Đặng Thị Vân Chi
Đặng Xuân Thiều sinh tháng 7 năm 1909 tại làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy (nay là xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), trong một gia đình nhà Nho yêu nước.
Sinh
ra và lớn lên trong một làng quê có truyền thống hiếu học hàng đầu Xứ Nam nên Đặng
Xuân Thiều từ nhỏ đã ham học và học giỏi. Ông nội Đặng Xuân Thiều là cụ Đặng Ngọc
Toản đỗ Á nguyên kỳ thi hương năm 1868, từng giữ chức Giáo thụ huyện Kiến Xương,
tỉnh Thái Bình; cha ông là Đặng Ngọc
Đỉnh, đỗ tú tài khoa thi hương năm 1900, một chiến sĩ của
phong trào Văn thân chống Pháp đã từng bị Pháp bắt ba lần, nên Đặng Xuân Thiều chịu nhiều ảnh hưởng từ
truyền thống yêu nước của quê hương, gia đình và đặc biệt từ người cha của mình.
Đang học tiểu học ở quê nhà Hành Thiện thì ông
ra Hải Phòng ở cùng anh trai cả là Đặng Thanh Khiết và học tiếp bậc tiểu học ở
đó. Năm 17 tuổi ông bỏ học và vào làm công nhân, hòa mình vào cuộc sống của
giai cấp công nhân Hải Phòng. Chính tại đây, ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều
nhà cách mạng như Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Đặng Châu Tuệ, Vũ Đình Huỳnh… và
được giác ngộ cách mạng. Năm 1928, ông gia nhập tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng
Châu, Trung Quốc năm 1925). Năm 1928, Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên phát động phong trào Vô sản hóa, ông hăng hái tham gia vận động công nhân của hãng đóng tàu Sô Va, nhà máy Quảng Sinh
Long, nhà máy Ca Rông, hãng buôn Sáp Phăng-Giông tại Hải Phòng cùng với người
đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Ông thành lập nhiều cơ sở đầu tiên của Đảng tại thành
phố Hải Phòng. Ông diễn thuyết trong các xí nghiệp, nhà máy, trường học, rạp
hát,… Ông cũng tham gia viết bài cho
báo Đồng lòng, Tranh đấu và các tờ báo của công đoàn và Đảng bộ Hải Phòng lưu hành
bí mật trong thời gian đó. Vào mùa hè năm 1928 trong đợt về quê nhà Hành Thiện, ông cùng
người anh họ là Đặng Xuân Khu và Đặng Xuân Quyền viết báo Dân cày, phát hành và phổ biến ở khu vực Xuân Trường, Giao Thủy,
Nam Trực… Nam Định. Hoạt động
tích cực trong phong trào công nhân, ông là một trong 3 đại biểu của Công hội đỏ
Hải Phòng được cử đi dự Hội nghị đại biểu
Tổng công hội đỏ Bắc Kỳ họp lần thứ nhất tổ chức vào ngày 28-7-1929 tại Hà
Nội. Năm 1930, sau
khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ông trở thành đảng viên Đảng cộng sản
Việt Nam trong Chi bộ cộng sản đầu tiên của Hải Phòng và tích cực tham gia vào
các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Hải Phòng. Ông đã trở thành Tỉnh ủy
viên đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Hải Phòng. Giữa năm 1930, các cơ sở cách mạng ở Hải Phòng bị đàn áp khốc
liệt, gần nửa số đảng viên và nhiều quần chúng cách mạng bị bắt. Nhà lao Hải
Phòng giam đến gần 100 tù chính trị. Trước tình hình ấy, tháng 9-1930 Tỉnh ủy Hải
Phòng quyết định thành lập Ủy ban tranh đấu
gồm có 5 ủy viên do ông là Tỉnh ủy viên phụ trách. Theo chủ trương của Tỉnh ủy,
Ủy ban Tranh đấu đã tổ chức rải truyền
đơn khắp thành phố trong ngày 5 và 7-9-1930 nhằm kêu gọi nhân dân biểu tình, bãi
khóa, chống khủng bố, bắt bớ... Ngày 7-9-1930 trở thành ngày biểu dương lực lượng,
là đỉnh cao của phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, học sinh và các
giới lao động khác ở Hải Phòng trong năm 1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam. Hòa nhịp với phong trào đấu tranh của nhân dân trong cả nước, đặc biệt
trong nửa cuối tháng 9 và
tháng 10 năm 1930, Uỷ ban tranh đấu
do Đặng Xuân Thiều phụ trách liên tiếp phát động phong trào ủng hộ Xô
Viết Nghệ Tĩnh.., chống khủng bố trắng, phá âm mưu điều hai chiến hạm
Phênich và La Pêru sang đàn áp phong trào cách mạng Trung Quốc... Phong trào
đang trên đà phát triển thì đêm 11-11-1930 chính quyền thực dân Pháp phục kích
bắt ông cùng với hầu hết các ủy viên trong Ủy ban tranh đấu, tại xóm Hàng Kênh, Hải Phòng. Sau khi bắt được
Đặng Xuân Thiều, thực dân Pháp đã tra tấn ông cực kỳ dã man, suốt 9 ngày đêm,
nhưng chúng không thể khuất phục được ông. Sau 27 trận tra tấn dã man, “Bó giò treo ngược đốt lòng/ Cạy răng
nhét cứt, dậm hông quất thừng” (Thử thách). Sự kiên cường của ông trong tù đã
khiến cho các đồng chí trong tù tôn vinh ông là “Anh hùng thành Ký Con” (tên thành phố Hải Phòng). Ông bị Hội Đề
hình trong phiên họp ở Kiến An ngày 30-1-1931 kết án phát lưu không kỳ hạn (tù
chung thân). Còn Nguyễn Đức Cảnh bị xử tử hình ngày trong phiên tòa ngày 23-11-1930.
Năm 1931 Đặng Xuân Thiều bị giam ở nhà Lao Trung ương Hà Nội, rồi bị đầy
ra Côn Đảo.
Năm 1936, Mặt trận Nhân dân Pháp thắng lợi, ông được ra tù và tiếp tục hoạt
động cách mạng trong phong trào đòi tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
Cuối năm 1939, ông lại bị
Pháp bắt và bị kết án tù chung thân lần thứ hai. Ông lần lượt bị giam tại
các nhà giam Hoả Lò (Hà Nội), Nhà tù Bắc Mê, Nhà tù Nghĩa Lộ, Bá Vân,
Nhà tù Phú Thọ, Nhà Lao Phấn Mễ, Thái Nguyên… Ở trong các nhà tù của
thực dân Pháp, Đặng Xuân Thiều tham gia các hoạt động chống chế độ hà
khắc của nhà tù, hưởng ứng chủ trương “biến nhà tù đế quốc thành trường học
cách mạng” của Đảng, ông tích cực học hỏi từ các bạn
tù, nâng cao trình độ tiếng Pháp cùng với các ông Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu,
cũng như học, đọc các tác phẩm lý luận, kinh điển của chủ nghĩa Mác, đồng thời tổ chức
huấn luyện, làm thơ ca theo chủ trương của chi uỷ nhà tù để động
viên tinh thần anh em đồng chí trong tù. Đến tháng 3 năm 1945, ông đã vượt ngục trở về Nam Định và
tham gia lãnh đạo phong trào khởi nghĩa Tháng Tám giành chính quyền ở huyện Hải
Hậu, và là Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm
thời đầu tiên của huyện Hải Hậu. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông hoạt
động ở Thành ủy Nam Định. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 1
(1946-1960) và khóa 2 (1960-1964).
Trong kháng chiến chống Pháp, ông kinh qua nhiều cương vị
công tác khác nhau như: Khu ủy viên Liên khu 3 và khu 10, năm 1952, ông được
giao trách nhiệm thành lập trường Dự bị Đại học liên khu 3-4 tại Thanh Hóa và
ông thành viên trong Ban giám đốc trường.
Năm 1955, sau hòa bình lập
lại, ông tham gia giảng dạy Triết học và Chính trị học tại trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội và trường Đại học Sư phạm. Năm 1959, ông chuyển về công tác ở Bộ văn
hóa, làm Bí thư Đảng đoàn, Vụ trưởng vụ Bảo tồn, Bảo tàng, kiêm Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Quốc gia Việt Nam). Trong thời
gian làm ở Bảo tàng Cách mạng ông đã
cùng đồng nghiệp tích cực sưu tầm tư liệu, hiện vật, tổ chức giám định
công phu các hiện vật, góp phần xây dựng Bảo
tàng Cách mạng thành một cơ quan giáo dục, một cơ quan nghiên cứu
và đào tạo cán bộ chuyên ngành. Ông qua đời ngày 25 tháng 1 năm 1965, sau
hai năm bị bệnh hiểm nghèo, thọ 57 tuổi.
Ông
không chỉ là một người yêu nước, một chiến sĩ các mạng kiên cường, một lòng một
dạ phụng sự Tổ quốc, mà còn là một nhà thơ cách mạng. Khi làm thơ ông lấy bút
danh Hồng Thiện. Năm 1978, tập Thơ Đặng
Xuân Thiều
được Nhà xuất bản Văn học xuất bản
gồm 68 bài, trong đó có 65 bài ông viết trước Cách mạng
tháng Tám 1945. Ông có nhiều bài thơ viết trong thời gian ở Hải Phòng
(15 bài) và nhiều bài làm khi ở trong tù (17 bài), và 33 bài viết trong khoảng
thời gian hoạt động ở Nam Định trước và sau khi ra tù. Thơ ông nổi
bật lên, trước hết là tình yêu đất nước, quê hương và tình yêu con người, đặc biệt là tình yêu đối với những con người cùng khổ.
Tổ
quốc trong ông thật bao la hùng vĩ, Tổ quốc đã trao cho ông danh dự làm
người, trao cho ông sứ mệnh cao cả là bảo vệ nền độc lập và sự vẹn toàn của Tổ
quốc, bởi vậy, ông nguyện hiến dâng đời mình để phụng sự Tổ quốc:
“Ôi Tổ quốc của
tôi,
Sống thề gửi trọn
lời
Chết gửi
xương đất nước
Ngủ trong lòng
Tổ quốc
Việt
Nam dưới mặt trời
Việt Nam yêu dấu
ơi” (Tổ Quốc)
Tình
yêu ông dành cho quê hương, cho gia đình cũng là một tình yêu da diết, biết ơn,
nhưng cũng đầy trách nhiệm.
“Quê
hương mang nặng vết đau thương
Lòng mẹ như băng
bó dịu dàng.
Máu chảy về da
lành lặn lại
Mưa rồi đến lúc
trời sẽ quang...
…Có những đứa
con về với mẹ
Chuyện trò trước
bếp bánh chưng sôi
Khói hương ngào ngạt quê nhương mãi
Mái tóc tơ vàng
mẹ rủ vai.” (Mẹ)
Đối
với con người, trong thơ ông, những con ngươi cùng khổ, những “Người thợ”, những
“cô đồng chí tí hon”, “em bé mù”, những người bạn tù… của ông ở mảnh đất Hải
Phòng, nơi ông sống và hoạt động những năm tuổi trẻ, hiện lên lung linh, cao đẹp…
“Tiếng em cao
vút ngang đèo
Trong như hạt móc nhẹ gieo tơ vàng …
Hồn em vằng vặc trăng sao
Không hoen bụi lấm nhụy đào đang xuân…” (Em
bé mù)
Điểm nổi bật thứ hai trong thơ của ông
đó là thơ chiến đấu. Ông đã dùng ngòi bút, dùng hồn thơ của mình phục vụ cách mạng,
giác ngộ và vận động nhân dân. Hàng loạt các bài thơ như: Trả lời cha, Người thợ, Sốt ruột, Thất nghiệp,
Xóm Lạc Viên, Thăm xóm chài ở Đồ Sơn, Bãi công ở Hải Phòng, Vô sản diễn ca...
đã nêu
cao lý tưởng cách mạng, phản ánh khí thế vô
sản hoá của các chiến sĩ Hải Phòng, khí thế sôi sục của cao trào cách mạng
của công nhân, nhân dân thành phố trong những năm 1930-1931. Đặc biệt
bài Vô sản diễn ca của ông đã được
lưu truyền trong các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam. Bài thơ của
ông lan rộng đến nỗi người ta không còn nhớ tác giả của nó mà trở thành bài thơ
khuyết danh trong suốt thời gian dài, trước khi được in trong tập thơ Đặng Xuân
Thiều. Thơ của ông truyền cảm hứng về một cuộc đời phấn đấu
vì lý tưởng các mạng
“Ta ôm
chặt cây cờ vô sản
Dưới
cánh tay ngàn vạn cánh tay
Tương
lai đợi một sớm ngày
Súng gươm lại
nổi, khói mây lại trào” (Vô sản diễn ca)
“Búa rìu máu lửa mấy phen
Nghiến răng giữ lấy tuổi tên Đảng
mình
Điểm
coi đồng chí hy sinh
Đảng trong đại họa, một mình, mình
đau
Lời thề
trước Đảng lúc đầu
Tự ta ta hiểu lẽ nào đơn sai” (Thử thách)
Thơ
ông cũng toát lên tinh thần lạc quan các mạng, dù ở
trong tù, đằng sau song sắt, nhưng ông vẫn tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng:
“Tôi
đón xuân về sau chấn song
Cành
đào hy vọng hé bên lòng
Lắng nghe thời đại Giao thừa điểm
Tiếng
pháo đì đoành chúc núi sông” (Hy vọng ngày xuân).
Những
cống hiến và đóng góp của Đặng Xuân Thiều cho nhân dân và đất nước, tấm lòng
kiên trung, tinh thần bất khuất của ông trong những năm tháng đấu tranh vì độc
lập dân tộc đã được Đảng và Nhà nước trân trọng ghi nhận. Ngày 30 tháng 8 năm 1961, ông được Chủ
tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng Huân chương
Kháng chiến hạng Nhất. Ngày
24 tháng 1 năm 1965, trước khi qua đời 1 ngày, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký tặng Huân chương Độc Lập hạng Ba “vì đã có nhiều cống hiến cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước”. Ngày 7 tháng 4 năm 2010, ông
được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết truy tặng
Huân chương Hồ Chí Minh vì “đã có
công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc, góp phần vào sự nghiệp cách mạng
của Đảng và của dân tộc”.
|
|
Thành
phố Nam Định và các thành phố Đà Nẵng, Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình), Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang), Côn Đảo (tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu) đều có đường phố mang tên Đặng Xuân Thiều để ghi nhớ công lao
to lớn của một chiến sĩ cộng sản kiên trung, một nhà văn hóa lớn, một nhà thơ
cách mạng tiêu biểu của quê hương Nam Định và của đất nước Việt Nam.
Bản thảo được chỉnh sửa lần cuối ngày 6 tháng 2 năm 2025
* Đã đăng trong
1. Nhà báo Quốc Phong ( CB) (2024), Hành Thiện- Ngôi làng hình cá chép, huyền thoại và lịch sử, tập 2, NXB Thanh Niên
2. Địa chí Nam Định ( 2025), Nhân vật chí tập 5 , NXB Hồng Đức
Tài liệu tham khảo:
- Đặng
Xuân Thiều (1009-1965) https://haiphong.gov.vn/danh-nhan/dang-xuan-thieu-1909-1965-622075
- Đặng
Hữu Thụ (1999), Làng Hành Thiện thời Tây
học cho đến năm 1954, quyển hạ, Melun, Cộng hòa Pháp.
- Kỷ niệm
100 năm năm sinh nhà thơ cách mạng Đặng Xuân Thiều https://nhandan.vn/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-nha-tho-cach-mang-dang-xuan-thieu-post524020.html
- Lịch sử đảng bộ tỉnh Nam Định ( 1930-1975),
( 2001), NXB Chính trị quốc gia
- Thơ Đặng
Xuân Thiều, (2007), NXB Văn học
- Tư liệu
gia đình ông Đặng Xuân Thiều cung cấp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét