Đặng Thị Vân Chi *
Đặng Xuân Bảng sinh năm 1828 (mất năm 1910)), tự
là Hy Long, hiệu là Thiện Đình. Ông là người làng Hành Thiện, thuộc Tổng Hành
Thiện, huyện Giao Thủy, Phủ Xuân Trường, nay là xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường,
tỉnh Nam Định.
|
|
|
Năm
1846, tại khoa thi Bính Ngọ ông đỗ tú tài khi mới 18 tuổi. Đến năm Mậu Thân
(1848), ông đỗ Tú tài lần thứ 2 khi chưa đầy 20 tuổi. Năm 22 tuổi, tại khoa thi
Canh Tuất (1850) ông đỗ Cử nhân. Sau khi đỗ Cử nhân, ông được bổ làm Giáo thụ
Phủ Ninh Giang (Hải Dương). Vừa làm việc vừa học, đến năm 1856, tại khoa thi Bính
Thìn ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuẩt thân (Tiến sĩ) khi mới 28 tuổi. Tại
cuộc thi Hội này, khi nhà vua được biết ông là người chỉ học duy nhất một người
thầy là cha mình, cụ Đặng Viết Hòe (người đã đậu cử nhân lần thứ 3 cũng trong khoa thi năm đó)
mà đỗ Tiến sĩ, nhà vua đã tặng cho hai cha con ông 4 chữ “Giáo tử đăng khoa”.
Ngay sau khi thi đỗ Tiến sĩ, năm 1857, ông được giao làm Bí thư văn phòng nội
các, có nhiệm vụ hiệu đính bộ Khâm Định
nhân sự kim giám. Trong thời gian này ông còn được bổ nhiệm làm quyền Tri phủ
huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1860, ông giữ chức Tri phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên
Quang. Năm 1861, ông về Huế giữ chức Giám sát Ngự sử.
Năm 1863 ông được thăng chức Chưởng ấn ở Lại
khoa. Năm sau, năm 1864 ông nhận chức Án sát sứ Quảng Yên. Năm 1867, ông nhận
chức Bố chánh tỉnh Thanh Hóa. Năm 1868 ông được bổ nhiệm Bố chánh Tuyên Quang.
Năm 1870 ông lại được cử làm Bố chánh Thanh Hóa lần thứ hai. Không lâu sau, tháng
6 năm 1871, ông được điều về làm bố chánh sứ Hà Nội, rồi Bố chánh Sơn Tây trong
một thời gian ngắn. Đến tháng 10 năm 1871 ông được thăng chức Tuần phủ Hưng
Yên, và vào năm 1872 ông được giao làm Tuần phủ Hải Dương.
Tháng 3 năm 1874, khi Pháp đánh thành Hải Dương trong cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873-1874), dù
ông đã hết sức đốc thúc quân đội chiến đấu, nhưng quân đội của ông không thể
chống lại vũ khí và hỏa lực của Pháp, ông phải bỏ thành để bảo toàn lực lượng.
Hải Dương và một số tỉnh thành ở Bắc Kỳ bị thất thủ, vua Tự Đức không thể trách
ông về việc không cố sức giữ thành, nhưng ông có một phần trách nhiệm về việc
để Hải Dương bị Pháp chiếm, nên tháng 6 năm 1874, ông
phải trở về Huế để “hậu cứu”. Năm 1876 ông được cử đi Hưng Hóa khai hoang như
một hình thức bị phạt vì để mất tỉnh thành Hải Dương ở khu vực Đồn Vàng. Ở Đồn
Vàng được hơn 2 năm, năm 1879, ông xin về hưu để chăm sóc mẹ già yếu.
Đến năm 1885, dưới triều vua Hàm Nghi, quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết đề nghị
triệu ông vào Huế làm quan, ông lấy cớ già yếu, hay bệnh tật để từ chối. Đến năm 1886, dưới triều
vua Đồng Khánh, ông được triều đình gọi lại làm việc. Lúc này quốc gia Đại Nam
đã hoàn toàn rơi vào tay Pháp, ông không muốn hồi quan, nhưng vì nể Cao Xuân
Dục là bạn thân đang làm Tổng Đốc Nam Định đề nghị, ông đành nhận chức Đốc học
Nam Định. Nhưng chỉ 2 năm sau, đến năm 1888, khi vừa tròn 60 tuổi ông xin về
nghỉ hưu tại quê nhà.
- Trong suốt gần 40 năm, từ khi ra làm quan năm
24 tuổi cho đến khi nghỉ hưu ở tuổi 60 (trong thời gian đó có 8 năm ông xin nghỉ
hưu lần 1), dù ở cương vị nào, ông cũng thể hiện là một vị quan thanh liêm,
thẳng thắn hết lòng vì nước, vì dân, đặt lợi ích của dân của nước lên trên hết.
Ông luôn cố gắng làm sao cho người dân không bị phiền hà, sách nhiễu khi có
việc ở cửa quan. Ông cũng chủ động phát thóc cho dân để cứu đói khi đê ở Hưng
Yên bị vỡ lúc ông làm Tuần phủ Hưng Yên. Trong thời gian làm bố chánh các tỉnh
Thanh Hóa, Tuyên Quang… ông nhiều lần đề nghị miễn thuế cho dân cũng như báo
cáo về việc xét xử các quan lại tham ô, nhũng nhiễu dân chúng. Khi làm quan Giám sát Ngự
sử ở Huế năm 1863, ông đã có
lời can gián vua không nên phái Phan Thanh Giản đem nhiều vàng bạc sang Pháp để
chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, dù lời can gián của ông không được chấp
nhận, nhưng cũng phản ánh khí phách và tinh thần trách nhiệm của một người làm
quan trong triều đình trước vận mệnh đất nước. Cũng trong thời gian làm Giám sát Ngự
sử ông đã ba lần dâng sớ đề nghị những việc có ý
nghĩa đối với việc phú quốc, dân cường như:
về tài chính thì không nên dùng hàng xa xỉ mua ở nước ngoài mà khuyến khích sản xuất và dùng hàng trong
nước, vừa tiết kiệm vừa kích thích sản xuất hàng hóa trong nước… Về dân chính thì cần tăng cường quản lý
dân đinh, tránh được nạn tham nhũng của quan lại trong việc lạm thu cũng như
biển thủ công quỹ trong việc thu thuế và sách nhiễu dân chúng…; Với việc quân sự, ông đề nghị tăng cường
luyện tập cho binh lính, tránh tình trạng quan chức khai khống số binh lính để
tham nhũng lương bổng chi cho quân lính. Ông cũng sớm đề nghị xây dựng lực
lượng gồm quân chính quy và dân quân ở địa phương, chú ý tăng cường về hậu cần
và trang bị vũ khí, sao cho đất nước có một đội quân mạnh, đủ sức bảo vệ độc
lập dân tộc. Là một quan văn, nhưng khi được giao giữ chức Án sát sứ Quảng Yên
(1864) và Bố chánh Tuyên Quang (1868) ông đã tìm hiểu đọc binh pháp để làm tròn
trọng trách cầm quân tiễu trừ giặc cướp, mang lại bình yên cho dân… Tháng 11
năm 1870, ông được vua Tự Đức phong làm Quang Lộc tự khanh tuyên dương công trạng chống cướp
phỉ ở Tuyên Quang. Khi làm tuần phủ Hải Dương, năm 1872 trước việc Jean Dupuis
đòi mở cửa sông Hồng để buôn bán, ông đã đề nghị vua Tự Đức mở cửa thông
thương, lập hội buôn ở khu vực cửa Cấm, kêu gọi các nước đến buôn bán với chủ
đích “tự mình phát thư thì mình làm chủ”, nhưng tiếc là đã không được vua Tự
Đức chấp nhận. Về việc để mất thành Hải Dương vào tay Pháp tháng 3 năm 1874,
ông bộc bạch: “Kẻ hạ thần xin thề trước Hoàng thượng rằng: Hạ thần và con cháu
không bao giờ chịu đầu hàng giặc Tây. Muốn đánh Tây và chống ngoại xâm, thì xin
củng cố quân ngũ, luyện tập thường xuyên, chuẩn bị quân lương vũ khí cho tót,
dựa vào thế dân. Có thế thì mới mong đánh thắng giặc được”. Tại những
địa phương ông nhậm chức, bên cạnh việc quan, ông dành nhiều thời gian quan
sát, để ý tìm hiểu phong tục, tập quán, cuộc sống của người dân, đọc sách và
nghiên cứu. Đến đời Thành Thái, năm 1888, ông xin được nghỉ hưu tại quê nhà.
- Ông
là người ham học hỏi, đọc nhiều, học rộng, ham thích nghiên cứu nên mặc dù về
quê nhà nghỉ hưu, không còn làm việc quan nữa, nhưng ông vẫn cống hiến cho quê
hương đất nước bằng việc đào tạo nhân tài, nâng cao dân trí qua việc mở lớp dạy
học. Trường học của ông
thu hút nhiều học trò từ các tỉnh xa đến theo học. Theo thống kê, có tới
trên một nghìn học sinh đến học ông, có nhiều học trò đỗ
tú tài và cử nhân, có người đỗ thủ khoa. Ngoài
dậy học ông còn sưu tầm, mua rất nhiều sách và lập một
tủ sách lớn, tủ sách Hy Long, gồm nhiều sách vở quý, kể cả các sách khoa học
của phương Tây. Ông cho rằng: “Người Pháp sang xâm chiếm nước ta, là kẻ thù của
ta, nhưng ta nên tìm sách của họ mà đọc để học lấy điều hay của họ. Không nhưng
thế, cũng cần tìm đọc những sách của các nước Thái Tây khác”. Vì vậy tủ sách Hy
Long của ông được đánh giá là tủ sách lớn nhất Bắc kỳ. Cùng với ngôi nhà 5 gian
dùng cho việc lưu giữ sách, ông còn tổ chức nhiều buổi thuyết trình không chỉ
về các vấn đề của cuộc sống làng xã như vấn đề hôn thú, tế tự, yến lão, khao
vọng, đương tuần, hương ước… mà còn bàn cả những vấn đề về thương mại, công
nghệ… học hỏi từ kinh nghiệm và kiến thức của các nước phương Tây. Nội dung các
buổi thuyết trình đều hướng tới sự đổi mới, tiết kiệm, khoa học, vì vậy thu hút
được nhiều trí thức nho học và môn sinh tới dự. Bên cạnh việc sưu tầm sách vở,
ông còn cho nhân bản, tự biên soạn sách và cho khắc gỗ xuất bản.... Vì vậy, tủ
sách Hy Long và ngôi nhà của ông có thể coi là một thư viện, một trung tâm hội
tụ và lan tỏa tri thức lớn trong vùng.
Ngoài việc dậy học, xây dựng tủ sách,
trong thời gian nghỉ hưu, do có kiến thức về địa lý và thủy văn, ông đứng ra
tập hợp người thân và dân làng đi khai hoang vùng bãi bồi vùng Tiền Hải (Thái
Bình) và Giao Thủy (Nam Định) Hàng trăm mẫu đất được thuần hóa và trở thành
những làng ấp mới cho dân đến sinh sống. Sau mấy chục năm làm quan thanh liêm,
khi về già, ông xin được tự khẩn hoang đất bãi bồi ven sông Hồng khu vực thuộc
xã Văn Lâm, huyện Vũ Tiên, nay là thôn Tả Hành, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình để lấy đất đai cho con cháu sinh sống.
Cả một đời học hỏi, nghiên cứu không
ngừng nghỉ, di sản các trước tác của ông để lại khá đồ sộ gồm nhiều lĩnh vực:
Sử học, Triết học, Văn học, Ngôn ngữ học, Địa lý học, Khu vực học, Giáo dục
học, Thực vật học, Y học… Có thể kể:
Về sử học có Sử học bị khảo, Việt sử cương mục tiết yếu, Việt sử chính biên tiết
yếu, Độc sử bị khảo, Bắc sử thông giám tập lãm tiện độc sử, Nam sử tiện lãm, Thánh
tổ hành thực diễn ca (1898).
Về văn học có các tác phẩm Thiện Đình khiêm trai văn tập, Khâm định tập
vận trích yếu, Như Tuyên thi tập (1868), Tiên nghiêm Hội Đình thi văn, Đối
trướng tạp sao… Ngoài những tác phẩm văn học kể trên hiện còn được lưu giữ
trong thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gia đình còn sưu tầm thêm được 57
bài thơ , phú Hán Nôm khác đăng trong Tuyển
tập thơ Đặng Xuấn Bảng (1828-1910).
Về giáo dục học có Cổ nhân ngôn hạnh
lục, Cư gia khuyến giới tắc, Huấn tục quốc âm ca, Cổ huấn nữ ca, Cổ kim thiện
ác kinh.
Về Khu vực học có Tuyên Quang tỉnh Phú,
Nam phương danh vật bị khảo, Nam quốc địa dư
Ngoài 20 tác phẩm còn được lưu giữ, trong
kho tàng sách Hán Nôm còn ghi nhận tác phẩm Nhị
Độ Mai truyện là tác phẩm Đặng Xuân Bảng dịch và cuốn Khâm Định Nhân sự kim giám (hay còn có tên là Nhân sự kim giám) là công trình tập thể có sự đóng góp của Đặng
Xuân Bẳng trong phần biên soạn và hiệu đính.
Nổi bật nhất trong các tác phẩm của ông
để lại là những tác phẩm thuộc lĩnh vực sử học và giáo dục học, hai lĩnh vực
được các nhà nghiên cứu nhất trí cho rằng có nhiều đóng góp mới và có nhiều giá
trị hữu ích cho đến tận ngày nay. Đặc biệt trong lĩnh vực sử học, hai tác phẩm
sử học tiêu biểu của ông là Sử học bị
khảo và Việt sử cương mục tiết yếu.
Sử
học bị khảo, có nghĩa là khảo cứu bổ sung toàn diện cho sử học. Trong công
trình này, ông đã khảo cứu kỹ lưỡng về địa lý, thiên văn, quan chế để làm rõ
nhiều vấn đề trong sử học dưới cách tiếp cận liên ngành, vì thế nhận thức lịch
sử trở nên toàn diện hơn. Ở mỗi mục, ông đều tìm hiểu kỹ các sách của Trung Quốc,
so sánh đối chiếu, vận dụng vào Việt Nam để làm rõ hơn những chỗ chưa rõ, chưa
chính xác trong các sách sử thời trước. Đóng góp của ông trong bộ sách này được
ông thể hiện trong phần lời dẫn ở mục Địa
lý khảo; “Về các châu huyện ở nước ta, tên có thay đổi khác nhau, đất cũng
có sự hợp phân khác nhau… các sử gia Nam Bắc (Việt Nam và Trung Quốc) ghi chép
không giống nhau, Thế đại lâu xa, cố nhiên không thể hiện rõ được hết. Song
châu, huyện, đời… tuy có sự thay đổi, còn núi sông, đường sá phần lớn vẫn y
nguyên. Nhân mạch núi sông mà xét đường sá xa gần, từ đó truy tìm châu huyện cổ
nhân, như thế thì cũng có thể biết được một số. Nay bằng vào các điều chép
trong sử sách, các điều nào có thể biết được thì hãy phụ chép lời bàn. Còn các
điều mà không thể biết được thì hãy đợi sự bổ khuyết của các bác nhã sau này”.
Cuốn Việt
sử cương mục tiết yếu được đánh giá là cuốn sử tiêu biểu nhất trong những
cuốn sử cùng thời vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đây là bộ sử
được hoàn thành vào năm 1905, gồm 8 quyển, trình bày toàn bộ tiến trình lịch sử
Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước đến hết nhà Tây Sơn. Về cơ bản Việt sử cương mục tiết yếu được biên soạn chủ yếu dựa trên khung
biên niên sự kiện lịch sử của bộ Khâm
định Việt sử thông giám cương mục biên soạn dưới thời Tự Đức, nhưng được bổ
sung cho đầy đủ, chú giải cặn kẽ theo quan điểm của tác giả. Đóng góp của ông
trong bộ sách này được thể hiện qua phần bình ngắn gọn, súc tích trên cơ sở phê
bình, khảo cứu, so sánh, đối chiếu với nhiều nguồn tư liệu khác từ tên đất, tên
người, các sự kiện, các khái niệm về điển chế, văn hóa… đã góp phần bổ sung
thêm sự hiểu biết, đính chính những nhầm lẫn và thiếu sót của các tác giả đi
trước trong bộ Khâm định Việt sử thông
giám cương mục.
Nhìn chung lại có thể nói, về mặt sử
học, Đặng Xuân Bảng đã vượt lên trên các nhà sử học cùng thời. Bên cạnh thái độ khách quan, tôn trọng sự
thật, khảo cứu đến ngọn nguồn các chứng cứ lịch sử, đối chiếu với nhiều nguồn
tài liệu khác nhau, các tác phẩm sử học của ông được trình bày với một phương
pháp hiện đại, tiếp cận hệ thống và liên ngành, đã đem lại nhiều nhận thức mới về
lịch sử thể hiện tính khách quan, khoa học, và toàn diện. Đặng Xuân Bảng “là
một nhà Sử học có phương pháp gần với Phương Tây hiện đại”, và ông thực sự “là
một nhà Sử học đi trước thời đại”[1].
Mảng đóng góp nổi bật thứ hai trong các tác
phẩm của của Đặng Xuân Bảng là các công trình về giáo dục học, đặc biệt là giáo
dục đạo đức. Từ những bài học đạo đức của các bậc đế vương (trong Khâm định
nhân sự kim giám) đến các thành phần dân cư trong xã hội (Huấn tục quốc
âm ca), các thành viên trong gia đình (Cổ nhân ngôn hạnh lục, Cư
gia khuyến giới tắc, Huấn nữ ca), các bài học của ông đều tập trung đề cao việc tu dưỡng và thực hành đạo đức theo tinh thần
Nho giáo, đức từ bi nhân ái của đạo Phật, (đặc biệt trong những lời dạy dành
cho phụ nữ), chú trọng việc củng cố gia đình, dòng họ cũng như đề cao tinh thần
cộng đồng, xây dựng một môi trường sống nhân ái hòa thuận
Có
thể nói, các tác phẩm về giáo dục gia đình của Đặng Xuân Bảng luôn thấm đẫm giá
trị nhân bản, tinh thần thân dân và có tính khoa học cao và những bài học này,
theo triết lý giáo dục được đề cao hiện nay, lấy con người làm trung tâm, giáo
dục nhân cách là những mục tiêu cốt lõi trong giáo dục hiện đại thì những tác
phẩm về giáo dục của Đặng Xuân Bảng vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn.
Ngoài lĩnh vực sử học và giáo dục
học, cuốn Tuyên Quang tỉnh phú của
ông cũng được đánh giá là một công trình nghiên cứu địa phương xuất sắc và được
dịch sang tiếng Pháp[2].
Ngoài ra cũng cần nhắc đến các tác phẩm khảo
cứu và đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp cũng như khảo cứu về học thuật của
Đặng Xuân Bảng. Từ rất sớm, ngay từ năm 1897 đã có cuốn Hành Thiện Đặng công hành trạng của Nguyễn Xuân Chức biên soạn, Hy Long di thặng của Đặng Nguyên Khu
(Đặng Xuân Viện) xuất bản năm 1929, Nhà
sử học Đặng Xuân Bảng và bộ Việt sử cương mục tiết yếu của Hoàng Văn Lâu,
xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2000, Tiến
sĩ Đặng Xuân Bảng Việt sử cương mục tiết yếu, trên tạp chí Dân tộc và Thời đại số 69 năm 2004 của Nguyễn Hữu Dư…Đặc
biệt năm 2010, kỷ niệm 100 năm ngày mất của TS Đặng Xuân Bảng, Hội Sử học Hà
Nội đã tổ chức cuộc hội thảo: Đặng Xuân Bảng (1828-1910): Con người và sự
nghiệp, tập hợp nhiều nhà khoa học nghiên cứu về cuộc đời và những
công trình khoa học của ông. Các bài viết đã được tập hợp trong cuốn Kỷ yếu hội
thảo. Ngoài các công trình kể trên, Đặng Xuân Bảng còn được ghi nhận như một
tác gia tiêu biểu trong nhiều cuốn sách về các tác gia Việt Nam…
Hiện nay ở huyện Xuân Trường tỉnh Nam
Định có ngã ba Xuân Bảng; các thành phố Nam Định, Đà Nẵng và Thủ đô Hà Nội đều
có đường phố mang tên Đặng Xuân Bảng /’ư để tưởng nhớ và vinh danh Ông - Một
nhà Bác học, nhà Sử học, nhà Giáo dục học; một Trí thức mẫu mực; một vị Quan thanh
liêm trọn đời yêu nước, thương dân.
Tài liệu tham khảo:
- Đại Nam thực lục
chính biên, (2007-2008) tập 7 và 8, NXB giáo dục
- Đặng Xuân Bảng (1997), Sử học bị khảo,
Viện Sử học - NXB Văn hóa thông tin.
- Đặng Xuân Bảng (2000), Việt sử cương
mục tiết yếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Hội sử học Hà Nội (2010), Đặng Xuân Bảng
(1828-1910) Con người và sự nghiệp, Hà Nội.
- Tư liệu gia đình cung cấp
Từ khóa: Đặng Xuân Bảng
[1] Các nhận xét của
GS Hà Văn Tấn và GS Nguyễn Quang Ngọc
[2] Đại
tá Bonifacy dịch ra tiếng Pháp, nhan đề: La province de Tuyen Quang,
composition littéraire de M. Đặng Xuân Bảng traduite et annotée par M. le
colonel Bonifacy”. Viên đại tá này sau khi đọc cuốn sách của cụ đã phải thốt
lên rằng: Từ sau khi đọc cuốn sách này tôi đã không dám coi thường các quan lại
An Nam nữa.”
*. Bài đã đăng trong :
1. Nhà báo Quốc Phong ( chủ biên) ( 2024)" Hành Thiện ngôi làng hình cá chép- Lịch sử và huyền thoại", tập 2, NXB Thanh niên, tr 28-37)
2. Địa chí Nam Định, tập 5 Nhân vật chí (,có chỉnh sửa. ) ( 2025), NXB Hồng Đức, tr 313-319)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét