân, cộng đồng (người bình thường cũng như giới học thuật) phải tự trang bị cho mình phương pháp suy tư liên ngành. Có như vậy trong thời đại của chúng ta hiện nay “cái toàn thể” vừa lớn hơn vừa nhỏ hơn tổng cộng những bộ phận.
Ý nghĩa triết học và phương pháp này, sẽ soi rọi cho chúng ta một cái nhìn sâu rộng hơn về lý thuyết nghiên cứu đa ngành. Cần khắc phục lối nhìn nó như dấu cộng của các đơn thể (trong khoa học đã “bị” phân hóa, cắt ra thành các chuyên ngành khác nhau), ngược lại phải coi nó, phương pháp nghiên cứu liên ngành hôm nay như một đòi hỏi tổng thể, vĩ mô và vi mô, của lối tư duy phức hợp, điều mà nhân loại đang hướng tới.
Chúng tôi thử diễn tả, trong cách hiểu như thế, nếu cần phải “mô hình hóa” lý thuyết nghiên cứu liên ngành hôm nay là sự tái cấu hình (configuration) tổ chức và hoạt động khoa học, bất kể khoa học xã hội nhân văn hay khoa học tự nhiên. Điều đó không thể chỉ được hiểu đơn giản là “phương thức tổ chức nghiên cứu liên ngành trên cơ sở nghiên cứu các nhóm nghiên cứu liên ngành”, dù rằng sự tái cấu hình nói trên vẫn tôn trọng tính liên kết, tính tập thể và tổ chức.
Khi đề cập đến nghiên cứu đa ngành hiện nay, cũng có nhiều ý kiến nhấn mạnh vào việc nghiên cứu khu vực hay Khu vực học (Area studies), nhất là trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Thực ra việc nghiên cứu Khu vực học hôm nay, đặt trong khung cảnh lý thuyết về tư duy phức hợp mà chúng tôi đề cập ở phần trên, cũng chỉ là một biểu hiện trong việc nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về “cái toàn thể và cái bộ phận” trong đời sống nhân loại hôm nay.
Nói tóm lại, ý nghĩa triết học và phương pháp của lý thuyết nghiên cứu liên ngành là ở chỗ: nó không chỉ là một phương pháp (trong nhận thức hoặc nghiên cứu), không chỉ là một cách tiếp cận cần thiết trong khoa học xã hội và nhân văn hôm nay, thậm chí là một tất yếu đi nữa mà nó còn/phải là đòi hỏi tự thân của tri thức luận về tư duy phức hợp, mục tiêu và động lực để đạt tới tính hiện đại (modernité) trong bối cảnh thời đại cực hiện đại (transmoderne) hiện nay.
Nếu những suy nghĩ này là đúng thì cách hiểu về nghiên cứu liên ngành theo chúng tôi phải là tổng thể của các chiều kích sau đây:
- Thứ nhất, chiều kích cá nhân: tự thân mỗi con người, mỗi nhà khoa học phải vượt qua giai đoạn “nghiên cứu đơn nhất”, nói đúng hơn là dù chuyên sâu về “nghiên cứu đơn nhất” cũng phải dựa trên những tri thức của “cái toàn thể”. Điều này có lẽ nói rõ hơn yêu cầu của “hệ tri thức bổ trợ” với các chuyên gia mỗi chuyên ngành cụ thể.
- Thứ hai, bản thân mỗi chuyên ngành khoa học (ở đây là khoa học xã hội và nhân văn), ít nhất từ giữa thế kỷ XX trở lại đây cũng phải tuân theo quy luật tái cấu hình, theo hướng khắc phục sự đơn nhất, khu biệt, hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa tính toàn thể và bộ phận.
- Thứ ba, chiều kích phối kết hợp giữa các đơn thể, các chuyên ngành. Sự phối kết hợp này, như đã nói ở phần trên không chỉ có ý nghĩa như “một phương thức tổ chức tốt nhất” để nghiên cứu liên ngành mà nó còn có ý nghĩa như một đòi hỏi tất yếu của “cái tổng thể” (thực tại khoa học xã hội và nhân văn) khi đã/đang được tái cấu hình[5].
Theo lôgic đó thì việc tổ chức nghiên cứu, cao hơn là việc tái cấu hình khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta, hẹp lại là ở Trường ta, có lẽ cũng diễn ra theo những chiều kích đó. Vấn đề chỉ còn lại là chúng ta cần nỗ lực suy nghĩ hơn, đối chiếu tích cực, sáng tạo hơn với điều kiện thực tiễn của đất nước và nhà trường để thực hiện được quá trình này.
2.2. Nghiên cứu liên ngành trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn: Thành tựu và triển vọng
2.2.1. Trường ta khi mới thành lập, mái trường có vinh hạnh được Chủ tịch Hồ Chí Minh kí quyết định vào cuối 1945 đã có mô hình “liên ngành sơ khai”quen thuộc theo kinh nghiệm Âu – Mỹ giữa thế kỷ XX, gọi là Đại học Văn Khoa, được hiểu là Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn. Nhưng lúc đó thực chất là sự “đặt cạnh nhau” của 3 ngành chính là Văn học, Sử học và Triết học (truyền thống “Văn – Sử - Triết bất phân” đã có từ các giai đoạn trước) nhiều thầy giáo, nhà khoa học tên tuổi của mái trường này thực ra cũng khó phân biệt họ là chuyên ngành gì. Trường hợp các giáo sư nổi tiếng như Đặng Thai Mai, Nguyễn Văn Huyên, Trương Tửu cho đến Trần Đức Thảo, Trần Văn Giáp…dù mỗi người trong họ đều có một mặt mạnh để gọi họ là nhà triết học, nghiên cứu văn học, sử học hay dân tộc học…nhưng họ lại tinh thông nhiều lĩnh vực lân cận.
2.2.2. Từ khi Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ra đời, khối KHXH từng bước phát triển và chủ yếu theo mô hình Xô viết, coi trọng tính chuyên biệt, sự phân hóa thành các ngành nghiên cứu và đào tạo như Văn, Sử, Triết, sau đó bắt đầu có Khoa Luật, Kinh tế…
Phải nói rằng mô hình này đặc biệt đề cao tính chuyên sâu, chuyên ngành dù rằng về phương pháp nghiên cứu nó không phủ nhận sự “hỗ trợ” của một số phương pháp có tính liên ngành. Dù sao, mô hình ấy cũng đã tạo ra những ranh giới, những “chiến hào trí tuệ” mà từ đó nếu không xảy ra sự xung đột thì cũng “kính nhi viễn chi”[6]. Mặc dù trong suốt mấy chục năm tồn tại của Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, tại hai khoa lớn, Khoa Văn và Khoa Sử có được nhiều chuyên gia giỏi, nổi tiếng, nhiều công trình nghiên cứu có ảnh hưởng trong cả nước và trong từng giới, nhưng chưa có thể xuất hiện những công trình tầm cỡ lớn thể hiện tính cách liên ngành.
2.2.3. Dưới mái trường Khoa học Xã hội và Nhân văn của chúng ta hiện nay, một cấu trúc mới, hay có thể áp dụng thuật ngữ trên là một thực tại giáo dục đào tạo theo hướng tái cấu hình, thể hiện đa dạng và có chiều sâu hơn tính liên ngành. Theo chúng tôi, khái quát lại những điều chúng ta đã làm được là như sau:
- Thứ nhất, ngày nay, từ một “mô hình văn khoa” hay “mô hình khoa học xã hội” (Xô viết) chúng ta đã có một mô hình một trường đại học khoa học xã hội và nhân văn có sự tái cấu hình rất rõ rệt trong từng ngành, từng khối chuyên ngành. Từ khoa Văn, ngày nay nó đã là khối các khoa Ngôn ngữ, Hán Nôm, Biên kịch và Điện ảnh (“sự lai tạo giữa văn học và điện ảnh”[7]).
“Sử học” ngày nay trong trường chúng ta cũng đã đa nghĩa hơn nhiều. Bên cạnh những chuyên ngành lịch sử truyền thống, các chuyên ngành trong “tộc họ” như Dân tộc học, Quốc tế học, Lưu trữ học và quản trị văn phòng…đã có thể “ra ở riêng” thành những ngành khoa học có liên quan. Trong đó, phải kể đến sự chuyển biến từ Dân tộc học sang Nhân học mang ý nghĩa thật tiêu biểu về phương pháp, tri thức luận và tính hiện đại. Trường hợp Khoa Đông Phương học cũng là sự liên ngành giữa Lịch sử, Văn học, Ngôn ngữ và Văn hóa học.
Sự xuất hiện các Khoa Xã hội học, Báo chí, Tâm lý học, Khoa học quản lý và sắp tới đây là Khoa học Chính trị, Khoa học về chính sách cũng tạo thêm những không gian cần thiết cho nghiên cứu liên ngành và nói cho cùng cũng đề đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của xã hội.
Trường chúng ta cũng đã bỏ nhiều công sức để xây dựng nhiều Trung tâm nghiên cứu và đào tạo về Thông tin – thư viện; Hỗ trợ và tư vấn tâm lý; Châu Á Thái  Bình Dương; Nghiên cứu giới và phát triển; Nghiên cứu Trung Quốc; Nghiên cứu văn hóa quốc tế; Trung tâm nghiên cứu dân số và công tác xã hội, đặc biệt là Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo đương đại gần đây nhất…
Viện Việt Nam học và phát triển, dù danh nghĩa trực thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội, nhưng vì nằm trên đất của trường chúng ta, cũng đã trở thành một Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo liên ngành có dấu ấn khá đậm nét của KHXH-NV.
- Thứ hai, tư duy về phương pháp liên ngành cũng đã khiến chúng ta thúc đẩy chiều hướng tái cấu trúc từng ngành, chuyên ngành cụ thể. Đây là một phương diện quan trọng có ý nghĩa khá quyết định đến sự thành bại.
Rất mừng là trong nhiều khoa, nhiều ngành nghiên cứu của trường chúng ta đã đi theo phương hướng này và đã có những kết quả đáng khuyến khích.
Các khoa học lịch sử những năm gần đây đã chú trọng đến việc nghiên cứu Khu vực học[8], vận dụng những lý thuyết và phương pháp chuyên ngành hiện đại. Về mặt này, Khảo cổ học cũng có những chuyển biến khá rõ khi vận dụng những kiến thức, phương pháp của khoa học tự nhiên, điều mà ngành khoa học này từ lâu đã có ý thức[9].
Nhiều ngành khoa học vốn yên tĩnh và tính khu biệt cao như Văn học, Triết học… ngày nay cũng đã tích lũy cho mình nhiều kinh nghiệm cụ thể về nghiên cứu liên ngành[10].
Đối với những ngành mới ra đời, việc vận dụng lý thuyết và phương pháp nghiên cứu liên ngành có vẻ “tự nhiên” và thuận lợi hơn. Chẳng hạn, ngành Tâm lý học hôm nay đã khác nhiều so với Tâm lý học cổ điển (chủ yếu tâm lý học cá nhân, tâm lý học xã hội), chúng ta đã quan tâm đến tâm lý học thần kinh, lâm sàng (có những liên đới với Phân tâm học - Psychanalyse)…
Chúng tôi muốn dừng lại chút ít ở một ngành khoa học còn non trẻ ở Trường chúng ta là Khoa học chính trị. Khoan hãy bàn đến hoặc nói lại về tính cách của ngành Khoa học chính trị ở nước ta. Đây là một trong những ngành khoa học mũi nhọn ở nhiều trường đại học Âu – Mỹ. Đặc điểm “liên ngành” của ngành khoa học này còn thể hiện sâu sắc ngay ở các phương pháp tiếp cận cơ bản của nó. Khoa học chính trị luôn bị giằng xé giữa nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu có tính xã hội học và thực nghiệm, điều mà đã làm các nhà Chính trị học và Sử học xa cách nhau[11].
Tuy vậy, trên cơ sở nỗ lực tìm ra các điểm tương đồng giữa Sử học và Chính trị học người ta cũng rút ra được những kết luận để tạo nên “phương pháp liên ngành” giữa bản thân hai ngành khoa học gần gũi này. Phillip Tetlock và  Aron Belkin trong cuốn Lật ngược vấn đề qua thí nghiệm trong lĩnh vực chính trị quốc tế: Logic luận, Phương pháp luận và Tâm lý luận (1996) đã rút ra sự “liên ngành” giữa sử học và chính trị học nhờ vào: “Cả hai chuyên ngành này đều nằm trong số các ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng  không thể dùng phòng thí nghiệm. Cả hai ngành đều áp dụng phương pháp truy nguyên. Cả hai đều phải có sự tưởng tượng và lập luận theo kiểu lật ngược vấn đề. Nhưng còn dự báo, hoặc chí ít kiến nghị chính sách thì sao? Hầu hết các nhà sử học lảng tránh những ưu tiên này như ma cà rồng gặp cây thánh giá. Còn nhiều nhà khoa học chính trị lại nhiệt tình làm việc này. Nếu có điểm đồng ở lĩnh vực này thì cũng rất khó tìm ra”[12].
Thí dụ này gợi cho chúng ta những suy nghĩ thú vị khi xác định việc mở các chuyên ngành mới và xác lập cho nó những phương pháp nghiên cứu cơ bản ban đầu.
- Thứ ba, trong thực tiễn cũng đã có không ít những kết quả của phương pháp nghiên cứu liên ngành ở Trường chúng ta. Mới đây khi “nhìn lại” những kết quả nghiên cứu của Nhà trường trong dịp hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, chúng ta cũng đã ghi nhận những kết quả đáng khích lệ của Viện Việt Nam học và khoa học phát triển trong việc tổ chức nghiên cứu, phối kết hợp giữa nhiều chuyên ngành trong và ngoài nhà trường.
2.2.4. Mấy suy nghĩ phía trước
·GS A. Florin trong tham luận Cấu trúc nghiên cứu trong khoa học xã hội và nhân văn tại vùng Loire: Một vài ví dụ liên ngành và liên trường, đã gợi cho chúng ta một kinh nghiệm ở Pháp mà chúng ta nên hướng tới. Đó là, cấu trúc nghiên cứu liên ngành hiện nay không chỉ diễn ra với từng ngành, từng trường hoặc liên trường – viện, mà nó còn đòi hỏi phải có những dự án lớn liên kết nghiên cứu Quốc gia – Khu vực (Les Contrats de Projets Etat-Région, gọi tắt là CPER)[13].
Có lẽ trường chúng ta cũng có sứ mệnh như vậy khi có thể mở rộng sự liên kết, thông qua Nhà nước và Chính quyền địa phương, tạo nên những mô hình liên kết mới như thế, đáp ứng được quy mô, vị thế của những vấn đề nghiên cứu lớn.
·Chúng ta đã có những nỗ lực thay đổi cấu trúc ngành nghề, nói cách khác là tái cấu hình trường ĐHKHXH&NV hiện đại đa ngành, đa lĩnh vực, đào tạo chất lượng cao và nghiên cứu cơ bản. Một mặt, cần hướng tới sự hoàn thiện mô hình đó trên cơ sở tính toán cân nhắc mà những kinh nghiệm lý thuyết chúng tôi đã đề bên trên nói tới. Đối với một số ngành rất cần thiết nên thúc đẩy sự ra đời của chúng. Chẳng hạn, Nghiên cứu tôn giáo (Tôn giáo học) là một ngành như thế. Hiện nay việc đào tạo chuyên ngành và cao học Tôn giáo học thuộc khoa Triết học, trước mắt vẫn là hợp lý. Nhưng không thể không nghĩ đến một ngành độc lập cho nó.
·Cần rà soát các hướng nghiên cứu, chương trình đào tạo của tất cả các ngành hiện có theo hướng phối kết hợp nghiên cứu liên ngành giữa các ngành hoặc giữa hai ngành (song phương và đa phương) để có được sự tiến triển hơn nữa về nghiên cứu và đào tạo, cập nhật và hiệu quả.
  Cuối cùng với mỗi con người chúng ta chắc hẳn cũng không thể chỉ đào sâu “chuyên môn”của mình theo hướng sự sùng bái những điểm khác biệt nho nhỏ giữa mình với người khác, ngược lại muốn trở thành một chuyên gia giỏi thực sự trong bất cứ lĩnh vực nào thì cũng phải có được một tư duy phức hợp.
Hà Nội ngày 29 tháng 10 năm 2010




[1] Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Nghiên cứu liên ngành trong Khoa học xã hội và nhân văn: Kinh nghiệm và triển vọng, Trường ĐHKHXH&NV, Hà Nội 12/2009, tr.7.
[2] Xem bài Nghiên cứu và đào tạo liên ngành: Ưu thế và trọng trách của ĐH Quốc gia Hà Nội, tham luận của Chi bộ Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ ĐH Quốc gia lần thứ IV (9/2010), tr.3.
[3] Edgar Morin, Nhập môn tư duy phức hợp (Introduction à la pensée complexe), Nxb Tri thức, 2009, tr.15.
[4] Edgar Morin, Nhập môn tư duy phức hợp, sđd, tr.131-132.
[6] Điều này phải chăng là kết quả của thứ nhận thức “sự sùng bái những điểm khác biệt nho nhỏ giữa mình và người khác”như Sigmund Freud có nói trong cuốn Nền văn minh và Sự bất đồng của nó, New York, Norton, 1961.
[7] Xem bài của Trần Hinh, Lai tạo giữa văn học và điện ảnh trong sáng tác của M.Duras, trong Kỷ yếu Nghiên cứu liên ngành… sđd, tr.218-228.
[8] Xem bài của GS Vũ Dương Ninh, PGS.TS Nguyễn Văn Kim… trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế, Nghiên cứu liên ngành…sđd.
[9] Xem bài của PGS.TS Lâm Thị Mỹ Dung, Sử dụng phương pháp và lý thuyết của Khảo cổ học hiện đại trong nghiên cứu Khảo cổ học Việt Nam: Vấn đề và triển vọng, trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế, Nghiên cứu liên ngành…sđd.
[10] Chẳng hạn xem bài của PGS.TS Trần Ngọc Vương, Từ thực tế nghiên cứu lịch sử Văn học Việt Nam thời trung đại bàn về việc phối hợp nghiên cứu liên ngành, trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế, Nghiên cứu liên ngành…sđd. Tương tự như vậy, có thể tham khảo ý kiến của PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn, Nghiên cứu liên ngành trong Việt ngữ học; của PGS.TS Trần Nho Thìn về phương pháp nghiên cứu liên ngành trong Văn hóa…
[11] Chẳng hạn việc áp dụng phương pháp định tính và định lượng trong nghiên cứu Chính trị học hiện đại cũng bắt buộc như các phương pháp so sánh, tâm lý học đám đông, tâm lý học lãnh đạo… Xem Christopher Shea, Các nhà khoa học chính trị tranh cãi nhau về giá trị nghiên cứu khu vực, trong tạp chí Chronicle of Higher Education, số 43, (1/1997).
[12] Dẫn lại trong cuốn Phương pháp nghiên cứu khoa học, Học viện Ngoại giao, Nxb Thế giới, 2008, tr.25.
[13] GS A. Florin cho chúng ta biết dự án CPER có giá trị trong 7 năm tài chính (2007-2013), giữa đại diện của nhà nước, chính quyền khu vực Loire và lãnh đạo 3 trường đại học chủ yếu trong vùng với 10 chương trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực như nghiên cứu y học, nông nghiệp, vật liệu, năng lượng, khí lỏng, khoa học và kỹ thuật truyền thông đại chúng, hóa học… và tất nhiên có những nội dung của khoa học xã hội và nhân văn. Chương trình này cũng hướng tới cả việc đào tạo hàng loạt các nhà nghiên cứu – sư phạm; các tiến sĩ, các kĩ thuật viên… Xem tham luận của GS này trong Kỷ yếu Nghiên cứu liên ngành…sđd, tiếng Pháp, tr.40-44.
Nguồn:

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

Tư liệu bản đồ của Phương Tây xác định Hoàng Sa-Trường Sa thuộc về Việt Nam


TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam

56 tấm bản đồ cổ do người phương Tây vẽ trong quá trình phát kiến hàng hải, giao thương, truyền giáo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương vừa được TS Trần Đức Anh Sơn (Đà Nẵng) và nhóm nghiên cứu sưu tầm, phát hiện đã tiếp tục khẳng định quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh công tác sưu tầm, phát hiện và nghiên cứu các nguồn tư liệu liên quan đến quá trình khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo trong lịch sử Việt Nam, từ đầu năm 2010, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng đã triển khai nghiên cứu đề tài Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa - Thành phố Đà Nẵng. Đề tài do tiến sĩ lịch sử Trần Đức Anh Sơn (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng kiêm Tổng biên tập Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng) làm chủ nhiệm đề tài, với nguồn kinh phí do UBND TP Đà Nẵng cấp.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được nghiệm thu vào tháng 12/2011 và chuyển giao cho UBND huyện Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) quản lý. Đề tài đã thiết lập một “font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, bao gồm những tư liệu đã được công bố từ trước đến nay và những tư liệu vừa được nhóm nghiên cứu tìm kiếm, sưu tầm trong thời gian thực hiện đề tài, liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa trong lịch sử, tập trung thành 4 thư mục: tư liệu văn bản, tư liệu hình ảnh, tư liệu bản đồ và tư liệu nghe nhìn.
Ngày 24/7, TS. Trần Đức Anh Sơn đã gửi cho báo điện tử Infonet bài viết giới thiệu những tấm bản đồ mà nhóm nghiên cứu đã sưu tầm và tập hợp trong thư mục tư liệu bản đồ của Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa - TP Đà Nẵng:
HOÀNG SA TRÊN NHỮNG TẤM BẢN ĐỒ CỔ CỦA PHƯƠNG TÂY
Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, ngoài việc tập hợp, sưu tầm các bản đồ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa có trong các nguồn thư tịch cổ đã được các học giả trong và ngoài nước sưu tầm và công bố trong những năm gần đây, nhờ mối liên hệ với các đồng nghiệp ở nước ngoài và nhờ sự hỗ trợ tích cực của Internet, chúng tôi đã sưu tầm được nhiều bản đồ do người phương Tây vẽ và xuất bản trong các thế kỷ XVI - XIX, có liên quan đến chủ đề này, để đưa vào “font tư liệu Hoàng Sa”.
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613
Đây là những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải do người phương Tây vẽ trong quá trình phát kiến hàng hải, giao thương, truyền giáo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có ghi nhận về lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam trong lịch sử.
Trên những tấm bản đồ này, quần đảo Hoàng Sa luôn được thể hiện bằng hình vẽ ở trong vùng biển Đông của nước ta, với kinh tuyến và vĩ tuyến khá chính xác, và được ghi danh là: Paracel Islands, Paracel, Paracels, Pracel, Parcels, Paracelso... tùy theo ngôn ngữ của từng nước phương Tây. Còn vùng bờ biển Quảng Nam - Quảng Ngãi, song song với quần đảo Hoàng Sa thì được ghi nhận là Costa da Paracel (bờ biển Hoàng Sa).“Đó là cách mặc nhiên thế giới nhận Hoàng Sa đích thực thuộc chủ quyền của Việt Nam ít nhất từ 5 thế kỷ nay” (nhận xét của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu).
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645
Theo nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, một chuyên gia hàng đầu về bản đồ cổ Việt Nam, thì ông đã sưu tập được 30 bản đồ cổ của phương Tây, có niên đại từ năm 1489 đến năm 1697, có thể hiện hình vẽ và địa danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Theo đó, “từ tấm bản đồ thứ 4 từ năm 1507 đều có ghi vẽ đất nước ta với biển Đông và quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Tùy theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ. Sau thấy bên Ấn Độ có thành phố tên là Cochin, nên người ta gọi nước ta là Giao Chỉ gần Chi Na và ghi thành Cauchichina, Cauchinchina, Cachuchina, Conchinchina, Cochinchina, Cochinchine... Lần đầu tiên trên bản đồ Frères Van Langren 1595, chúng ta thấy Đại Việt chia ra 2 miền: Đàng Ngoài được Tây phương ghi là Tungkin (Đông Kinh, tên thành Thăng Long từ 1430) và Đàng Trong được ghi là Cochinchina (Giao Chỉ gần Chi Na, 1 địa danh cũ chỉ toàn quốc Đại Việt)(Nguyễn Đình Đầu, Giới thiệu một số bản đồ cổ thềm lục địa và hải đảo Việt Nam, http://www.viet-studies.info).
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do Homann Heirs vẽ năm 1744
Điều này cho thấy là từ thế kỷ XVI, người phương Tây đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam khi vẽ và ghi chú các địa danh các quần đảo này trên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ.
Với 56 tấm bản đồ cổ phương Tây mà chúng tôi sưu tầm được, sự thật hiển nhiên này càng được thể hiện rất rõ. Ngoài việc thể hiện tọa độ địa lý của quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine..., trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa còn được còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn:
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Taberd vẽ năm 1838
- Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613, thể hiện quần đảo Pracel (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng;
- Bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645 thì quần đảo Pracel (Hoàng Sa) được vẽ nối liền với các đảo: Pulo Secca de Mare (Cù Lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh), Pullo Canton (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong);
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do Visscher vẽ năm 1680
- Bản đồ do Homann Heirs vẽ năm 1744 thì hình vẽ quần đảo Hoàng Sa được ghi chú là “I. Ciampa”, viết tắt của chữ “Islands Ciampa”, nghĩa là “quần đảo (thuộc vương quốc) Ciampa”. Ciempa hay Campa là tên các nước phương Tây lúc bấy giờ gọi xứ Đàng Trong, do họ cho rằng đây là đất cũ của vương quốc Champa;
- Bản đồ do Van de Kusten vẽ năm 1754, có tên là Kaart van Cochinchine, van Tunquin (Bản đồ Đàng Trong, Đàng Ngoài), đã thể hiện toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những phần lãnh thổ thuộc vương quốc Cochinchine;
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do Mariette vẽ năm 1790
- Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ: Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ: “Paracel seu Cát Vàng”, nghĩa là“Paracel hoặc là Cát Vàng”. Cũng chính Giám mục Taberd trong bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 cũng đã khẳng định: “Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa - Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina”. (James Prinsep, F.R.S. [Ed.], The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol. VI, Calcuta, 1837, p. 745).
Theo nhiều sử liệu cổ của Việt Nam, từ trước thế kỷ XVI, người Việt đã đặt chân đến vùng đảo, đá ngầm, bãi ngầm ở giữa biển Đông, mà họ đặt tên là Bãi Cát Vàng (�� 葛 鐄) hay Cồn Vàng (�� 鐄). Còn trong các nguồn sử liệu của Việt Nam viết bằng chữ Hán thì địa danh Bãi Cát Vàng được ghi bởi nhiều chữ khác nhau như: Hoàng Sa Châu (黃 沙 洲), Hoàng Sa Chử (黃 沙 渚), Hoàng Sa (黃 沙). Đó chính là quần đảo Hoàng Sa ngày nay.
Những bản đồ cổ phương Tây do chúng tôi sưu tầm và tập hợp trong “font tư liệu Hoàng Sa” có niên đại trải dài hơn 3 thế kỷ, từ những bản đồ được vẽ rất sớm, như bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560, bản đồ do Gerard Mercator vẽ vào nửa sau thế kỷ XVI, bản đồ do Giovanni Botero vẽ vào đầu thế kỷ XVII..., cho đến những bản đồ được vẽ vào cuối thế kỷ XIX như: bản đồ Indochina vẽ năm 1886, bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891… đều có thể hiện bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết vị trí của quần đảo Hoàng Sa với nhiều tên gọi khác nhau, ở trong vùng biển của nước ta. Điều này chứng tỏ từ thế kỷ XVI, nhiều người phương Tây đã biết đến vùng biển đảo Hoàng Sa và đã ghi nhận quần đảo này là một phần lãnh thổ của Việt Nam (mà bấy giờ họ gọi là Cochinchine, Cochinchina, Annam…)
Như vậy, ngoài những sự kiện lịch sử đã được chứng thực, cùng với các nguồn tư liệu thành văn với nhiều ngôn ngữ khác nhau, thì những tấm bản đồ cổ của phương Tây nói trên đã góp phần chứng minh rằng từ hơn 5 thế kỷ trước, Việt Nam đã xác lập chủ quyền quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa). Chủ quyền này đã được các nhà bản đồ học, các nhà hàng hải, nhà phát kiến địa lý... phương Tây thừa nhận và ghi dấu lên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ.
Vì thế, những tấm bản đồ này là những tư liệu quý, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa), mà hiện nay đang có một số quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền.
56 bản đồ cổ phương Tây trong ”Font tư liệu Hoàng Sa”
Bản đồ do Gerard Mercator (1512 - 1594) vẽ; Bản đồ Giovanni Botero (1540 - 1617) vẽ; Bản đồ do Giovanni Antonio (1555 - 1617) vẽ; Bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560; Bản đồ do Petrus Bertius (1565 - 1629) vẽ; Bản đồ do Abraham Ortelius vẽ năm 1580; Bản đồ do Fernao Var Dourado vẽ năm 1590; Bản đồ do Gerard de Jode vẽ năm 1593; Bản đồ do Petrus or Pieter vẽ năm 1594; Bản đồ do Van der AA vẽ năm 1594; Bản đồ do Van Lanngren vẽ năm 1595; Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613; Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613; Bản đồ do Willem Janszoon Blaeu vẽ năm 1617; Bản đồ do John Speed vẽ năm 1626; Bản đồ do Orientalis Oceanus Mercator vẽ năm 1630; Bản đồ do Insulae Indiae vẽ năm 1632; Bản đồ do Janssouius vẽ năm 1632; Bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1633; Bản đồ do Van Lochem vẽ năm 1640; Bản đồ do Janssouius vẽ năm 1645; Bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645; Bản đồ do Vincenzo Maria Coronelli vẽ năm 1650; Bản đồ Oost Indien vẽ năm 1660; Bản đồ do F. De Wit vẽ năm 1662; Bản đồ do Guillaume Delisle (1675 - 1726) vẽ; Bản đồ do Visscher vẽ năm 1680; Bản đồ do Van Keulen (1680 - 1735) vẽ; Bản đồ do Emanuel Bowen (1693 - 1767); Bản đồ do Alexis Hubert Jaillot vẽ năm 1696; Bản đồ do VOC Octrooigebied vẽ năm 1700; Bản đồ do Jacques Nicolas Bellin (1703 - 1772) vẽ; Bản đồ do Jacques Nicolas Bellin (1703 - 1772) vẽ; Bản đồ do Ottens vẽ năm 1710; Bản đồ do Alexis Hubert Jaillot vẽ năm 1720; Bản đồ do Seutter vẽ năm 1720; Bản đồ do Homann Heirs vẽ năm 1744; Bản đồ do S. Van Esveldt vẽ năm 1745; Bản đồ do Jean Baptiste d'Anville vẽ năm 1752 ; Bản đồ do Van Keulen vẽ năm 1753; Bản đồ Cochinchine Tunquin do Van de Kusten vẽ năm 1754; Bản đồ l'islle de Buache vẽ năm 1779; Bản đồ do Clouet Mondahare vẽ năm 1785; Bản đồ do Mariette vẽ năm 1790; Bản đồ do Bowen & Gibson vẽ năm 1792; Bản đồ do Abbé vẽ năm 1806; Bản đồ do J. Carry vẽ năm 1811; Bản đồ do John Thomson vẽ năm 1814; Bản đồ do John Thomson vẽ năm 1817; An Nam đại quốc họa đồ do giám mục Taberd vẽ năm 1838; Bản đồ Greenleaf East India vẽ năm 1843; Bản đồ vẽ năm 1876; Bản đồ Indochina vẽ năm 1886; Bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891; Bản đồ do Bartholomen Velho vẽ (không rõ năm vẽ) và Bản đồ India Orient (không rõ tác giả và không rõ năm vẽ).
TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Từ Lesopold Cadière: Nghĩ về những đóng góp của các giáo sĩ thừa sai với nghiên cứu Việt Nam


ĐÀO HÙNG
Tạp chí XƯA & NAY

Số 362 Tháng 8 – 2010


TƯỞNG NIỆM 55 NĂM NGÀY QUA ĐỜI CỦA LINH MỤC CADIÈRE (1955-2010), MỘT TRONG NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐẶT NỀN MÓNG CHO NGHIÊN CỨU DÂN TỘC HỌC Ở VIỆT NAM, ỦY BAN VĂN HÓA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM VÀ TÒA TỔNG GIÁM MỤC GIÁO PHẬN HUẾ, SẼ TỔ CHỨC CUỘC HỘI THẢO VỀ “THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA LÉOPOLD CADIÈRE” TẠI TRUNG TÂM MỤC VỤ GIÁO PHẬN HUẾ. HỘI THẢO DIỄN RA TỪ NGÀY 7 ĐẾN NGÀY 9-9-2010, VỚI SỰ THAM GIA CỦA NHIỀU NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VÀ LỊCH SỬ TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI. NHẰM THÔNG TIN CHO BẠN ĐỌC VỀ CUỘC HỘI THẢO TRÊN, CHÚNG TÔI SẼ ĐĂNG MỘT SỐ BÀI THAM LUẬN TRÌNH BÀY TRONG HỘI THẢO NÀY.

     Léopold Cadière được đào tạo tại Chủng viện của Hội Truyền giáo hải ngoại Paris (MEP) và được thụ phong linh mục năm 1892. Ông xuất thân trong một gia đình trại chủ bình thường, không có truyền thống bác học, cũng không gần những trung tâm nghiên cứu khoa học của Pháp. Vốn tri thức của ông chắc cũng không ngoài những điều mà Hội truyền giáo hải ngoại cung cấp cho các giáo sĩ thừa sai để đi làm nhiệm vụ truyền giáo. Tuy không tiếp cận được chương trình đào tạo của các chủng viện, nhưng qua những gì đã được nhìn thấy, tôi có thể hình dung chương trình đào tạo phong phú và chặt chẽ của các chủng viện Pháp thời bấy giờ.
    Đến Việt Nam một tháng sau khi thụ phong linh mục, ông được đưa về Tiểu chủng viện An Ninh thuộc Quảng Bình, rồi tiếp tục làm cha xứ ở vùng quê này, xa các trung tâm tri thức của Việt Nam thời bấy giờ, nên chắc cũng không có dịp tiếp xúc nhiều với giới khoa học người Âu ở đất nước thuộc địa này. Nhưng với một giáo sĩ thừa sai thì điều quan trọng nhất là được tiếp xúc với những người dân mà mình có bổn phận chăn dắt.
    Vậy mà chính tại giáo xứ Cù Lạc, Cadière đã được gặp Louis Finot và thiếu tá Lunet de Lajon-quière trong chuyến đi công cán cho Học viện Viễn ĐÔng Bác cổ Pháp (EFEO) vừa mới thành lập. Louis Finot (1864-1935) là giám đốc đầu tiên của EFEO từ 1898 đến 1904, một nhà cổ tự học, chuyên gia về chữ Phạn, đã có nhiều công trình nghiên cứu văn bia Khmer, Lào và Chăm… Còn thiếu tá Lunet de Lajonquière là sĩ quan thuộc Trung đoàn 3 thuộc địa Bắc kỳ, cộng tác viên đầu tiên của EFEO từ 1899, nhà dân tộc học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tộc người thiểu số miền Bắc Việt Nam. Cuộc gặp gỡ giữa các học giả đã thành danh với một vị cha xứ trẻ tuổi vô danh ở cái xứ hẻo lánh này đã để lại những ấn tượng sâu đậm với các nhà nghiên cứu trên đường đi khảo sát văn hóa và lịch sử Việt Nam. Dù lúc đó Cadière chưa có công trình nghiên cứu gì đáng kể, nhưng chỉ qua tiếp xúc ban đầu, Louis Finot đã nhìn thấy ở ông một tài năng nghiên cứu đầy triển vọng. Họ đã kết bạn, và có lẽ đó sẽ là niềm khích lệ cho Cadière thêm tin tưởng trên bước đường nghiên cứu của mình. Sau này Louis Malleret, giám đốc EFEO từ 1950-1956, đã ghi lại rằng “Louis Finot thường nói, phát hiện đẹp nhất của mình trong chuyến công cán đầu tiên khảo sát Đông Dương chính là cha Cadière” (la plus belle découverte qu’il avait faite ló de son premier voyage d’exploration de l’Indochine était le R.P.Cadière).
     Ngay từ số đầu tiên của tập san Học viện Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), Cadière đã có bài viết nhan đề Tín ngưỡng và ngạn ngữ dân gian ở thung lũng Nguồn Son, ra mắt năm 1901. Như vậy chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm, sau khi đặt chân đến đất nước này, Cadière đã thông thạo tiếng Việt và đi vào nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam. Thông thạo tiếng bản địa là yêu cầu đầu tiên đối với các giáo sĩ thừa sai trong nhiệm vụ truyền giáo, đó cũng là chỗ khác nhau giữa những nhà nghiên cứu trong giáo hội với nhiều nhà nghiên cứu Pháp thời bấy giờ. Vì hầu như các nhà nghiên cứu Pháp thời đó, mặc dầu đã viết rất nhiều sách về Việt Nam nhưng vẫn chưa đọc được các tư liệu tiếng Việt mà phải dựa vào phần lớn là thư tịch Pháp hoặc Anh, tất nhiên trừ người rất thông thạo Hán Nôm chuyên về cổ tự học.
     Các công trình nghiên cứu đầu tiên của Cadière là về ngôn ngữ học, như ngữ âm học tiếng Việt, phương ngữ Mường, đồng thời nghiên cứu nhiều văn bản về lịch sử, như đã cộng tác với Paul Pel-liot để viết về Nghiên cứu bước đầu về nguồn tư liệu An Nam trong lịch sử An Nam đăng trên BEFEO năm 1094. Nhưng phải nói ông là người đặt nền móng cho nghiên cứu dân tộc học Việt Nam, đặc biệt các công trình của ông về tín ngưỡng dân gian ở địa phương nơi ông làm việc là những công trình có giá trị đổi mới, khác với nhiều trước tác của các nhà nghiên cứu trước đó thường nhìn các tín ngưỡng bản địa bằng con mắt kỳ thị. Cadière còn quan tâm đến việc sưu tầm cây cỏ, và đã có một vài nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ông đã cung cấp cho Bảo tàng lịch sử tự nhiên Pháp và nhiều cộng tác viên trên thế giới hàng nghìn mẫu cây cỏ tìm thấy ở Việt Nam, chủ yếu là tại Quảng Bình.
     Dù đã được công nhận là thành viên thông tấn của EFEO từ 1906, rồi đến tháng 10-1918 lại được công nhận là thành viên hưởng trợ cấp (pensionnaire), nhưng ông chỉ giữ danh nghĩa đó có 2 năm, vì ông từ chối không ra làm việc tại Hà Nội, mà vẫn tiếp tục giữ nhiệm sở tại Cửa Tùng. Tại đây ông đã xây dựng một nhà thờ, mở một trường học và lập nên một vườn bách thảo nổi tiếng vì những cây có dầu và cây dương xỉ hiếm.
     Nhưng có lẽ đóng góp lớn nhất của Cadière đối với nghiên cứu Việt Nam là việc thành lập Hội Đô thành hiếu cổ (Association des Amis du Vieux Hué – AAVH), mà ông là người khởi xướng. Sau này Cadière đã kể lại rằng: “Một hôm, tôi nói với vài người bạn rằng tôi rất đau lòng khi thấy những dấu vết của quá khứ bị hủy hoại và mất đi, và những người bạn đó, cùng chia sẻ mối quan tâm, đã cùng tôi thành lập Hội Đô thành Hiếu cổ. Đó là lý do đầu tiên đưa đến việc thành lập Hội”. Chính ông đã chủ động tiếp xúc với Léon-ard Aurousseau, thành viên của EFEO (sẽ trở thành giám đốc từ 1926-1929), lúc đó là thầy dạy vua Duy Tân, và bác sĩ quân y Albert Sallet, nhà nghiên cứu thực vật học, để đi đến quyết định thành lập một tổ chức nhằm mục đích: truyền bá văn hóa Việt Nam và bảo vệ các di tích văn hóa của đất nước này, chủ yếu là ở Huế. Ngày 16-11-1913, AAVH đã được thành lập tại Huế với 17 thành viên đầu tiên, đến từ các phương trời rất khác nhau: giáo sĩ thừa sai, quan chức thuộc địa, binh sĩ, nhà buôn, quan lại Nam triều. Tất cả đều làm việc tự nguyện không lương, cống hiến sức lực một cách vô tư ngoài những việc chuyên môn mà họ phải làm hàng ngày.
    Trong hơn 30 năm (từ 1913-1944), AAVH mặc dầu với số người ít ỏi, phương tiện làm việc chưa phải đầy đủ, nhưng đã gánh vác sứ mệnh “truyền đến cho các thế hệ mai sau tầm nhìn chân chính về Việt Nam xưa trước khi nó bị biến mất hẳn”. Tập san của Hội cùng với các tập san của EFEO và Hội Nghiên cứu Đông Dương đã trở thành nguồn tư liệu phong phú nhất để tìm hiểu Việt Nam xưa, mà Cadière đã có lý khi nói rằng: “Những ai muốn nghiên cứu các sự vật ở Huế và cả Việt Nam, đều phải tham khảo Tập san, nếu họ muốn làm một công việc đến nơi đến chốn” (báo cáo năm 1933).
      Sau cách mạng tháng Tám, linh mục Cadière vẫn tiếp tục ở lại Quảng Bình. Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông cùng 6 linh mục người nước ngoài khác bị chính quyền cách mạng quản thúc tại Vinh từ tháng 1-1947 đến tháng 6-1953. Trong thời gian đó, ông đã tranh thủ lúc bị giam giữ để ghi lại hồi ký của mình. Đó là hơn 1.500 trang viết bên lề của những cuốn sách in một cách thận trọng. Chính trong thời gian bị quản thúc đó mà ông đã được EFEO công nhận là thành viên danh dự năm 1948. Sau khi được trao trả về Huế năm 1953, linh mục Cadière từ chối không hồi hương, vì lúc đó ông đã 84 tuổi. Cadière qua đời tại Huế năm 1955.
      Cuộc đời của Léopold Cadière là cuộc đời của một linh mục cống hiến cho giáo dân, vì đó vẫn luôn luôn là mục đích chính của ông. Tìm hiểu và nghiên cứu về con người và văn hóa của những người dân mà mình có nhiệm vụ chăn dắt, cũng là một trách nhiệm trong công việc mục vụ, mà bất cứ một linh mục nào cũng phải làm. Nhưng với Cadière, ông đẩy cao lên đến mức nghiên cứu khoa học, mà vẫn không mâu thuẫn với công việc thường ngày của một cha xứ.
     Cùng thời với Cadière, thiết tưởng cũng nên nhắc đến linh mục Francois – Marie Savina (1876-1941), thụ phong linh mục tháng 6-1901, một tháng sau thì đến Bắc kỳ để được đưa lên Lào Cai tại vùng người Hmông, Từ 1906-1924, ông tiếp tục truyền giáo với người Hmông ở Vân Nam. Là một nhà nghiên cứu ngôn ngữ, ông là một trong những người Âu thời đó thông thạo tiếng Hmôngm và là tác giả của nhiều cuốn từ điển song ngữ như Từ điển Mèo – Pháp, Sách vỡ lòng Mèo – Pháp, Từ điển Tày – Việt – Pháp, Từ điển Pháp – Mán, Từ điển từ nguyên Pháp – Nùng – Hoa…
      Nhưng điều quan trọng là trong công việc mục vụ, ông đã trở thành người hiểu sâu về người Hmông, quan tâm đến những khát vọng của họ, và đã phát hiện ra những căng thẳng trong quan hệ giữa người Hmông với người Thái và người Giáy ở dưới thung lũng, để đi đến dự báo sắp có cuộc nổi dậy của người Hmông ở vùng này từ năm 1914. Những nhận định của ông về quan hệ bóc lột đối với người Hmông của các thổ ty Thái ở Lào Cai và Hưng Hóa là chính xác, nhưng lúc đầu chưa được nhà chức trách thuộc địa quan tâm. Bốn năm sau, cuộc khởi nghĩa của người Hmông bùng nổ, bắt đầu ở Lào Cai tháng 7-1918 và mãi đến tháng 3-1921 mới kết thúc ở Luang Prabang, mà tài liệu thuộc địa thời đó gọi là “cuộc chiến giữa các phù thủy”. Nhưng thực chất đó là một hiện tượng cứu thế (mesianique), do một thủ lĩnh Hmông là Pa Chay khởi xướng.
     Savina là người đã từng tiếp xúc với Pa Chay và là nhân chứng sáng suốt nhất của hiện tượng này ngay từ đầu. Chính vì vậy mà ông đã được Toàn quyền Đông Dương nhờ viết một báo cáo mật năm 1920 là “Báo cáo chính trị về cuộc nổi dậy của người Mèo ở Bắc kỳ”. Nhưng đáng tiếc là quan điểm của Savina đối với các hiện tượng tôn giáo và tín ngưỡng của người bản địa còn mang nhiều thành kiến của người Kitô giáo thời bấy giờ. Khi phân tích hiện tượng xưng vua của người Hmông – một hiện tượng cứu thế – thì ông lại đi đến chỗ gần như châm biếm, coi đó là những biểu hiện dị giáo. Ông không phân biệt được những nghi thức và biểu hiện của saman giáo với tín ngưỡng cứu thế, và đánh đổ đồng tất cả những thầy pháp Hmông là “phù thủy” mê tín dị đoan. Thái độ nghiên cứu của Savina vẫn là thái độ của người quan sát bên ngoài để đánh giá văn hóa của người bản địa, chưa hòa nhập được vào thế giới tâm linh của người Hmông, mặc dầu ông rất thông thạo tiếng nói và hiểu biết phong tục tập quán của người bản địa. Nên dù Savina đã để lại những công trình nghiên cứu dân tộc về người Hmông như Histoire des Miao (1924), nhưng đến nay ít được giới nghiên cứu nhắc đến.
       Là hai người cùng thời, có lẽ cũng được đào tạo gần như nhau, nhưng cách tiếp cận với đối tượng nghiên cứu của mỗi người một khác. Ta thấy ở Léopold Cadière một thái độ dấn thân hiếm có ở các nhà nghiên cứu đương thời, dù là nhà khoa học chuyên nghiệp hay là một giáo sĩ thừa sai làm nghề tay trái. Ngày nay, phương pháp nghiên cứu của Cadière không còn xa lạ với các nhà nhân học, mà sau Thế chiến thứ hai mới xuất hiện những đồ đệ của phương pháp “quan sát tham dự” (observation participative), nhưng với Cadière từ những năm giữa hai cuộc Thế chiến, mà đã có một thái độ nghiên cứu như vậy thì quả thật là hiếm có.
     Sau Thế chiến thứ hai, khi Việt Nam đang bước vào cuộc chiến tranh giải phóng, thì đã có những nhà dân tộc học tình nguyện đến sống với các tộc người Tây Nguyên, như Jean Boulbet đến với người Mạ năm 1946, Georges Condomi-nas đến với người Mnông Gar năm 1948, và đã để lại nhiều công trình nghiên cứu dân tộc học có giá trị. Trong khi Condominas sống với người Mnông suốt một chu kỳ sản xuất trong một năm, thì Boulbet lại đưa cả gia đình đến sống với các tộc người thiểu số trong nhiều năm trời, cùng chia sẻ những suy nghĩ và thế giới quan của đối tượng được nghiên cứu, mà trước hết là phải thông thạo ngôn ngữ của người dân địa phương.
     Trong những người thuộc thế hệ nghiên cứu sau chiến tranh này phải kể đến Jacques Dournes. Ông tham gia MEP sau khi được thụ phong linh mục năm 1945 lúc 24 tuổi, và được bổ nhiệm đến vùng người Srê ở Kala gần Di Linh. Ông đã ở lại Việt Nam 25 năm trên cao nguyên và trong thời gian đó đã hoàn thành 250 công trình. Ngoài những luận văn về thần học, ông còn để lại một kho tàng đồ sộ về dân tộc học Đông Nam châu Á với các tộc người chưa có chữ viết. Với ý thức dấn thân vào cuộc sống của cư dân bản địa, từ 1946 đến 1952, ông đã lần theo những con đường mòn của người địa phương, đi từ buôn nọ đến buôn kia bằng đôi chân như những người bản địa, suốt từ Phan Thiết đến Đà Lạt và Kontum. Sau này ông đã cho ra mắt cuốn Đi theo con đường của những người trên Cao Nguyên Việt Nam (Nxb Julliard, Paris, 1955, 251 trang), một cuốn sách trình bày về lịch sử, con người, những kiến thức về thực vật, các kỹ thuật và lối suy nghĩ của cư dân miền núi. Ông đã đi qua vùng trồng lúa nước của người Srê, vùng làm rẫy của người Raglai, Mạ và Nup. Những đêm thức nghe kể khan bên bếp lửa với tiếng cồng chiêng, cùng uống rượu cần, đã gợi lên cho Dournes những không gian tinh tế, những nghi thức và biểu tượng của phút giây cộng cảm. Ngoài những tìm hiểu về dân tộc học tôn giáo của người dân trong vùng, ông còn nắm bắt những khía cạnh kinh tế như con đường vận chuyển muối, những kho tàng Chăm ở vùng người Raglai, kỹ thuật canh tác, khoa học về chiêm tinh, so sánh về ngôn ngữ… Cho đến nay, ký ức của người dân Tây Nguyên về linh mục Dournes vẫn chưa phai mờ. Đó là vì cách nhìn của ông khác hẳn những nhà di thực hay các quan cai trị cũ ở vùng này: “Còn về cái mà ta thiếu để có thể thực sự đi vào bên trong, ta có thể bù lại bằng sự nhạy cảm thường trực và một mối thiện cảm vĩnh cửu. Ta chỉ có thể hiểu những người mà ta quí mến, bằng tình yêu thúc đẩy ta trở nên giống như họ, đi vào con người họ”.
     Đặc biệt về vấn đề tôn giáo, Jacques Dournes có một cái nhìn bao dung đối với tín ngưỡng của những người mà người Kitô giáo cho là “ngoại đạo” (les paiens). Một câu nói của ông đối với cư dân Tây Nguyên “Chúa yêu những người ngoại đạo” (Dieu aime les paiens), sau này trở thành nhan đề của một cuốn sách ông viết về thần học và dân tộc học.
      Trở về Pháp năm 1970, ông làm việc ở Trung tâm nghiên cứu khoa học Quốc gia CNRS, sau đó lui về miền tây – nam nước Pháp cho đến khi qua đời năm 1993. Ở Tây Nguyên, người dân đã làm cho ông một nhà mồ để tưởng nhớ đến người đã gắn bó cuộc đời với họ.
Đưa ra sự so sánh giữa hai nhà nghiên cứu cũng xuất thân là giáo sĩ thừa sai, nhưng sống cách nhau một nửa thế kỷ, tôi luôn nhấn mạnh đến những điểm tương đồng giữa hai người trong phương pháp nghiên cứu. Quả thật từ nửa sau của thế kỷ XX, về mặt phương pháp luận, ngành nhân học đã có những bước tiến dài, thoát khỏi quan điểm lấy châu Âu làm trung tâm (eurocentrisme). Khái niệm về “văn hóa” cũng được nhìn nhận lại, với những định nghĩa mới của Clifford Geertz, nhất là trong những phân tích về tôn giáo. Mặc dầu bước vào con đường nghiên cứu trong thời gian đầu của sự hình thành bộ môn dân tộc học, nhưng Cadière đã tránh khỏi những lầm lẫn của nhiều tác giả đương thời, chính là vì ông biết hòa nhập vào với đối tượng được khảo sát, bằng tình yêu chân thực đối với họ. Đấy là cái đáng trân trọng đối với di sản nghiên cứu về Việt Nam mà Cadière đã để lại cho chúng ta.
     Từ tập sách đầu tiên do Đỗ Trình Huệ dịch thuật (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, 1997), đến nay đã có thêm nhiều bản dịch khác. Nhưng vẫn còn nhiều di cảo của Cadière chưa được dịch thuật và chưa được công bố (kể cả bản tiếng Pháp). Mong rằng chúng ta sẽ tiếp tục khai thác tập hồi ký mà ông đã viết trong thời gian ở Vinh, cùng với những ghi chép trong “ký ức của một ông già Việt hóa” (Souvenirs d’un vieil annamisant) đã từng đăng tải trên các tập san nghiên cứu ở Hà Nội. Đó cũng là cách tưởng niệm thiết thực đối với Cadière, một người đã có nhiều đóng góp cho kho tàng nghiên cứu về Việt Nam.
—–
Xin giới thiệu bà con cuốn: Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857 -1914) của GS Cao Huy Thuần.
BONUS
Người chuyên dịch tác phẩm của nhà nghiên cứu Léopold.Cadière:
“Đọc công trình của ông, tôi thấy bóng dáng ông bà mình, cha mẹ mình, nguồn cội mình...”


NDĐT - Đầu tháng 9, dịch giả Đỗ Trinh Huệ  vừa ra mắt bạn đọc ba tập sách (1.000 trang theo nguyên tác) với tựa đề: Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt do NXB Thuận Hóa ấn hành. Đây là tập hợp những bài viết đặc sắc trong số 250 bài và công trình nghiên cứu của L. Cadière, chủ bút tập sách Đô Thành Hiếu Cổ (Những người bạn Cố Đô Huế). Ông Đỗ Trịnh Huệ cho biết:

      Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt có 19 chương, gồm các phần:     Nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng; Gia đình và Đạo giáo của người Việt; Lăng tẩm vua chúa kể cả mộ phần thứ dân; ngoài ra còn một số chương mục bàn về tập tục và ngạn ngữ dân gian, đặc biệt về vũ trụ luận và nhân sinh quan người Việt qua ngôn ngữ... Dịch giả Đỗ Trinh Huệ đã làm việc cật lực suốt một năm liền để hoàn thành tập sách. Có lúc ông dịch đến sáng. Thậm chí cả lúc đi xa, ông cũng mang theo chiếc máy tính để tranh thủ làm việc.

      Điều gì khiến ông gắn bó với các bài viết của L.Cadière?

      Tôi tiếp cận những bài viết, công trình (tạm gọi là bài viết-BV) của L. Cadière từ lâu và bị hấp dẫn bởi những thông tin thú vị về văn hóa, dân tộc học. Năm 1997, tôi dịch Tế Nam Giao và in sách song ngữ Pháp - Việt. Năm 2000, lúc còn giảng dạy ở Trường ĐH Sư phạm Huế, tôi thực hiện đề tài cấp Bộ Nghiên cứu cách tiếp cận của L. Cadière với văn hóa Việt Nam, sau đó tôi ra quyển Văn hóa tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam. Quyển này được đông đảo bạn đọc đón nhận, sau đó phải tái bản thêm 1.000 cuốn. Ba tập sách tiếp theo là bản dịch thứ 5 của tôi nhân hội thảo Thân thế và sự nghiệp của L. Cadière được tổ chức tại Huế vào ngày 7, 8, 9 tháng 9.

       Nhiều dịch giả cho rằng, giỏi tiếng Pháp chưa chắc đã dịch đuợc những BV của L. Cadière?

      Đúng như vậy. Tôi đã nỗ lực hết mình mong truyền đạt đúng, đủ ý nghĩa những bài viết của L. Cadière. Dịch BV của ông phải am tường văn hóa Việt Nam, biết một ít thuật ngữ Latinh, Hy Lạp vì nhiều ý niệm, trích dẫn, L. Cadière dùng nguyên bản bằng Latinh hay Hy Lạp mà không dịch ra tiếng Pháp. Biết thêm chữ Nho thì càng hữu ích. Chẳng hạn, trong bài viết về hệ thống Ngự Hà ở Kinh thành, nếu không tìm hiểu thực địa hoặc không tìm đọc những chú thích bằng chữ Nho thì sẽ vội vã dịch theo tiếng Pháp Porte des Eaux là Thủy Môn thay vì Thủy Quan. Một số bài, ông thể hiện tiếng Pháp theo cách nói và tâm tư người Việt.
        Đọc công trình của ông, tôi thấy bóng dáng ông bà mình, cha mẹ mình, nguồn cội mình với tất cả vẻ đẹp nguyên sơ. Trong lúc dịch, tôi chợt nhớ đến câu nói của Phạm Quỳnh đại ý: Văn hóa Tây phương có thể làm cho văn hóa Việt Nam giàu thêm mà thôi chứ không thể thay thế được. Nếu đánh mất văn hóa, nghĩa là đánh mất linh hồn mình.

        Ông thấy cách tiếp cận và thể hiện L. Cadière có điểm gì đặc biệt so với các nhà nghiên cứu khác?

       Ngày trước, dù còn nhiều khó khăn nhưng ông đi bộ, quan sát vẽ, ghi chép tỉ mỉ... từng địa danh, phong tục. Trong bài nghiên cứu về việc thờ cây thờ đá, ông đã minh hoạ với trên 50 hình ảnh thực địa, có ghi rõ địa danh và cách bài trí. Rất ít người được như L. Cadière, ông tiếp cận văn hóa Việt Nam với sự tôn trọng, thiện cảm. Ông từng viết: Tôi hiểu người Việt bởi vì tôi nghiên cứu kỹ về họ... Nghiên cứu và hiểu họ nên tôi yêu mến họ... Tôi yêu mến họ vì họ thông minh... Tôi yêu mến họ vì những đức hạnh tinh thần... Ngay những tập tục mà người Tây phương khó lòng chấp nhận, L. Cadière không chê bai mà tìm nguyên nhân, nhìn nhận vấn đề rồi kết luận: Cũng do từ tâm mà ra cả. Có ý thức về văn hóa đúng đắn mới hiểu và nhìn được như vậy. Cái hay của ông là tránh được sự đụng chạm trong khác biệt văn hóa. Nếu rơi vào kích điểm này, dễ nảy sinh nhiều tranh cãi vô cùng. Những BV của ông phần lớn là được trình bày trước một cử tọa Pháp thoại như biện minh, để người nước ngoài tránh cái nhìn lệch lạc về văn hóa Việt. Bao trùm trong các BV của ông là tinh thần: Nếu chưa hiểu thì đừng vội bài xích.

        Ông muốn gửi gắm gì đến người đọc?
        Tôi muốn lớp trẻ được đọc và hiểu về cội nguồn. Văn hóa thường biến động và ngày càng thăng hoa. Giới trẻ nên chọn cho mình một hướng đi như thế nào để không lệch khỏi quỹ đạo văn hóa dân tộc. Tập sách là công trình lớn của L. Cadière, tôi chỉ làm công việc nhỏ bé là giúp người đọc tiếp cận nó một cách thuận tiện hơn. Làm văn hóa nên hết mình, tôi không đặt nặng vấn đề thành công hiện thời, cũng như L. Cadière đã dè dặt chưa nghĩ những luận cứ của mình đã hoàn toàn xác thực, còn đợi người sau bổ khuyết.

        L. Cadière là một linh mục người Pháp được cử đến phục vụ tại Việt Nam. Ông là chủ bút của tập san Đô Thành Hiếu Cổ (Những người bạn Cố đô Huế) suốt 30 năm (1914-1944). Ông sống và gắn bó với Việt Nam trong suốt 63 năm; nói tiếng Việt sành rõi từ năm 26 tuổi. L. Cadière có khoảng 250 công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực: ngôn ngữ, xã hội học, dân tộc học, khảo cổ học, môi trường và kể cả du lịch... Nhiều bài viết còn có giá trị cho đến ngày nay. Ông được xem là một trong những người đặt nền móng cho việc nghiên cứu Việt Nam đầu thế kỷ 20.

LÔ DINH (thực hiện) 

http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=0&article=183200
Nguồn :

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

EURO CUP VÀ TÔI


Chẳng phải vì ham bóng đá quá mà tôi đã đặt title cho bài viết  trong ngày sinh nhật của mình là "EURO CUP và tôi".  Và tất nhiên là  có lý do, vì suy cho cùng chả có gì là không có lý do cả. ( hihi, viết đến đây, lại dừng lại để đọc lại về lthuyết "duyên khởi" của đạo Phật).
Vậy lý do của bài viết này  là  gì?
Lý do trước hết là vì hôm nay là sinh nhật của tôi và sinh nhật lần này lại đúng vào dịp diễn ra  các cuộc thi đấu tranh giải CUP bóng đá  châu Âu. Từ hàng tháng nay, trên các phương tiện truyền thông  đã có những bài viết về công việc chuẩn bị cho sự kiện này và khi " trái bóng bắt đầu lăn" thì không khí bóng đá  đã sôi động khắp nơi, không chỉ ở các nước châu Âu- quê hương của bóng đá, nơi diễn ra giải tranh cup vô địch châu Âu mà ngay cả ở VN dường như bóng đá đã làm "nguội" đi những sự kiện " nóng"  trong những ngày gần đây.
  Bóng đá không chỉ là bóng đá, qua bóng đá / từ bóng đá đã nổi lên các vấn đề về chủ nghĩa dân tộc, về văn hóa, về nhân quyền,  vấn đề kỳ thị chủng tộc... và cũng từ các câu chuyện quanh những vấn đề trên là quyền lực của báo chí hay cụ thể là vai trò của nhà báo.
Bóng đá là chính trị khi những nhà lãnh đạo đất nước biết đưa ra các khẩu hiệu để kích động tinh thần dân tộc   đó là chưa nói đến việc sử dụng bóng đá để " làm nguội" những vấn đề " nóng bỏng" một cách có chủ ý...
Bóng đá là tinh thần dân tộc khi các cổ động viên trong trang phục đại diện cho màu cờ sắc áo của đất nước mình cổ vũ cho đội nhà  và chính quyền thông minh là chính quyền biết dùng sự kiện này để quảng bá cho hình ảnh đất nước mình , dân tộc mình.  Nhìn chung thì tất cả các nước, các thành phố, nơi diễn ra các trận thi đấu đều ra sức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang bộ mặt đường phố, biến thời gian diễn ra các cuộc thi đấu trở thành những ngày hội... nhưng có lẽ ít chính quyền biết kêu gọi những người dân trở thành những chủ nhà mến khách, mỗi người dân hãy góp phần tạo nên hình ảnh của đất nước, dân trộc mình như... Ba Lan. Đọc các bài viết về sự chuẩn bị cho EURO CUP của Ba Lan, tôi không khỏi nghĩ tới  những lời  phàn nàn về Hà Nội, về các điểm du lịch, những nơi có di sản văn hóa thế giới ... đang  thu hút nhiều du khách của Việt Nam. Tôi nghĩ đến sự kiện I000 năm Thăng Long - Hà Nội, nghĩ đến các Festival Huế, Hạ Long, Lễ hội pháo Hoa, Lễ hội Hoa phượng đỏ... được quảng cáo rầm rộ, với những đầu tư tốn kém cho những trang hoàng bên ngoài... mà tuyệt nhiên không thấy có khẩu hiệu nào, không thấy có cuộc vận động nào đối với chủ nhân các lễ hội: Chúng ta hãy là những người chủ mến khách, có văn hóa... chúng ta đang đại diện cho hình ảnh của đất nước...
Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để cải thiện hình ảnh của người Hà Nội trong mắt người dân các tỉnh ghé thăm  và có lẽ đang làm hỏng hình ảnh về người Việt Nam tại khắp các điểm du lịch trong nước. Những hình ảnh xấu như bẻ hoa trong các dịp lễ hội, xả rác khắp nơi, nói tục, hoặc "chặt, chém" du khách tại các điểm du lịch... Lỗi thuộc về ý thức người dân, nhưng hình như cũng không hẳn tại họ???
Bóng đá là văn hóa." Văn hóa thì không cụ thể  là gì, nhưng là một cách để mô tả hành vi con người" (Fredrik Barth) (3).  Các cổ động viên thì  ở đâu  cũng giống nhau, cũng màu cờ sắc áo, băng rôn, khẩu hiệu, cờ Tổ quốc... với niềm mong mỏi  chiến thắng và giành cúp vô địch. Đương nhiên thôi. Và có lẽ niềm vui chiến thắng thì ở đâu cũng giống nhau, nhưng nỗi buồn khi thất bại thì khác. Và sự khác biệt đó chính là văn hóa. Tôi nhớ mình đã buồn biết bao trong các trận Việt Nam tranh giải ASEAN. Trước trận đấu, các cổ động viên cũng màu cờ, sắc áo, cũng băng rôn khẩu hiệu... hừng hực khí thế, nhưng khi Việt Nam thất bại, áo, cờ, băng rôn , khẩu hiệu bị vứt bỏ la liệt trong sân, trên đường trước sân Vận động Mỹ Đình, trong đó có cả những lá cờ đỏ sao vàng... Tôi nhớ đến sự vất vả của các anh chị trong công ty vệ sinh sau mỗi sự kiện  và thầm khâm phục Ba Lan trong việc tổ chức những đội tình nguyện làm vệ sinh sau trận đấu. Tại sao Hà Nội không làm được việc đó trong sự kiện" Kỷ niệm I000 năm Thăng Long Hà Nội "? Phải chăng chúng ta đã bỏ lỡ một cơ hội xây dựng ý thức cộng đồng, cơ hội kêu gọi những công dân Thủ đô chứng tỏ tình yêu của mình với Hà Nội bằng những việc làm cụ thể và thiết thực ???
Bóng đá và  vấn đề kỳ thị dân tộc. Dường như trong Giải EURO CUP lần này vấn đề kỳ thị dân tộc được quan tâm  nhiều hơn khi truyền thông quốc tế nêu vấn đề an toàn ( thậm chí đe dọa tính mạng) cho những khán giả đi xem bóng đá ở Ba Lan trước nạn phân biệt chủng tộc có vẻ như ngày càng tăng ở các nước châu Âu. Tôi vẫn biết, vấn đề xung đột sắc tộc không phải là vấn đề mới, nạn phân biệt chủng tộc càng không mới, nhưng cũng vì thế nó có vẻ như chỉ tồn tại  ở những nơi còn lạc hậu chứ ở châu Âu dân chủ và văn minh thì phải khác. Tôi hay được nghe những lời chê bai Việt Nam, không văn mình, lịch sự, nhiều trộm cắp... Hẳn rồi, chẳng có gì để bào chữa cả... Nhưng gần đây, những vụ như bạo loạn ở Anh, ở Ba Lan, lời khuyến cáo của cầu thủ nổi tiếng người Anh  dành cho những người tới Ba Lan và Ucraina để xem bóng đá đã làm tôi sốc . Việt Nam tiếng thế chứ cũng chưa có vụ bạo loạn nào như ở Anh, ở Ba Lan, còn trộm cắp thì khi tới châu Âu chúng tôi được dặn dò kỹ lưỡng và được chứng kiến những vụ lừa đảo, cướp giật túi xách kinh khủng và chuyên nghiệp hơn nhiều.
Nhưng cũng từ những chuyện này, tôi lại nghĩ đến vai trò của nhà báo. Cùng một sự kiện, vấn đề sẽ khác rất nhiều từ vị trí, góc nhìn và cái tâm của người viết. Ví dụ báo chí đưa tin về thành công của việc tổ chức trận khai mạc Giải EURO CUP vừa diễn ra tại Ba Lan  là không có xung đột, ẩu đả, nhất là xung đột và ẩu đả bởi vấn đề kỳ thị dân tộc, nhưng ở một kênh khác có người kể rằng chính anh ta ( người Việt)  bị kỳ thị, và nếu như không vì tự  lượng sức mình ( nhỏ con) không có lợi thế trong tương quan lực lượng mà nín nhịn cho qua thì cũng xảy ra ẩu đả rồi. Như vậy câu chuyện đó muốn làm cho to, sẽ thành to mà coi nó là nhỏ sẽ là nhỏ thậm chí coi như không có cũng được.
Tương tự vậy, chuyện một cô bé sinh viên ( người nước ngoài)  bị rạch túi trên xe bus ở Hà Nội đã trở  thành chuyện ầm ĩ với những lời kêu ca Việt Nam/ Hà Nội toàn bọn ăn cắp?:)... Và chuyện một cô bé  là sinh viên ( người Việt) vừa chân ướt chân ráo đến Bỉ đã bị mất toàn bộ giấy tờ, số tiền đóng học phí và tiền dành cho sinh hoạt.. nên phải trở về Việt Nam nhờ sự giúp đỡ của Sứ quán và cộng đồng lại chỉ là câu chuyện để nhắc nhở bạn hãy cẩn thận với nạn trộm cắp ở châu Âu. Hay như chuyện  một anh bạn đi cùng anh xã tôi bị giật túi xách vào đúng lúc bước lên tầu. May là anh đã từng học võ nên phản ứng được ngay, quay lại  giằng lại túi của mình sau khi ra đòn và kịp bước lên tàu trước khi tàu đóng cửa chuyển bánh... Câu chuyện trên sẽ  cũng chỉ là một vài chuyện  trong các chuyện được kể để nhắc nhở bạn hãy cẩn thận khi đi lại ở châu ÂU, những cũng có thể thành chuyện lớn nếu nhà báo muốn nó là lớn, nhất là khi được các commenter hùa vào.
Và hôm nay tôi lại nhớ về ngày sinh nhật đầu tiên và có lẽ duy nhất trong cuộc đời, tôi đã kỷ niệm sinh nhật ở châu Âu, nước Đức, nhớ không khí bóng đá của EURO CUP lần thứ I3, những cổ động viên đội tuyển Đức, nhớ tiếng xe ô tô cắm cờ Đức chạy trên đường phố Hamburg cổ động cho trận Đức - Ba Lan mà Đức đã thắng với tỷ số 2-0. Nhớ không khí thành phố Vienna chuẩn bị cho trận chung kết và sân vận động diễn ra trận Chung kết EUROCUP lần  thứ I3.

Một cô bé là cổ động viên cho đội Đức ở Hamburg, nơi tôi đã đến để dự Hội thảo EUROVIET lần thứ 6 từ ngày 6-8/6/2008

Tầu chở các cổ động viên sau khi trận đấu giữa Đức và Ba Lan kết thúc với tỷ số 2-0 nghiêng về đội Đức nên các cổ động viên Đức rất phấn khởi. Ở VN sau những trận thắng của đội nhà sẽ là đua xe, còn ở Đức thì họ đi trên tàu.




Nước Áo chuẩn bị cho EURO CUP lần thứ I3 với các lá cờ dọc đường  và hạn chế xe cộ vào thành phố Vienna. Chúng tôi đã phải để ô tô ngoài thành phố để đi tàu vào

Sân vận động diễn ra trận chung kết  EURO CUP lần thứ I3 tại Vienna


Sáng I0 tháng sáu, khi đang đi trên đường phố Berlin tôi chợt nhớ hôm nay chính là ngày sinh của mình, và đề nghị bạn tôi chụp cho tôi một kiểu ảnh kỷ niệm. Hai vợ chông bạn tôi đều là những nhà Việt Nam học và giảng viên ĐH Passau của Đức. 


Bạn tôi phải đến Passau còn chồng bạn, một GS Sử học đưa chúng tôi đi thăm Berlin. và vì vậy đây là một ngày sinh nhật đặc biệt của tôi. Một ngày dành cho Berlin.


Chúng tôi đã đi thăm Bảo tàng và bức tường Berlin và  được xem những thước phim về nỗ lực vượt qua bức tường để sang Tây Berlin của người  ở phía Đông Berlin

Chúng tôi thăm khu vực trung tâm Berlin


Ăn trưa tại nhà hàng Thổ Nhĩ Kỳ


Trước Tòa Nhà Quốc Hội Đức


Trước Đại học Humboldt nổi tiếng




Chú thích:

(3)Fredrik Barth (1969)  "From the Introduction to Ethnic Groups and Boundaries" (Boston: Little, Brown and Company) 
 nguồn: http://www.bylany.com/kvetina/kvetina_etnoarcheologie/literatura_eseje/2_literatura.pdf
 phần dịch ở đây: http://chuyencuachi.blogspot.com/2012/03/tu-gioi-thieu-en-cac-nhom-toc-guoi-va.html

MƯU ĐỒ CHÍNH TRỊ CỦA A-LẾCH-XĂNG ĐỜ RỐT (A.D. RHODES) VÀ VẤN ĐỀ CHỮ QUỐC NGỮ *

                                                                                      Hoàng Văn Lân, Đặng Huy Vận I. N hững nguyên nhân l...