Đặng Huy Vận
Lịch sử Việt Nam từ
giữa thế kỷ XIX trở đi đã chuyển sang một bước ngoặt quan trọng. Nhân dân ta vừa
phải chịu ách thống trị nặng nề của giai cấp phong kiến trong nước đã cực kỳ thối
nát, vừa phải đương đầu với một thế lực ngoại xâm hung hãn hòng gấp rút thôn
tính nước ta. Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn đại diện cho nhà nước phong
kiến không có một chính sách đối nội, đối ngoại nào gọi là tương đối có hiểu biết
khả dĩ cùng nhân dân chống chọi với thực dân xâm lược. Ngược lại, với đường lối
chủ hòa đi đến đầu hàng giặc, triều đình đã để cho bọn Pháp lấn dần từng bước để
cho chúng chiếm ba tỉnh miền Đông rồi liên tiếp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ
gây cho nhân dân ta biết bao thảm họa. Cùng với triều đình nhà Nguyễn, Phan
Thanh Giản - một đại thần có trách nhiệm quan trọng ở Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó -
người đã cầm bút ký điều ước nhường đất cho giặc phải chịu liên đới trách nhiệm
như thế nào trước lịch sử, trước nhân dân và Tổ quốc? Cái chết của Phan Thanh
Giản cũng như toàn bộ con người của ông còn những vấn đề gì đáng nói? Đó là những
sự thực lịch sử khá phức tạp. Viết bài này chúng tôi không có tham vọng làm
sáng tỏ được toàn bộ những vấn đề phức tạp ấy, mà chỉ hy vọng trong khả năng hiểu
biết có hạn của mình góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu đánh giá Phan Thanh Giản
của giới sử học nước nhà hiện nay do Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử của Viện Sử học đề ra từ đầu năm.
Phan Thanh Giản tự là Tịnh Hà, lại có tự là Đạm
Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh năm 1796 tại làng Tân
Thanh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Bảo Thạnh, quận
Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Cha ông là Phan Thanh Ngạn trước kia có làm một viên chức
nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long nhưng vì tính cương trực và thanh liêm nên cuộc sống thanh
bạch. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản bị hạn chế nhiều,
nhưng do chỗ ông là người thông minh hiếu học, nên đến năm 29 tuổi (1825) ông thi
đậu Cử nhân tại Gia Định và sang năm sau (1826) thi hội ở kinh đô, ông đậu ngay
Tiến sĩ và cũng là ông Nghè nho học đầu triên của Nam Kỳ. Từ cuộc đời đèn sách
cử nghiệp bước sang cuộc đời hoạn lộ, Phan Thanh Giản bắt đầu được triều đình
Minh Mạng lần lượt phong chức Hàn lâm viện
biên tu làm Tri phủ ở Quảng Bình (1827), Lang trung bộ Hình (1827), Tham
biện tỉnh Quảng Bình (1828), Quyền
nhiếp Tham hiệp Nghệ An (1829), Lễ bộ
tả thị lang và được bổ vào Nội các (1830) rồi Hiệp trấn Quảng Nam (1831)… nhưng không phải là mỗi năm thăng một
trật mà thực ra cuộc đời làm quan của ông cũng có nhiều lúc thật long đong. Từ
địa vị là quan Hiệp trấn, ông bị
giáng xuống làm Tiền quân hiệu lực vì
thất bại trong vụ dẹp loạn Cao Giồng, Quảng Nam. Nhưng rồi lại được phục chức,
thăng chức, được cử đi công cán ở Sing-ga-po (Singapore) làm Phó sứ đi Trung Quốc, rồi lại bổ làm Tuần vũ Quảng Nam, nhưng bị tên nịnh thần
Võ Duy Tân vu cáo cho là mưu khởi loạn, ông lại bị vua giáng xuống chức “lục phẩm”,
đồng thời bị phái đi coi việc khai mỏ vàng ở Quảng Nam, sau đó lại bị sai ra tận
Thái Nguyên coi việc khai mỏ bạc. Đó là thời kỳ “công cán” của ông dưới triều
Minh Mạng. Minh Mạng chết ông lại công cán dưới thời Thiệu Trị, làm chức Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên, Phó đô ngự sử của Đô sát viện, giảng dạy
và điều khiển “trường Kinh Niên”, về sau lại làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ lịch sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Dưới triều vua Tự Đức, Phan
Thanh Giản được bổ làm chức Thượng thư bộ
Lại sung Cơ mật viện Đại thần (1848). Từ đây, chức quyền của ông cũng to lớn
và quan trọng như những việc làm to lớn và quan trọng của ông. Năm 1850, ông
cùng với Võ hiển Nguyễn Tri Phương
vào trấn nhiệm miền Tây. Sau đó lại làm Phó
sứ kinh lược Nam Kỳ kiêm Tuần phủ Gia
Định coi các tỉnh Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Hòa, ông cùng với Chánh sứ kinh lược Nguyễn Tri Phương
chiêu dân lập ấp, khai phá rừng rậm, cày cấy làm ăn và lập đồn lũy ngăn chống
giặc dã. Đến lúc quân Pháp gây hấn (1858), Ri-gôn đờ Giơ-nui-y (Rigault De
Genouilly) và Mông-ti-nhi (Montigni) bắt đầu đem chiến thuyền vào cửa Đà Nẵng rồi
đánh lấy Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Phan Thanh Giản lại được vua cử vào Quảng
Nam, Đà Nẵng vỗ về dân chúng trong lúc Nguyễn Tri Phương phải giữ mặt trận Gia
Định. Tiếp đến ông lại cùng Lâm Duy Hiệp làm Chánh phó sứ toàn quyền đại thần vào Nam thương thuyết rồi ký Hòa ước 5/6/1862 với Bô-na (Bonard) và
Pa-lăng-ca (Palanca) gồm 12 điều khoản, trong đó có khoản 3 phải cắt 3 tỉnh miền
Đông cho Pháp và khoản 8 phải bồi thường 4.000.000đ trong 10 năm. Sang năm
1863, ông lại được vua cử làm Chánh sứ
cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản và một đoàn tùy tùng
sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Cũng từ chuyến đi này, ông được
thấy tận mắt nền văn minh tiến bộ của Tây phương, lại cộng thêm với tư tưởng chủ
hòa cố hữu của ông đã làm cho ông thêm tiêu cực, nên sau khi bị thất bại trong
việc “chuộc đất” trở về, trước sự lấn dần bằng vũ lực của bọn thực dân xâm lược,
ông đã thuận để cho giặc Pháp chiếm luôn cả ba tỉnh miền Tây (1867), rồi soạn tất
cả 23 chiếu chỉ của triều đình ban tặng cho từ trước đến nay gửi trả lại triều
đình, đồng thời nhịn đói và uống thuốc độc tự tử.
Cái chết của Phan
Thanh Giản kết thúc tấn bi kịch cuộc đời hoạt động chính trị và ngoại giao của
ông, nhưng cái chết của Phan Thanh Giản cũng để lại cho lịch sử những nghị luận
phân vân bất nhất giữa người đương thời cũng như ở cả trong chúng ta ngày nay nữa.
Làm thế nào để đi đến một ý kiến nhất trí về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản?
Cũng như đánh giá bất cứ một nhân vật lịch sử nào, chúng ta đều phải đặt nhân vật
ấy trong hoàn cảnh nhân vật ấy sống và hoạt động. Đối với Phan Thanh Giản, mang
trên người trách nhiệm là “toàn quyền đại
thần” là “chánh sứ như Tây”, là
người thay mặt triều đình ký hàng ước với Pháp và trao trọn sáu tỉnh Nam Kỳ cho
giặc. Trách nhiệm của Phan tất nhiên là rất to lớn; nhưng chúng ta không thể chỉ
nhìn thấy trách nhiệm của Phan mà không thấy trách nhiệm chủ yếu lại là của
giai cấp phong kiến, chúng ta cũng không thể chỉ đơn thuần căn cứ vào hành động
của Phan mà không xét đến động cơ xuất phát của những hành động ấy và chúng ta
cũng không thể bỏ qua những mặt khác trong toàn bộ cuộc đời của Phan Thanh Giản.
Có như thế chúng ta mới cắt nghĩa được một cách tương đối chính xác. Nhưng vì
sao đối với Phan Thanh Giản còn có những nhận định khác nhau, đó phải chăng là
vì mỗi người dựa vào một vài khía cạnh đáng trách hoặc đáng khen ở Phan Thanh
Giản? Đó cũng chính là đầu mối của những sự bất nhất trong khi nhận định về
Phan Thanh Giản.
Để đi đến một nhận
định đúng đắn về con người Phan Thanh Giản, chúng ta phải gạt ra ngoài những luận
điểm của bọn thực dân và bè lũ tay sai bán nước, như ý kiến của tên Sa-ten
(Chatel): “Khi mà một ý nghĩ về sự hợp tác Pháp - Nam hình như có vẻ quái đản… thì
nhà ái quốc An Nam này - rất trung thành với đất nước của ông, nhưng sáng suốt
về tương lai một cách lạ lùng - đã nhận thấy khả năng tồn tại sau này của nó và
đặt những viên đá đầu tiên cho lâu đài ấy”[1].
Hắn cho Phan là người sáng suốt bậc nhất, biết suy nghĩ tốt nhất về cuộc sống hạnh
phúc của nhân dân, về sự phồn vinh của đất nước khi có một người bạn Pháp bên cạnh
khai hóa cho, bảo hộ cho. Sa-ten nói thêm rằng “Phan Thanh Giản biết hướng lòng
yêu nước của ông theo biến cố của thời đại. Ông ta đủ thông minh để hiểu thế lực
của người Pháp mà ông đã có liên hệ với họ trong những ngày ở Nam Kỳ, ông ta đã
biết nước Pháp tiến bộ và giàu có khi ông đi thăm. Ông ta hiểu rằng quân đội của
nước ông không thể chống lại được với quân đội của nước Pháp và do đó phải
tránh làm đổ máu vô ích của người An Nam. Phan Thanh Giản cũng là người đầu
tiên cổ võ cho sự hợp tác Pháp - Nam, một khẩu hiệu phong phú đã dùng làm cơ sở
cho nền chính trị tự do của nước Pháp”[2].
Những ý kiến trên
đây của Sa-ten chỉ nhằm một mục đích chính trị thâm độc cốt xoa dịu tinh thần đấu
tranh chống Pháp của nhân dân ta lúc bấy giờ, nhằm vào đường lối “chủ hòa” “đầu
hàng” của triều đình Huế mà Phan phục vụ để khuếch trương nó lên, để biện minh
cho chủ nghĩa “Pháp - Việt đề huề” của chúng. Không lạ gì cái mà bọn thực dân
cáo già đề cao lại chính là chỗ yếu nhất của Phan Thanh Giản, như là sự “hợp
tác Pháp - Nam”, “hiểu thế lực của người Pháp”,… Điều đó thiết tưởng khỏi phải
bàn thêm, chúng ta cũng rõ miệng lưỡi gian xảo của bọn chúng rồi.
Một số người khác
- đa số là những người trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 - khi viết về thân thế
sự nghiệp của Phan Thanh Giản đã coi ông là “một vị anh hùng đã hy sinh tâm hồn
và thể xác cho nước Việt Nam” là “biểu tượng của lòng ái quốc thức thời…”[3].
Trước cái chết mang nhiều tính chất bi kịch của Phan Thanh Giản đã được họ coi
là cái chết của một người am hiểu thời thế, sáng suốt trông cục diện nước nhà
trong khi người Việt Nam từ vua chí dân đang trong cơn ngu muội. Vì ông là người
được giao thiệp luôn với người Pháp ở Nam Kỳ, chung đụng với dân Pháp trong thời
kỳ đi sứ, mắt thu được nhiều cái đẹp, cái hay của văn minh tân tiến và hiểu thế
nào là sức mạnh của bên địch, nên ông biết không đương đầu được với kẻ thù nếu
không mở mang dân trí, huấn luyện lại binh lính, sửa đổi lại quân nhu. Ông muốn
tránh cho nước nhà cảnh sông máu, núi thây trong khi chờ đợi thời cơ mới: “Ông
cố tránh cho dân Việt khỏi nhỏ máu một cách phí phạm, hy sinh một cách điên cuồng
vô ích tấm thân đáng lẽ ích lợi cho quốc gia. Ông cố nâng cao trình độ dân trí
nước nhà, khuyên vua nên vỗ về dân, khuyên dân nên tận tụy làm việc, ngõ hầu nước
Việt Nam mới tiềm tàng được sức mạnh đương đầu với những cơn phong ba chìm nổi.
Song, khốn thay giữa cái xã hội cổ hủ, lời hô hào của ông cũng như của Nguyễn
Trường Tộ chẳng có tiếng vang. Ông đành cam lòng làm hết bổn phận của mình rồi
lấy cái chết để đền nợ nước”[4].
Viết những lời nhận định này, các ông Tam Thanh và Hoành Hải có thể đã nhìn thấy
phần nào động cơ và thiện ý của Phan Thanh Giản, nhưng nói như thế chỉ là mới
nói được một mặt. Các ông đã không nhìn thấy mặt hậu quả tai hại của “những
hành động đầy thiện ý” ấy của Phan Thanh Giản. Các ông đã không nhìn thấy mặt
trách nhiệm to lớn như thế nào của Phan Thanh Giản trong việc cắt đất nhường
cho Pháp.
Chúng ta đều biết
rằng Phan Thanh Giản là một quan lại cao cấp của triều đình nhà Nguyễn, ông xuất
thân là một người nho học uyên thâm, lại sống trong giai đoạn chế độ phong kiến
nước ta đã lụn bại đến cực độ, cả giai cấp phong kiến đã mất hết sinh khí, nó
cũng tỏ ra khiếp nhược hơn trước sự bành trướng thế lực của chủ nghĩa tư bản nước
ngoài. Trên con đường phát triển mở rộng thị trường, chủ nghĩa tư bản thực dân
đã từng diễu võ dương oai, chúng không những tỏ ra có ưu thế tuyệt đối về vũ
khí và chiến thuật mà còn có những âm mưu thủ đoạn vô cùng thâm độc ngoài sự ngờ
vực và hiểu biết của triều đình phong kiến ngu dốt và thủ cựu như triều đình
phong kiến nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Phan Thanh Giản đã suốt “ba triều công cán”,
tức là với cả Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách,
đã hết lòng, hết sức phục vụ “vua trên”, lại được tận mắt trông thấy những cái
“văn minh”, “tân tiến”, “sức mạnh phi thường” của bọn Pháp, vốn sẵn bản thân đã
mang nặng tư tưởng “từ bi”, “bác ái” của cái Nho giáo lỗi thời từ chỗ mang tư
tưởng “chủ hòa một các tiêu cực” đi đến
tư tưởng “thất bại chủ nghĩa”, tiến hơn một bước nữa là đi đến tư tưởng “đầu
hàng chủ nghĩa”. Trong ý thức hệ của Phan, nhìn lên trên thấy khó trông mong được
ở triều đình một cái gì “khả thủ”, nhưng lại không biết đến nguồn sức mạnh chiến
đấu vô tận ở nhân dân. Phan, trước sức uy hiếp của giặc đã đang tay ký “Bản hòa
ước 1862” với giặc. Quê cha đất tổ bị bày quỷ dữ giày xéo? Phan Thanh Giản bị
nhân dân cả nước lên án và phản đối mọi hành động chủ hòa của triều đình và của
chính ông:
“Bớ các quan ơi!
Chờ thấy chín
trùng hòa nghị mà tấm lòng dịch khái nỡ phôi pha,
Đừng rằng ba tỉnh
giao hòa mà cái việc cừu thù đành bỏ dở”[5]
Nhân dân đã tỏ
thái độ của mình với các quan như vậy mà ông vẫn chưa tỉnh ngộ, không biết đứng
về phía nhân dân và các sĩ phu yêu nước khác tổ chức kháng Pháp, vẫn cứ đi sâu
vào con đường chủ hòa, cầu hòa, xin chuộc đất đã đánh dấu thêm một bước thất bại
của đường lối đầu hàng, “xin xỏ” của triều đình Huế. Từ ngày đi Pháp xin chuộc
đất về, Phan Thanh Giản lại càng bi quan tiêu cực hơn, ông đã thở dài:
“Từ ngày đi sứ đến
Tây kinh
Thấy việc Âu châu
phải giật mình!”[6]
Ông khiếp sợ và mất
tin tưởng đến nỗi cảm khái:
“Trăm món khéo bằng
tay thợ tạo
Duy còn sống chết
chịu thua trời”[7].
Thế rồi Phan Thanh
Giản không chịu lo chuẩn bị đề phòng chống Pháp mà để cho giặc lấn dần, để đến
nỗi trong bốn ngày từ 21-6 đến 25-6-1867, chúng lấy luôn cả ba tỉnh miền Tây.
Sáu tỉnh Nam Kỳ nằm gọn trong tay Pháp. Những cố gắng mong muốn chuộc đất cầu
hòa để đền đáp ơn vua nợ nước… Cuối cùng ông đã phải trả giá bằng chén thuốc độc
kết thúc cuộc đời!
Cái chết bi đát của
Phan Thanh Giản quả có làm xúc động lòng người, nhưng chúng ta không thể vì cái
chết ấy mà coi nhẹ trách nhiệm của Phan được. Trước đây đã từng có người muốn
phủ nhận phần trách nhiệm của Phan trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kỳ, họ cho rằng
trước tình hình lúc bấy giờ Phan Thanh Giản không thể nào làm khác. Thậm chí họ
còn cho những hành động của Phan là sáng suốt, là “thông quán thức thời, nhưng
gặp phải vận nước đến hồi mờ mịt, lòng người đang lúc đảo điên, nên không muốn
hy sinh vô ích đám ba quân và chẳng nỡ để lụy cho dân”[8].
Điều đó hoàn toàn không đúng. Khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta thì chế độ
phong kiến đã suy yếu đến cực độ, hoàn cảnh lúc bấy giờ có nhiều khó khăn,
nhưng con đường đúng đắn duy nhất để bảo vệ quê hương Tổ quốc là phải chiến đấu,
có chiến đấu thì mới bảo toàn được nền độc lập của nước nhà. Nhưng triều đình
nhà Nguyễn và đa số đình thần trong đó có Phan Thanh Giản lại chủ hòa!
Chúng ta hãy cùng
nhau ôn lại giai đoạn lịch sử ấy để thấy rõ trách nhiệm của bọn vua quan nhà
Nguyễn và thấy rõ con đường của những người dân chân chính đã chọn, để thấy rõ
ai là người sáng suốt - nhân dân và sĩ phu kháng chiến sáng suốt hay triều đình
Huế và phái chủ hòa Phan Thanh Giản sáng suốt. Từ tháng 9 năm 1858, khi mới đổ
bộ lên Đà Nẵng, thực dân Pháp đã có âm mưu đánh ra Huế bắt chính quyền trung
ương của nhà nước phong kiến đầu hàng, nhưng chúng bị dân quân ta chặn lại ở Đà
Nẵng, sau phải đánh vào Nam Kỳ lấy Gia Định trước đã rồi đánh chiếm lan ra. Lúc
đó nếu một triều đình biết tự trọng còn giữ được truyền thống chống xâm lăng của
dân tộc, biết dựa vào nhân dân lúc nguy nan thì đã có một đường lối mạnh bạo
kiên quyết chống giặc giữ nước như đời Lê, đời Trần. Trái lại, triều đình nhà
Nguyễn đã không tin vào dân, rồi đánh cũng không dám đánh, kẻ chủ hòa, người chủ
chiến, thái độ thì hèn nhát, địch tình thì lờ mờ,… Cuối cùng ý kiến của Viện Cơ
mật lại là “thủ để hòa”, chỉ đào hào đắp lũy để cố thủ và hy vọng “trì cửu” cho
quân Pháp mỏi mệt mà phải rút! Thậm chí, có đình thần còn nghĩ rằng: “Họ ở xa
ta, nên không thôn tính được ta”, “Vì ta lạnh nhạt nên họ mới đánh ta” (!), thực
chất đây là một chủ trương đầu hàng dần từng bước đến đầu hàng vô điều kiện.
Cho nên trước sự hèn nhát của triều đình như thế, một số sĩ phu phong kiến nhất
định không nghe theo. Họ đã cùng nhân dân đứng lên kháng Pháp và đã gây cho địch
nhiều tổn thất quan trọng, đã làm cho bọn đầu sỏ thực dân và đám quan quân của
chúng lắm lúc thoái chí nản lòng. Tên tướng Pháp chỉ huy là Ri-gôn đơ Giơ-nui-y
trong tờ trình về bên Pháp triều đã công nhận: “Người ta - (đây là tên gián điệp
Pen-tơ-ranh) báo cáo rằng quân đội (Việt) không có gì, sự thực thì quân đội
chính quy rất đông, còn dân quân thì gồm tất cả những người mà không đau ốm và
không tàn tật…”[9].
Tinh thần kháng chiến của nhân dân còn thể hiện ở chỗ họ đã hăng hái thực hiện
chính sách “vườn không nhà trống” tích cực góp lương tiền, còn ra sức đắp kè, lập
cản trên các sông Bến Nghé, Đồng Nai, Bảo Định để ngăn tàu địch. Nhân dân đã tổ
chức thành những đám nghĩa quân đông tới năm, sáu ngàn dưới quyền chỉ huy của
Trần Thiện Chính, Lê Huy để giúp quân triều đình đánh giặc. Từ sau khi Gia Định
thất thủ cho mãi đến sau này nữa, nhân dân liên tục tham gia các tổ chức nghĩa
quân đánh nhau với giặc không mệt mỏi. Trước nạn nước, lòng dân thật là bồng bột,
nhạy như thuốc súng khô, họ đã tự động tìm giặc để đánh, làm cho chúng mất ăn,
mất ngủ. Còn như quân triều đình thì chờ chờ, đợi đợi, chậm chạp như rùa, án
binh bất động, giặc đến nơi mới chống, chống yếu ớt rồi rút lui. Lực lượng
kháng chiến của nhân dân đã làm cho địch phải gờm. Một sử gia thực dân cũng phải
công nhận tình hình gay go của chúng trước lực lượng của nghĩa quân và trước
chiến thuật du kích của họ: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam không có ảnh
hưởng tí nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng. Họ xuất
hiện bất kỳ, họ đông đảo, họ đánh phá, rồi họ lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến
tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này”[10].
Thế mà triều đình vẫn không đếm xỉa đến! Tinh thần chiến đấu của nhân dân cao
như thế mà triều đình vẫn cứ khư khư giữ lấy đường lối “chủ hòa” phản động rồi
cắt đất - phần lớn trong vùng có nghĩa quân nộp cho Pháp, ra lệnh giải tán
nghĩa quân, phong chức cho thủ lĩnh để chia rẽ họ với một số nghĩa quân. Nghĩa
quân không nghe theo thì năm lần bảy lượt đưa thư dụ hàng. Thậm chí ngăn trở việc
tiếp tế của nghĩa quân! Nhân dân ta đã trả lời hành vi nhục nhã ấy bằng cách
suy tôn Trương Định lên làm Bình Tây đại
nguyên soái và giương cao ngọn cờ “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân” tập
hợp thêm lực lượng chống Pháp. Do đó, chúng ta thấy rằng trách nhiệm “mại quốc”
và “khí dân” mà nhân dân ta lúc bấy giờ cần thiết phải đề lên như vậy chính là
trách nhiệm chung của giai cấp phong kiến, của triều đình nhà Nguyễn thối nát,
mà Phan Thanh Giản là một người trong đó, người trực tiếp thực hiện chủ trương
chính sách phản động của triều đình. Ở đây chúng ta cũng cần biết rõ rằng: “triều
đình bỏ dân” chứ nhân dân ta lúc đó không bỏ triều đình. Những hành động tích cực
ủng hộ quân đội triều đình, những tổ chức nghĩa quân đứng bên cạnh quân đội triều
đình chống Pháp đã chứng tỏ nhân dân ta rất sáng suốt. Mặt khác, chúng ta cũng
phải thấy rằng, mâu thuẫn giai cấp trong nước giữa đông đảo nông dân với với thế
lực phong kiến trong nước vốn đã từng âm ỷ bấy lâu, đã nhiều phen nổ ra mãnh liệt
(khởi nghĩa nông dân) nó càng trở nên quyết liệt, gay gắt hơn dưới triều Minh Mệnh
và đầu triều Tự Đức tưởng như không có cơ cứu vãn. Thế mà, khi tiếng súng xâm
lược của thực dân Pháp vừa nổ, thì nhân dân ta đã sẵn sàng gác mối thù giai cấp
đó lại để đứng bên cạnh triều đình chống xâm lược đặng bảo toàn nền độc lập của
nước nhà. Nhưng triều đình Huế đã ngu xuẩn không biết được điều đó, đã đi ngược
lại nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân, đối với thực dân Pháp đã đi từ nhượng
bộ này, tới nhượng bộ khác và cuối cùng là dâng đất nước ta cho giặc. Điều đó
đã làm cho nhân dân ta công phẫn hô to khẩu hiệu “Phan Lâm mại quốc, triều đình
khí dân”. Tội lỗi đó triều đình và Phan Thanh Giản phải chịu lấy! Lịch sử vốn
không tư tình với một ai. Lịch sử cũng vốn không khe khắt với riêng ai, nhưng lịch
sử cũng không bao giờ tha thứ hoặc dễ dãi với bất cứ một ai đi ngược lại quy luật
của nó. Lịch sử đã là kẻ chứng kiến những hành động phản bội đất nước của triều
đình nhà Nguyễn và của Phan Thanh Giản. Trong lúc triều đình và Phan Thanh Giản
ngập sâu vào con đường chủ hòa, thì sĩ phu yêu nước và nhân dân ta đã bằng mọi
hình thức tham gia vào cuộc kháng chiến anh dũng. Ngay cả những sĩ phu không có
điều kiện trực tiếp xông ra trận tiền trực diện giao tranh với giặc, đã viết những
bài hịch, những vần thơ động viên nhân dân chống Pháp, lên án lũ vua quan hèn
nhát đầu hàng chỉ bảo toàn tính mạng và địa vị ăn trên ngồi trốc của mình, lên
án bọn người có trách nhiệm là “phụ mẫu” của dân giờ đây đã không biết đến tình
cảnh điêu linh và tâm trạng khổ nhục của nhân dân Nam Kỳ phút chốc đã trở thành
dân mất nước!
Cũng là một sĩ
phu, xuất thân nho học như Phan Thanh Giản, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã viết những
bài hịch bừng bừng khí phách chiến đấu, hoặc những bài thơ vừa đau xót vừa căm
giận khi nhìn thấy quê hương đất tổ rơi vào tay giặc:
“Hoa cỏ ngùi ngùi
ngóng gió đông.
Chúa Xuân đâu hỡi
có hay không
Mây giăng ải Bắc
trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt
tiếng hồng
Bờ cõi xưa đà chia
đất khác
Nắng sương nay há
đội trời chung?
Chừng nào thánh đế
ân soi thấu
Một trận mưa nhuần
rửa núi sông”[11].
Cũng khác với nhà
nho chủ hòa nguy hại, Phan Thanh Giản, cử nhân Phan Văn Trị đã nói lên lời oán
hận, oán hận ngay đối với ông Nghè đại thần rằng:
“Tan nhà căm nỗi
cơn ly hận
Cắt đất thương
thay cuộc giảng hòa
Gió bụi đòi cơn
xiêu ngã cỏ
Ngậm ngùi hết nói nỗi quan ta”[12].
Ở một số sĩ phu khác, thái độ có phần quyết liệt hơn. Phan Huân ở Hà Tĩnh
được tin hòa ước đã ký, vội vàng dâng sớ đòi giết Phan Thanh Giản, đuổi Trương
Đăng Quế về nhà và trực tiếp lên án chính sách chuyên chế của Tự Đức. Hơn nữa,
việc nước nhà bị xâm lăng và chia cắt đã gieo trong các giới sĩ phu một lòng bất
mãn đối với triều đình mà họ cho là đã quá bất lực. Vì thế đã dẫn dến một sự kiện
chưa từng thấy trong lịch sử là các sĩ tử thi hương ở các trường thi Thừa
Thiên, Nghệ An, Nam Định và Hà Nội biểu tình phản đối ký Hòa ước 1862, đến nỗi triều đình phải cho quan quân đến đàn áp mới
yên được. Ngay ở kinh đô, trong hàng quan lại và đến cả người trong hoàng phái
cũng ra mặt phản kháng và muốn lật đổ Tự Đức để lập một vua khác, đặng chống
ngoại xâm đắc lực hơn. Đó tức là cuộc mưu nổi dậy của công tử Hồng Tập cùng với
phò mã Trương Văn Chất định lật đổ triều đình và giết đại thần Phan Thanh Giản
và Trần Tiễn Thành năm 1864[13] và cũng ở ngay kinh đô đầu não của chính quyền phong kiến đã từng nổi lên
cuộc khởi nghĩa của binh lính và thợ thuyền do Đoàn Trưng, Đoàn Trực lãnh đạo năm
1866 để chống lại triều đình Huế hủ bại không biết lo việc nước mà lại chỉ lo
xây lăng miếu, mồ mả tốn kém công sức của cải của nhân dân.
Tất cả những lời nói, việc làm ấy của sĩ phu, của nghĩa quân đã tố cáo một
cách đanh thép rằng: Triều đình Huế là tội phạm chính của việc để mất đất nước,
bỏ dân, bỏ nước để chỉ lo khư khư giữ lấy ngai vàng đã mọt ruỗng và quyền lợi bẩn
thỉu của chúng. Cho nên những tiếng “mại quốc”, “khí dân” chúng phải chịu lấy.
Không riêng chỉ tiếng nói bằng thơ văn có sức mạnh tố cáo của các sĩ phu, nhân
dân ta vừa đánh giặc nhưng lại cũng vừa sáng tác những bài thơ, bài hịch có sức
mạnh tố cáo, vạch rõ trách nhiệm của triều đình phản động, như bài “Hịch đánh
Tây” của Lãnh Cồ đã được phổ biến rộng rãi, có những câu như:
“Cơ đồ tan nát, cũng vì triều đình nhu nhược tham sinh nên đã đầu hàng, để
cho quân giặc tung hoành, thừa thế ra tay tàn sát”.
Rõ ràng là từ những ngày đầu, trong
cuộc sống nạn nhân của đường lối chủ hòa, đầu hàng, nhân dân ta đã thấy được tội
lỗi của triều đình Huế, cái tội lỗi đầu hàng bán nước mà lịch sử càng ngày càng
chứng minh. Ở đây chúng ta cũng thấy rằng dư luận công chính bao giờ cũng buộc
tội triều đình, hoặc khi nói đến người có trách nhiệm trực tiếp ký hàng ước với
giặc là Phan Thanh Giản thì đều gắn với đường lối chủ hòa đầu hàng của triều
đình Huế. Tư tưởng chủ hòa tiêu cực của Phan Thanh Giản tất nhiên là sai lầm,
nó càng sai lầm hơn khi ông không chịu nghe theo tiếng nói chủ chiến của đông đảo
nhân dân, mà chỉ khư khư giữ mãi chủ trương phản động ấy. Mặc dầu có rất nhiều
trường hợp, sự thực đã chứng minh hùng hồn rằng “chủ chiến là chiến thắng”, nhất
là những cơ hội rất thuận lợi cho việc lấy lại đất nước, như lúc bên địch gặp
phải nhiều khó khăn, đang bối rối ở ngay chính quốc, ở chiến cuộc với Ý hay
đang bị mắc kẹt ở vùng Hoa - Bắc. Ngay lúc ấy ở Việt Nam do sức kháng chiến mạnh
mẽ của quân dân ta tên đề đốc Ri-gôn đơ Giơ-nui-y đang khốn đốn, phải tự điện về
Pháp xin viện binh và được bộ Tư lệnh Pháp trả lời là: “Hồi này nước nhà không
có thể nào tiếp tế cho tướng quân thêm một tên lính hay một chiếc tầu cũng vậy.
Thôi tốt hơn hết là tướng quân liệu bề thương thuyết điều đình với chính phủ nước
Nam cho xong, nếu họ cam đoan từ nay trở đi không ngược đãi tín đồ Thiên Chúa
giáo thì chúng ta chỉ có việc trả lại thành trì cho họ rồi rút binh về là hơn”[14]. Khi bức thư này qua tay đề đốc Giơ-nui-y tháng 6/1859 thì tình hình quân
Pháp ở Việt Nam đang gặp bước hiểm nghèo đặc biệt. Tại Cửa Hàn mới có bệnh dịch
lệ phát ra, mỗi ngày giết hại hàng chục người mà công cuộc tiếp tế lương thực rất
là gian nan, thành ra toán quân còn lại ở cửa Hàn bấy lâu thiếu thốn cả thuốc
men, rượu thịt, quần áo, đến tiền bạc, súng đạn cũng hao hụt nhiều. Thế mà triều
đình và phái chủ hòa cứ để mặc, không có một hành động quyết liệt nào, vẫn cứ
chờ đợi cho họ mỏi hơi, mệt xác, rồi tự nhiên phải bỏ đi là xong. Thật là tai hại
đáng muôn đời nguyền rủa cho chính sách đầu hàng của Tự Đức và cũng thật đáng
thương thay cho những đại thần thiếu minh mẫn như Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp.
Riêng về phần Phan Thanh Giản, ông phải chịu lấy một phần trách nhiệm to lớn
trong chính sách ấy.
Phần trên chúng tôi đã nói về trách nhiệm của Phan Thanh Giản gắn liền với
trách nhiệm của triều đình Huế trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kỳ. Nhưng chúng
ta còn phải xét thêm cá nhân Phan Thanh Giản và động cơ của những hành động của
ông như thế nào nữa để đi đến một nhận định toàn diện hơn về Phan Thanh Giản.
Quan niệm cho rằng Phan Thanh Giản là một người “bán nước”- chữ “bán nước” hiểu
theo nghĩa thông thường có hoàn toàn đúng không? Chúng tôi nghĩ rằng cái khẩu
hiệu “Phan - Lâm mại quốc, triều đình khí dân” viết trên lá cờ của nghĩa quân
Trương Định, nghĩa chữ “mại quốc” này không giống nghĩa thật chữ “bán nước” mà
nhân dân ta bao đời nay vẫn khép tội cho bọn vong quốc, vong bản như Tôn Thọ Tường
chẳng hạn. Tên Việt gian lúc đó là Tôn Thọ Tường, kẻ đã chính miệng mình nói rằng
“kể chi danh phận lúc tan hoang” và “thân còn chẳng kể, kể chi danh”,… Bộ mặt
bán nước của hắn đã bị công luận lên án và nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị ngay
lúc đó đã lột trần chân tướng của hắn trong các bài họa lại với lời lẽ đầy
khinh miệt như:
“Đứa ghẻ ruồi, đứa
lác voi
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi
Người tuy mặt đỏ đôi tròng bạc
Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi”[15].
Trái hẳn với Tôn Thọ Tường, Phan Thanh Giản vì thương dân mà “chủ hòa” để rồi
dẫn đến tai họa đất mất, quyền mất, người chết mà Phan không lường trước được.
Có hậu quả tai hại đó chính là do Phan Thanh Giản mang nặng tư tưởng thất bại
chủ nghĩa, khiếp sợ trước thế lực tư bản. Phan muốn hòa với Pháp và cho đó là
con đường đỡ tổn thất cho nhân dân. Phan ngây thơ ngỡ rằng: “giặc ví như chim cắt
được ăn no sẽ cất cánh bay đi, ta ví như con rồng còn nương náu, vẫn chờ đợi để
lo toan”[16]. Phan cũng đã từng dâng sớ điều trần xin cải cách duy tân nước nhà, Phan muốn
yên hàn để tu chỉnh sự kỷ cương đặng một ngày kia phú quốc cường binh. Phan hằng
nói: “Dạy dỗ dân chúng cho khỏi u mê, khuyến khích dân làm lụng cày cấy để thêm
lợi tức khả dĩ mộ thêm binh lính và trả lương hậu cho họ. Như vậy, dân tình đỡ
khổ, lương thảo dồi dào, quân lính cũng được tập luyện tinh nhuệ. Có được như
thế thì công hay thủ cũng đều được cả. Chương trình này có thể áp dụng để chống
với kẻ cường địch, an lòng nhân dân và tránh đại họa được. Liều đánh bây giờ để
hả lòng căm tức, hạ lệnh cho quân sĩ tấn công, chẳng khác xua dê vào miệng cọp”[17]. Tư tưởng của Phan là muốn có sức mạnh đã rồi có thể chiến đấu và chiến thắng,
chứ Phan không biết nghĩ rằng trong chiến đấu sẽ trưởng thành (như chúng ta
ngày nay). Cho nên khi hòa ước được ký kết, Phan Thanh Giản đã ngây thơ tin ở
giặc và nói với Nguyễn Tri Phương rằng: “hòa nghị đã thành có thể ngồi mà hưởng
phú cường”[18]. Phan có ngờ đâu rằng “quân beo sói khó diệt hết mà cũng khó làm thân”[19]. Chính vì kiên trì tư tưởng chủ hòa tai hại ấy, nên hậu họa to lớn trực tiếp
đầu tiên Phan phải chịu tức là cái chết bi thảm. Cái chết của Phan đã chứng tỏ
sự bất lực hoàn toàn đối với lòng tin cậy của triều đình và cũng để tỏ cho nhân
dân rằng mình đã sai lầm và chịu tội trước nhân dân. Tất nhiên, cũng không phải
chỉ riêng vì cái chết này mà chúng ta phải nói ngay rằng Phan Thanh Giản là người
không tham sống sợ chết, thấy giặc thì chạy dài lo bảo toàn thân mình như bọn
Tôn Thọ Tường, Nguyễn Bá Nghi. Trái lại, ở Phan Thanh Giản chúng ta thấy một tấm
lòng ưu ái sâu sắc đối với dân, với nước. Tất nhiên tư tưởng của ông chưa thể
vượt ra khỏi phạm vi trung quân, những hành động phục tùng triều đình phong kiến
của ông đã cho chúng ta thấy quá rõ điều đó. Có thể nói, đối với vua, ông đã phục
tùng một cách mù quáng, chẳng hạn trong bước đường hoạn lộ, thật ông đã lắm
phen trầy trật, lắm lúc oan ức, nhưng vẫn không hề tỏ ra phản ứng chống đối. Cả
cuộc đời của Phan là thể hiện đầy đủ những lời của cha dặn trong một bức thư gửi
cho ông lúc ông nhậm chức Phó Tổng trấn
Quảng Bình:
“Những phương châm xử thế và ăn ở trong gia đình là phải trung với vua, hiếu
với cha mẹ, lo việc công, bỏ việc tư, sống bằng cơm rau nước lã.
Người hiếu tử không bao giờ lấy của phi nghĩa để nuôi cha mẹ. Con phải hết
lòng trị nước an dân. Liêm khiết, trung thực, khôn ngoan, cần kiệm,… ấy là những
đức tính con cần phải có…”[20].
Tìm hiểu cuộc đời
hoạt động của Phan Thanh Giản, chúng ta thấy quả đúng như vậy. Đương nhiên, ở
ông có những điểm cần phê phán như “chủ hòa”, trung quân mù quáng,… nhưng có những
điểm chúng ta cần phải trân trọng. Cuộc đời của ông từ khi thi đậu ra làm quan
cho đến khi chết, đã trải qua nhiều bước thăng trầm, ông đã đảm đương qua nhiều
trọng trách. Lúc nào ông cũng vẫn tâm niệm “vì dân, vì nước”, “ơn vua, lộc nước”.
Cũng có những việc làm của ông đã ngược lại ý muốn tốt lành của ông như chủ hòa
để rồi mất nước và theo sau đó là bao nhiêu tai họa xảy đến, kể cả thảm họa làm
cho ông bi quan thất vọng đến tự tử, nhưng tấm lòng trong trắng không mảy may gợn
đục, vẫn là vì dân, vì nước. Đường lối, chủ trương và biện pháp thực hiện của
ông đã sai lầm nhưng cần thấy rõ động cơ xuất phát của những hành động của ông.
Phan thành thực nhận thấy rằng đường lối chủ hòa là con đường duy nhất đỡ tổn
thất cho nhân dân và ông đã cố đem hết sức mình để làm không từ nan, không trái
mệnh vua. Vua lệnh cho: “An nguy tại thử cử, khẳng tích kinh luân thuật” (An
nguy tại lòng này, kình luân đừng tiếc chước hay làm gì”). Và Phan cũng biết
“thành bại hay không là do ở nước Tây kia” thế nhưng Phan vẫn vui vẻ nhận trách
nhiệm, không quản tuổi già sức yếu, vì ông luôn luôn:
“Lo nỗi nước kia
cơn phiên biến,
Thương bề dân nọ
cuộc giao chinh”[21].
Cho đến năm 1865,
đã 69 tuổi đầu, qua bao phen lao tâm khổ tứ, Phan xin triều đình cho nghỉ việc
quan để yên nghỉ tuổi già. Trong tờ sớ xin về hưu, ông thiết tha rằng:
“Than ôi, nay đã
già nua tuổi tác, thần tự thấy suy kém cả sức lực tinh thần. Thường khi vì sức
cùng lực kiệt, thần bỏ trễ nải cả trọng trách mà thần phải đảm đương. Khi đến cầu
70 thân người ta mảnh dẻ như liễu sậy đã bao lâu chống đỡ với cuồng phong, hay
như con thiên lý mã kiệt lực không thể cố được nữa. Thần không sao tiếp tục làm
việc được nữa, e rằng phạm lỗi làm rối việc quốc gia”[22].
Đã đến lúc con người
đã từng vất vả ngược xuôi hết lòng mẫn cán ấy đã cảm thấy “lão lai, tài tận” rồi
mà triều đình vẫn chưa cho nghỉ thân, vẫn tín nhiệm, vẫn lại giao cho chức vụ
khâm sai giữ ba tỉnh miền Tây để “chuộc lỗi” xưa, mà đến lúc đó Phan vẫn không
từ chối, lại tiếp tục những ngày phụng sự vua trên cho trọn nghĩa! Do tinh thần
“công cán” đó của Phan Thanh Giản nên Nguyễn Đình Chiểu cũng đã phải nói: “Phan
học sĩ hết lòng mưu quốc”[23].
Cứ thế cho đến khi hắt hơi thở cuối cùng với biết bao ngậm ngùi chua xót, ông vẫn
viết trong tờ “Di biểu” dâng vua Tự Đức rằng:
“Nay gặp thời gian
bĩ, việc dữ khởi ở trong cõi, khí xấu hiện ở biên thùy, việc cõi Nam Kỳ một chốc
đến thế này, không thể ngăn nổi, người tôi đáng chết không dám sống cẩu thả để
cái nhục cho quân phụ. Đức Hoàng thượng rộng xét xưa nay, biết rõ trị loạn,
thân kẻ hiền trong nước cùng lòng giúp đỡ, kính cẩn phép trời, thương người
cùng khổ, lo trước tính sau, đổi dây thay bánh, thế lực còn có thể làm được. Thần
tới lúc tắt nghỉ, nghẹn ngào không biết nói sao chỉ gạt nước mắt tỏ lòng quyến
luyến trông mong khôn xiết.”[24].
Đồng thời với việc
tự tử Phan Thanh Giản cũng gửi trả lại triều đình tất cả chiếu chỉ, sắc ban phẩm
tặng để tỏ rằng mình không xứng đáng với ân thưởng ấy nữa! Riêng sự “biểu thị
thái độ” trước cái chết như vậy cũng đã làm cho mọi người cảm cảnh và có thái độ
thể tất nhân tình cho ông phần nào. Huống nữa, ở Phan Thanh Giản còn có nhiều đức
độ đáng kính. Tuy là một quan đại thần, nhưng Phan vẫn sống trong cảnh an bần lạc
đạo và nổi tiếng là một ông quan thanh liêm. Trong một xã hội phong kiến, cái cảnh
tham quan ô lại đục khoét nhân dân cứ là nhan nhản khắp đó đây, mà Phan Thanh
Giản vẫn giữ được đức tính liêm khiết, trung trực, điều đó thật đáng quý. Điều
đó đủ có sức chinh phục rất lớn đối với tình cảm nhân dân, do đó, Phan Thanh Giản
có uy tín và được cảm tình của đông đảo nhân dân. Bọn thực dân Pháp cũng biết
rõ điều đó và muốn lợi dụng Phan - tất nhiên trước hết vì Phan là một người chủ
hòa - chúng không muốn Phan Thanh Giản chết vội. Cho nên khi nghe tin Phan
Thanh Giản uống thuốc độc tự tử, bọn thực dân Pháp đã vội vàng “cử thầy thuốc đến
và xin ông uống thuốc giải độc, nhưng ông kiên quyết không thay đổi ý kiến của
mình và chết sau 48 giờ”[25].
Có thể nói lúc bấy giờ Phan Thanh Giản chọn cái chết là đúng. Tuy rằng cái chết
của ông không phải là cái chết của người chiến sĩ nơi đầu tên mũi đạn trên chiến
trường, hay là cái chết đầy nghĩa phẫn của Hoàng Diệu sau này. Cái chết của ông
chỉ là cái chết tiêu cực. Tuy vậy nó vẫn biểu thị một thái độ thành thật đáng
được tha thứ. Cũng do đó mà làm cho mọi người có ít nhiều suy nghĩ. Người ta
phê phán ông, nhưng người ta cũng rộng lượng đối với ông. Điều đó cắt nghĩa vì
sao trong tình cảm nhân dân Việt Nam có dành cho ông một phần trân trọng.
Phan Thanh Giản đối
với vua trên và đối với bản thân là như vậy, còn đối với bọn làm tay sai cho giặc
thì lại tỏ ra rất dứt khoát. Chẳng hạn như khi Phan Hiểu Đạo bị Tôn Thọ Tường
theo lệnh Pháp dụ dỗ ra làm quan, ngày gặp Phan vào trấn Vĩnh Long, Hiểu Đạo hỏi
ý kiến, Phan đã phê mấy chữ ý nói “làm việc cho Tây như người đàn bà bị mất
trinh tiết”. Phan Hiểu Đạo tự thấy xấu hổ nên đã uống thuốc độc tự tử[26].
Thái độ đó của Phan Thanh Giản cho thấy rằng, ông chẳng những không phải là tay
sai của giặc mà còn là một người biết phân rõ địch ta như thế nào. Nói như vậy,
nghe ra có vẻ mâu thuẫn, bởi ông cũng là người đặt tay ký hàng ước nhường đất
cho giặc. Như trên đã phân tích tư tưởng chủ hòa của ông là với động cơ tránh
binh lửa chết chóc cho nhân dân. Nhưng ông không ngờ hậu họa của hòa ước lại to
lớn như thế, thì đó đã đành là bi kịch cho cuộc đời của ông và ông phải đền tội
bằng cái chết. Tuy vậy, tư tưởng chủ hòa của ông dù là tiêu cực nguy hại như vậy
đấy, song cũng không đốn mạt và bỉ ổi bằng số quan lại chủ tâm đầu hàng Pháp
ngay từ phút đầu, rồi lại ngoan ngoãn làm tay sai trở lại đàn áp giết chóc nhân
dân. Ở ông, tuy cũng có cái khiếp sợ, mất tinh thần, có cái giật mình trước văn
minh tân tiến của Âu châu, nhưng ông vẫn còn “hết lời năn nỉ” để kêu tình đồng
bang mau kịp bước. Những lời năn nỉ, trình bày yêu cầu duy tân của ông “chẳng
ai tin”[27],
thậm chí còn bị coi là “kẻ khéo tâng người mà hạ mình”. Bình sinh Phan Thanh Giản
một mực cố hết sức mình để “cầu hòa”, để “chuộc đất”. Nhưng tất cả đều đã trở
nên vô vọng. Tiếng kêu của ông đến lúc đã trở nên lạc lõng, đáng thương như
chính ông đã tự bộc bạch sau lần làm “Chánh sứ như Tây” (1984):
“Trời thời, đất lợi
lại người hòa
Há để ngồi coi nói
chẳng ra
Làm trả ơn vua đền
nợ nước
Đành cam gánh nặng
ruổi đường xa
Lên ghềnh, xuống
thác, thương con trẻ
Vượt bể trèo non cảm
phận già
Những tưởng một lời
an bốn cõi
Nào hay ba tỉnh lại
chầu ba”.
Tâm trạng buồn khổ
cô đơn đã bắt đầu xâm lấn những ngày xế chiều cuộc sống của một ông quan đại thần
mang nặng ý thức phong kiến! Tâm trạng đó cũng cô đơn bất lực như cái đạo Nho
vào những ngày tàn tạ của nó. Tâm trạng của ông chẳng khác gì tâm trạng Bá Nha
sau khi trở lại thôn Tập Hiền ở Tầm Dương không tìm thấy Tử Kỳ, nên những ngày
trước khi chết, Phan vẫn thường ngâm bài “Toái Cầm”:
“Tử Kỳ đã mất đập
đàn thôi
Non nước kìa ai những
ngậm ngùi
Gió Xuân bốn mặt
chung là bạn
Mà kẻ tri âm chẳng
thấy người”[28].
Tâm trạng Phan
Thanh Giản lúc này thật bế tắc. Một mặt do không làm tròn trách nhiệm của triều
đình giao cho là phải “hòa với giặc”, “chuộc lại’ đất tổ tiên của hoàng triều,
một mặt thì nhân dân càng ngày càng cơ khổ hơn trước sự chiếm đất, giết người,
cướp của của quân thù. Cả nước đang xốc lên một phong trào đánh giặc cứu nước
và nhân dân cũng đã trực tiếp lên án ông. Trên ép xuống, dưới ép lên, ông phải
lấy cái chết để mong “tựu nghĩa” và để rồi thời gian sẽ phân xử cho ông. Ngày
nay có lẽ chúng ta cũng không nên quá khắt khe như thời ông sống, thời mà phong
trào kháng chiến của nhân dân lục tỉnh đang lên cao, đang cần thiết phải nêu
lên khẩu hiệu “Phan, Lâm mại quốc, triều đình khí dân” để tập hợp lực lượng
kháng chiến. Nói một cách công bằng hơn, trách nhiệm của Phan Thanh Giản là gắn
chặt với trách nhiệm của triều đình Huế, chính triều đình phong kiến thối nát ấy
mới là kẻ đầu sỏ bán nước, còn Phan Thanh Giản chỉ là một trong số những người
chủ trương và thi hành đường lối tội lỗi ấy mà thôi. Hơn nữa, trong khi chúng
ta nêu rõ hậu quả của những hành động của Phan, thì cũng không nên quên nhắc nhở
tấm lòng ưu ái của ông đối với dân với nước. Có như thế chúng ta mới hiểu và cắt
nghĩa được mối cảm tình của một số sĩ phu và nhân dân lúc ấy đối với Phan mặc
dù Phan đang tay ký điều ước 1862 và sau lại để cho Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền
Tây Nam Kỳ. Có người sẽ bảo như thế là quá rộng lượng với Phan, là không nhìn
nhận sự sáng suốt của nhân dân trong chủ trương “quyết chiến” không nhìn nhận sự
cần thiết phải nêu lên khẩu hiệu như trên để đẩy mạnh kháng Pháp lúc đó. Đó là
một mặt của vấn đề lịch sử mà chúng ta đã nói tới ở phần trên.
Chúng ta cần trở lại
xét thêm những công trạng và đức tốt của Phan Thanh Giản đối với nhân dân thì mới
thấy rõ hơn vì sao Phan đáng được nhân dân khoan dung và trân trọng. Trước hết
vì Phan Thanh Giản là một người cần cán rất đỗi thương yêu nhân đân. Ngay từ những
ngày đầu mới ra làm quan với triều Minh Mệnh, có lần giữ chức giám thị kỳ thi Hội
ở Huế (1828), nhân có bão lụt trong thành, ông dâng sớ tâu rằng: “mưa to và nạn
thủy tai là những triệu chứng không tốt, hạ thần cúi xin Thánh thượng tự sửa
mình làm điều nhân đức và giảm bớt số cung nữ, phi tần. Như thế là Thánh Hoàng
làm theo ý thiên địa, bách tính sẽ được sung sướng”[29].
Hoặc như năm 1850, khi trấn nhiệm ở miền Tây, nhân dân gặp nạn dịch lệ lan
tràn, ông đã dâng sớ lên vua xin cấp cứu cho qua khỏi tai ách, xin tha bớt hình
ngục, hoãn việc binh thuế và chẩn cấp cho dân. Một lần khác vua định xa giá
kinh lý miền Nam (các tỉnh Quảng Nam, Quàng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) mà trong
lúc đó nhân dân các tỉnh này “đang trong nạn hạn hán, mất mùa, thóc cao gạo
kém, người nghèo chết đói”... “không thể sửa sang đường cái lập nhà công quán
kiếm củi đuốc cỏ rơm cho đoàn quan quân hộ tống được, nên xin hoãn cuộc ngự du
này đến khi mưa thuận gió hòa, mùa màng
tươi tốt, trăm họ ấm no, lúc bấy giờ dân gian sẽ đón tiếp thánh hoàng một cách
nhiệt liệt”[30]. Việc làm đó của Phan Thanh Giản tất
nhiên được nhân dân kính phục, biết ơn và nhớ mãi. Để có lợi cho nước, cho dân,
Phan Thanh Giản đã từng có những đề nghị với nhà vua rất thẳng thắn. Năm 1851,
ông đã cùng với Nguyễn Tri Phương dâng lên vua bản đề nghị tám điều như sau:
“1. Chúa Thượng phải
cẩn trọng trong lúc du hí: không nên dạo chơi ven bờ sông, bơi thuyền hay tắm
hay dự cuộc thi ngựa.
2. Không nên xem kịch
tuồng vì sẽ có ảnh hưởng không tốt đến việc cai trị.
3. Phải tránh xa
những kẻ gian hùng chỉ dựa thế triều đình bắt nạt dân đen trục lợi. Bọn “cửu
long” nghĩa là chín tên cận thần mà bây giờ gọi là bát tiên vì trừ một người chết
còn tám, nên bổ họ vào ngạch võ quan, không nên cho họ tự do vào cung cấm, sợ xảy
ra điều xấu xa chăng.
4. Phải áp dụng những
quy tắc về chính sách xã hội, giảm bớt tiêu pha phung phí, và không nên quá tin
yêu quần thần. Nhà vua cần phải cấm chỉ ngay việc sai các quan đi mua vàng bạc
châu báu, ngà voi để về phân phát cho phi tần cung nữ.
5. Phải giảm bớt số
thái giám và cư xử theo các bậc tiền nhân. Về đời Gia Long, Minh Mạng, thị vệ
chỉ được đến tam tứ phẩm; bây giờ chánh đội thị vệ Trần Kiêm cậy thế quyền
nhũng lạm, sách nhiễu. Cử chỉ ấy sợ rằng người khác bắt chước làm bậy.
6. Phải cẩn thận lựa
chọn bầy tôi, lấy những người thực thà, chính trực, nghĩa khí, loại những người
gian ác, tham lam, đạo đức giả, hiếu danh, cần sự công bình trong việc lựa tuyển;
Nội vụ bộ sẽ tuyển văn quan. Binh bộ sẽ tuyển võ quan.
7. Giảm bớt tạp dịch
cho binh lính để lấy thì giờ luyện võ, điều cần để chiến thắng.
8. Tăng lương cho
các quan lại: như tăng lương đầy đủ, họ không nghĩ đến hối lộ và xử án công bằng
hơn”[31].
Về bản đề nghị
này, Tự Đức đã phải phê rằng: “Hai khanh đều là tôi lương đống của triều đình,
trẫm cũng biết là khanh buộc tội cho trẫm. Nhưng không bao giờ trẫm làm việc nhẹ
dạ. Trẫm tin ở lòng ái quốc của khanh và khanh nên vui lòng theo ý trẫm”[32].
Đến năm 1883, Phan
Thanh Giản lại dâng sớ đề nghị nhà vua sửa đổi chính trị, trong đó có ba khoản
đáng chú ý:
-
Cứu
cấp trẻ nghèo để giảm sự khổ sở của toàn xứ.
-
Sửa
đổi học chính để mở mang bệnh viện.
-
Sửa
sang đường sá cho sự giao thông được thuận tiện, đóng xe bò để vận tải được dễ
dàng[33].
Cũng do vậy mà trước
kia Phan Thanh Giản được Minh Mạng khen là “người ngay thẳng, quả cảm, học lực
rộng và có biệt tài”, sau này lại được Tự Đức ban thưởng chiếc kim khánh có khắc
bốn chữ “liêm bình cần cán”.
Những việc lớn đã
thế, những việc nhỏ sau đây càng tỏ ra rằng Phan là một người rất thương yêu gần
gũi nhân dân. Câu chuyện một vị quan đại thần ở Viện Cơ mật về chịu tang cha vận
quần áo sô gai như một người thường dân đi một mình không có lính hầu, khi đi
qua bến đò Ba Lai (giữa Mỹ Tho - Bến Tre) bị một người lính đồn không biết là đại
thần đã khám xét lục soát và bị cả người cai đồn giữ lại… vẫn không tỏ ra khó
chịu hách dịch gì mà sau lại ban khen tặng thưởng cho họ vì những người đó đã
“làm tròn phận sự”. Cử chỉ ấy của Phan Thanh Giản đã làm cho mọi người mến phục.
Hay là câu chuyện: Một hôm đi tỉnh mộ về, Phan bị một người vác cây tre lòa xòa
đi đằng trước đụng vào người bị thương. Người vác tre quay lại thấy ông cả sợ,
mặt tái xanh như chàm đổ, ông bèn gọi lại và bảo đưa cho ông mượn luôn con dao
rựa, người vác tre càng khiếp đảm lo cho tính mệnh chẳng còn. Nhưng không ông
bèn phát nốt mấy cành lòa xòa ở thân tre và từ tốn nói với người vác tre rằng:
“Bận sau bác phải cẩn thận, kẻo gặp người khác thì không xong đâu”[34].
Những cử chỉ như vậy
của Phan đã được nhân dân khắp miền truyền tụng và nhận ông là một người rất mực
khoan nhân đại độ.
Về việc Phan Thanh
Giản quan tâm đến đời sống nhân dân, chúng ta còn thấy thể hiện khá nhiều ở các
bài thơ trong tập Lương Khê thi thảo.
Như bài “Vọng vũ” (Mong mưa) của Phan làm năm Quảng Nam bị hạn hán kéo dài
(1836):
“Kính tuần thiên bất
vũ
Nhật mộ chỉ vi
lương
Khinh vân từ dục hợp
Đong phong suy cản dương,
Thiên tế tự trung
uất
Thánh thần như phi
sương
Chiêm bỉ cao đê điền
Hà Miêu bán uy
hoàng
Thu lai mễ già
ngang
Huống phục thử
khang hạn
Nông dân thực khả
thương
Nguyệt Tỏa giáng
xuân cao
Cập thời tô trưng
thương”
Dịch nghĩa:
“Suốt hàng tuần trời
không mưa
Ngày muộn chỉ hơi
mát
Mây nhẹ từ từ muốn
họp lại
Bị gió nồm thổi liền
bay tan đi
Khoảng trời cứ
nung nấu bức bối
Sáng sớm như có
sương bay
Trông những thửa
ruộng cao thấp kia
Mạ lúa đã úa vàng
mất nửa
Vụ chiêm này dù có
được mùa
Sang thu này giá gạo
tất cao
Huống lại bị hồi hạn
dữ này
Nông dân thật đáng
thương
Mong trời sớm cho
xuống trận mưa xuân
Để kịp thời cho
dân tỉnh táo lại”.
Trong bài thơ tiễn
đưa Lại bộ thị lang Hoàng Kiện Trai đi nhậm chức bố chánh Gia Định, ông nhắn nhủ:
“Than tức tự lòng
khai hấn họa
Chi kim do vị khởi
sang di
Lư diêm dẫn lĩnh bằng
hà nhuận
Quốc kế dân tình
triệt để ti”.
Dịch nghĩa:
Than thở từ ngày
gây ra thù giận tai vạ,
Ngày nay vẫn chưa
hàn khỏi được những vết đau thương.
Làng xóm nghển cổ
đợi mong nhờ được ân trạch của các quan nhân đức.
Kế nước tình dân
phải lo nghĩ sao cho được mười phân vẹn phân mười.
Ông mong muốn tất
cả những ai có trách nhiệm “trị nước, an dân” hãy hết lòng hết sức giữ đạo công
bằng, lòng liêm khiết, cương trực để cho nước cho dân được nhờ,… Đó cũng chính
là những đức độ cao cả, những tình cảm, tình thương tốt đẹp của Phan Thanh Giản
đã làm cho ông có được vị trí khá trân trọng trong suy nghĩ và tình cảm của mọi
người. Cũng vì thế mà sau khi Phan Thanh Giản chết, ngay trong hàng ngũ sĩ phu
yêu nước đã có những nhận định về ông khá công bằng và rộng lượng, tỏ ra thông
cảm với ông.
Phạm Phú Thứ, người
đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp, trong bài văn tế Phan một mặt nêu rõ
trách nhiệm của Phan trong lịch sử, nhưng mặt khác cũng nói rõ lòng trung nghĩa
của Phan.
“Năm xưa lập hòa ước,
ông đã cam là kẻ có tội để cứu vãn sự nguy cấp của nước nhà. Nay ba tỉnh Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên tình thế nguy ngập giống như tổ chức bị gió mưa lay bạt.
Thế mà ông không đề phòng để quân giặc đánh trộm giống như Điền Quảng nước Tề bị
Hàn Tín đánh úp. Lỗi đó sẽ phải về mình, than tiếc cũng không thể lấy lại được.
Bề tôi giữ bờ cõi
phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông
vẫn tin theo.
Một phong di biểu,
ngỏ hết can trường thật đáng cho người đọc phải khóc. Tiếc thay trong lúc hiểm
nghèo như thế quẻ truân kinh dịch, một người trung tín như ông lại gặp phải cuộc
gian nan ấy. Rồi đây việc biên thùy nhà vua chắc về sau sẽ soi thấu nhưng mà kẻ
tầm thường lại bảo ông làm lỡ nước nhà”[35].
Nhà thơ yêu nước
Nguyễn Đình Chiểu cũng đã có bài thơ điếu nêu rõ lòng trung nghĩa của Phan, đồng
thời cũng vạch rõ trách nhiệm của triều đình Huế:
“Non nước tan tành
bệ ở đâu
Dầu dầu mây bạc
cõi ngao châu
Ba triều công của
vài hàng sớ
Sáu tỉnh cương thường
một gánh thâu
Ải bắc ngày chờ
tin nhạn vắng
Thành Nam đêm chạnh
tiếng quyên sầu
Minh sinh chín chữ
lòng son tạc
Trời đất từ đây bặt
gió thu”[36].
Nguyễn Thông, một
nhà thơ yêu nước khác ở miền Nam “cho việc Phan Thanh Giản tử tiết quan hệ đến
phong giáo” đã tâu xin Tự Đức “ban thưởng” để “khích lệ” người sau. Nhưng Tự Đức
đã cự tuyệt và đã khép (Phan Thanh Giản) vào tội “trảm quyết” (nhưng vì đã chết
nên được miễn) và “lột hết chức tước và đục hết tên trên bản các ông đỗ tiến sĩ…”.
Tự Đức làm như vậy là cốt để đổ tất cả tội lỗi bán nước đầu hàng giặc của triều
đình nhà Nguyễn lên đầu Phan Thanh Giản - người đã chết.
Lời trối trăng của
Phan Thanh Giản với các con trước khi nhắm mắt là “chớ khởi nghĩa mà vô ích”,
“chớ làm quan với triều Nguyễn” cũng như lời Phan Thanh Giản dặn các thân nhân
ghi trên mộ rằng: “Đại Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cửu diệc dĩ thư
chi mộ” (mộ của người học trò già họ Phan ở bờ bể nước Đại Nam) đã phản ánh
đúng đắn tinh thần khiếp nhược và nỗi chán chường bế tắc của ý thức hệ phong kiến
đến ngày suy tàn thảm hại. Nội dung “trung”, “hiếu” của Nho giáo lúc này đã quá
lỗi thời, nó phải được quan niệm lại. Nên chi sau khi Phan Thanh Giản chết, các
con của ông là Phan Tôn, Phan Liêm đã nổi lên cùng với nhân dân anh dũng chống
Pháp, dù trái lại với lời dặn của cha, nhưng như thế mới là chí hiếu. Hai anh
em của họ Phan sau khi thất bại ở Bến Tre lại ra Bắc cùng Nguyễn Tri Phương trấn
giữ Hà Thành tiếp tục chiến đấu và đó cũng chính là có hiếu với cha, trung với
vua và yêu nhân dân đất nước tích cực. Ở đây hai anh em họ Phan đã nhận rõ mối
quan hệ giữa “ái quốc” với “trung quân” và “hiếu tử”. Trung quân chỉ nặng khi
nào có minh quân. Vua có thể là hôn quân, còn lòng ái quốc tức là yêu đất nước
quê hương đồng nội, yêu nước là yêu truyền thống lịch sử lâu đời thì không bao
giờ có thể đổi dời, mà càng ngày càng sâu sắc hơn, nhất là những lúc bị nạn ngoại
xâm đe dọa, bị kẻ địch giày xéo. Yêu nước thì phải bằng mọi cách để bảo vệ đất
nước. Nhân dân ta và hai anh em họ Phan đã hiểu được điều thiết thân đó và đã
hành động khác với cha mình khi xưa. Cho nên có thể nói thêm rằng, chính hai
con của Phan đã góp phần chuộc lỗi lầm cho cha.
Trên đây, chúng
tôi đã cố gắng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa trách nhiệm to lớn của Phan Thanh
Giản với trách nhiệm triều đình Huế của giai cấp phong kiến, đồng thời nói thêm
về thân thế sự nghiệp của Phan, cũng như tìm hiểu thêm về cái chết của Phan và
thái độ các tầng lớp nhân dân đối với Phan Thanh Giản, mong các nhà nghiên cứu
và các bạn đọc xa gần thành thật chỉ giáo cho.
Hà Nội, ngày 31-12-1962
Lịch sử Việt Nam từ
giữa thế kỷ XIX trở đi đã chuyển sang một bước ngoặt quan trọng. Nhân dân ta vừa
phải chịu ách thống trị nặng nề của giai cấp phong kiến trong nước đã cực kỳ thối
nát, vừa phải đương đầu với một thế lực ngoại xâm hung hãn hòng gấp rút thôn
tính nước ta. Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn đại diện cho nhà nước phong
kiến không có một chính sách đối nội, đối ngoại nào gọi là tương đối có hiểu biết
khả dĩ cùng nhân dân chống chọi với thực dân xâm lược. Ngược lại, với đường lối
chủ hòa đi đến đầu hàng giặc, triều đình đã để cho bọn Pháp lấn dần từng bước để
cho chúng chiếm ba tỉnh miền Đông rồi liên tiếp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ
gây cho nhân dân ta biết bao thảm họa. Cùng với triều đình nhà Nguyễn, Phan
Thanh Giản - một đại thần có trách nhiệm quan trọng ở Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó -
người đã cầm bút ký điều ước nhường đất cho giặc phải chịu liên đới trách nhiệm
như thế nào trước lịch sử, trước nhân dân và Tổ quốc? Cái chết của Phan Thanh
Giản cũng như toàn bộ con người của ông còn những vấn đề gì đáng nói? Đó là những
sự thực lịch sử khá phức tạp. Viết bài này chúng tôi không có tham vọng làm
sáng tỏ được toàn bộ những vấn đề phức tạp ấy, mà chỉ hy vọng trong khả năng hiểu
biết có hạn của mình góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu đánh giá Phan Thanh Giản
của giới sử học nước nhà hiện nay do Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử của Viện Sử học đề ra từ đầu năm.
Phan Thanh Giản tự là Tịnh Hà, lại có tự là Đạm
Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh năm 1796 tại làng Tân
Thanh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Bảo Thạnh, quận
Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Cha ông là Phan Thanh Ngạn trước kia có làm một viên chức
nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long nhưng vì tính cương trực và thanh liêm nên cuộc sống thanh
bạch. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản bị hạn chế nhiều,
nhưng do chỗ ông là người thông minh hiếu học, nên đến năm 29 tuổi (1825) ông thi
đậu Cử nhân tại Gia Định và sang năm sau (1826) thi hội ở kinh đô, ông đậu ngay
Tiến sĩ và cũng là ông Nghè nho học đầu triên của Nam Kỳ. Từ cuộc đời đèn sách
cử nghiệp bước sang cuộc đời hoạn lộ, Phan Thanh Giản bắt đầu được triều đình
Minh Mạng lần lượt phong chức Hàn lâm viện
biên tu làm Tri phủ ở Quảng Bình (1827), Lang trung bộ Hình (1827), Tham
biện tỉnh Quảng Bình (1828), Quyền
nhiếp Tham hiệp Nghệ An (1829), Lễ bộ
tả thị lang và được bổ vào Nội các (1830) rồi Hiệp trấn Quảng Nam (1831)… nhưng không phải là mỗi năm thăng một
trật mà thực ra cuộc đời làm quan của ông cũng có nhiều lúc thật long đong. Từ
địa vị là quan Hiệp trấn, ông bị
giáng xuống làm Tiền quân hiệu lực vì
thất bại trong vụ dẹp loạn Cao Giồng, Quảng Nam. Nhưng rồi lại được phục chức,
thăng chức, được cử đi công cán ở Sing-ga-po (Singapore) làm Phó sứ đi Trung Quốc, rồi lại bổ làm Tuần vũ Quảng Nam, nhưng bị tên nịnh thần
Võ Duy Tân vu cáo cho là mưu khởi loạn, ông lại bị vua giáng xuống chức “lục phẩm”,
đồng thời bị phái đi coi việc khai mỏ vàng ở Quảng Nam, sau đó lại bị sai ra tận
Thái Nguyên coi việc khai mỏ bạc. Đó là thời kỳ “công cán” của ông dưới triều
Minh Mạng. Minh Mạng chết ông lại công cán dưới thời Thiệu Trị, làm chức Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên, Phó đô ngự sử của Đô sát viện, giảng dạy
và điều khiển “trường Kinh Niên”, về sau lại làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ lịch sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Dưới triều vua Tự Đức, Phan
Thanh Giản được bổ làm chức Thượng thư bộ
Lại sung Cơ mật viện Đại thần (1848). Từ đây, chức quyền của ông cũng to lớn
và quan trọng như những việc làm to lớn và quan trọng của ông. Năm 1850, ông
cùng với Võ hiển Nguyễn Tri Phương
vào trấn nhiệm miền Tây. Sau đó lại làm Phó
sứ kinh lược Nam Kỳ kiêm Tuần phủ Gia
Định coi các tỉnh Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Hòa, ông cùng với Chánh sứ kinh lược Nguyễn Tri Phương
chiêu dân lập ấp, khai phá rừng rậm, cày cấy làm ăn và lập đồn lũy ngăn chống
giặc dã. Đến lúc quân Pháp gây hấn (1858), Ri-gôn đờ Giơ-nui-y (Rigault De
Genouilly) và Mông-ti-nhi (Montigni) bắt đầu đem chiến thuyền vào cửa Đà Nẵng rồi
đánh lấy Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Phan Thanh Giản lại được vua cử vào Quảng
Nam, Đà Nẵng vỗ về dân chúng trong lúc Nguyễn Tri Phương phải giữ mặt trận Gia
Định. Tiếp đến ông lại cùng Lâm Duy Hiệp làm Chánh phó sứ toàn quyền đại thần vào Nam thương thuyết rồi ký Hòa ước 5/6/1862 với Bô-na (Bonard) và
Pa-lăng-ca (Palanca) gồm 12 điều khoản, trong đó có khoản 3 phải cắt 3 tỉnh miền
Đông cho Pháp và khoản 8 phải bồi thường 4.000.000đ trong 10 năm. Sang năm
1863, ông lại được vua cử làm Chánh sứ
cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản và một đoàn tùy tùng
sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Cũng từ chuyến đi này, ông được
thấy tận mắt nền văn minh tiến bộ của Tây phương, lại cộng thêm với tư tưởng chủ
hòa cố hữu của ông đã làm cho ông thêm tiêu cực, nên sau khi bị thất bại trong
việc “chuộc đất” trở về, trước sự lấn dần bằng vũ lực của bọn thực dân xâm lược,
ông đã thuận để cho giặc Pháp chiếm luôn cả ba tỉnh miền Tây (1867), rồi soạn tất
cả 23 chiếu chỉ của triều đình ban tặng cho từ trước đến nay gửi trả lại triều
đình, đồng thời nhịn đói và uống thuốc độc tự tử.
Cái chết của Phan
Thanh Giản kết thúc tấn bi kịch cuộc đời hoạt động chính trị và ngoại giao của
ông, nhưng cái chết của Phan Thanh Giản cũng để lại cho lịch sử những nghị luận
phân vân bất nhất giữa người đương thời cũng như ở cả trong chúng ta ngày nay nữa.
Làm thế nào để đi đến một ý kiến nhất trí về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản?
Cũng như đánh giá bất cứ một nhân vật lịch sử nào, chúng ta đều phải đặt nhân vật
ấy trong hoàn cảnh nhân vật ấy sống và hoạt động. Đối với Phan Thanh Giản, mang
trên người trách nhiệm là “toàn quyền đại
thần” là “chánh sứ như Tây”, là
người thay mặt triều đình ký hàng ước với Pháp và trao trọn sáu tỉnh Nam Kỳ cho
giặc. Trách nhiệm của Phan tất nhiên là rất to lớn; nhưng chúng ta không thể chỉ
nhìn thấy trách nhiệm của Phan mà không thấy trách nhiệm chủ yếu lại là của
giai cấp phong kiến, chúng ta cũng không thể chỉ đơn thuần căn cứ vào hành động
của Phan mà không xét đến động cơ xuất phát của những hành động ấy và chúng ta
cũng không thể bỏ qua những mặt khác trong toàn bộ cuộc đời của Phan Thanh Giản.
Có như thế chúng ta mới cắt nghĩa được một cách tương đối chính xác. Nhưng vì
sao đối với Phan Thanh Giản còn có những nhận định khác nhau, đó phải chăng là
vì mỗi người dựa vào một vài khía cạnh đáng trách hoặc đáng khen ở Phan Thanh
Giản? Đó cũng chính là đầu mối của những sự bất nhất trong khi nhận định về
Phan Thanh Giản.
Để đi đến một nhận
định đúng đắn về con người Phan Thanh Giản, chúng ta phải gạt ra ngoài những luận
điểm của bọn thực dân và bè lũ tay sai bán nước, như ý kiến của tên Sa-ten
(Chatel): “Khi mà một ý nghĩ về sự hợp tác Pháp - Nam hình như có vẻ quái đản… thì
nhà ái quốc An Nam này - rất trung thành với đất nước của ông, nhưng sáng suốt
về tương lai một cách lạ lùng - đã nhận thấy khả năng tồn tại sau này của nó và
đặt những viên đá đầu tiên cho lâu đài ấy”[1].
Hắn cho Phan là người sáng suốt bậc nhất, biết suy nghĩ tốt nhất về cuộc sống hạnh
phúc của nhân dân, về sự phồn vinh của đất nước khi có một người bạn Pháp bên cạnh
khai hóa cho, bảo hộ cho. Sa-ten nói thêm rằng “Phan Thanh Giản biết hướng lòng
yêu nước của ông theo biến cố của thời đại. Ông ta đủ thông minh để hiểu thế lực
của người Pháp mà ông đã có liên hệ với họ trong những ngày ở Nam Kỳ, ông ta đã
biết nước Pháp tiến bộ và giàu có khi ông đi thăm. Ông ta hiểu rằng quân đội của
nước ông không thể chống lại được với quân đội của nước Pháp và do đó phải
tránh làm đổ máu vô ích của người An Nam. Phan Thanh Giản cũng là người đầu
tiên cổ võ cho sự hợp tác Pháp - Nam, một khẩu hiệu phong phú đã dùng làm cơ sở
cho nền chính trị tự do của nước Pháp”[2].
Những ý kiến trên
đây của Sa-ten chỉ nhằm một mục đích chính trị thâm độc cốt xoa dịu tinh thần đấu
tranh chống Pháp của nhân dân ta lúc bấy giờ, nhằm vào đường lối “chủ hòa” “đầu
hàng” của triều đình Huế mà Phan phục vụ để khuếch trương nó lên, để biện minh
cho chủ nghĩa “Pháp - Việt đề huề” của chúng. Không lạ gì cái mà bọn thực dân
cáo già đề cao lại chính là chỗ yếu nhất của Phan Thanh Giản, như là sự “hợp
tác Pháp - Nam”, “hiểu thế lực của người Pháp”,… Điều đó thiết tưởng khỏi phải
bàn thêm, chúng ta cũng rõ miệng lưỡi gian xảo của bọn chúng rồi.
Một số người khác
- đa số là những người trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 - khi viết về thân thế
sự nghiệp của Phan Thanh Giản đã coi ông là “một vị anh hùng đã hy sinh tâm hồn
và thể xác cho nước Việt Nam” là “biểu tượng của lòng ái quốc thức thời…”[3].
Trước cái chết mang nhiều tính chất bi kịch của Phan Thanh Giản đã được họ coi
là cái chết của một người am hiểu thời thế, sáng suốt trông cục diện nước nhà
trong khi người Việt Nam từ vua chí dân đang trong cơn ngu muội. Vì ông là người
được giao thiệp luôn với người Pháp ở Nam Kỳ, chung đụng với dân Pháp trong thời
kỳ đi sứ, mắt thu được nhiều cái đẹp, cái hay của văn minh tân tiến và hiểu thế
nào là sức mạnh của bên địch, nên ông biết không đương đầu được với kẻ thù nếu
không mở mang dân trí, huấn luyện lại binh lính, sửa đổi lại quân nhu. Ông muốn
tránh cho nước nhà cảnh sông máu, núi thây trong khi chờ đợi thời cơ mới: “Ông
cố tránh cho dân Việt khỏi nhỏ máu một cách phí phạm, hy sinh một cách điên cuồng
vô ích tấm thân đáng lẽ ích lợi cho quốc gia. Ông cố nâng cao trình độ dân trí
nước nhà, khuyên vua nên vỗ về dân, khuyên dân nên tận tụy làm việc, ngõ hầu nước
Việt Nam mới tiềm tàng được sức mạnh đương đầu với những cơn phong ba chìm nổi.
Song, khốn thay giữa cái xã hội cổ hủ, lời hô hào của ông cũng như của Nguyễn
Trường Tộ chẳng có tiếng vang. Ông đành cam lòng làm hết bổn phận của mình rồi
lấy cái chết để đền nợ nước”[4].
Viết những lời nhận định này, các ông Tam Thanh và Hoành Hải có thể đã nhìn thấy
phần nào động cơ và thiện ý của Phan Thanh Giản, nhưng nói như thế chỉ là mới
nói được một mặt. Các ông đã không nhìn thấy mặt hậu quả tai hại của “những
hành động đầy thiện ý” ấy của Phan Thanh Giản. Các ông đã không nhìn thấy mặt
trách nhiệm to lớn như thế nào của Phan Thanh Giản trong việc cắt đất nhường
cho Pháp.
Chúng ta đều biết
rằng Phan Thanh Giản là một quan lại cao cấp của triều đình nhà Nguyễn, ông xuất
thân là một người nho học uyên thâm, lại sống trong giai đoạn chế độ phong kiến
nước ta đã lụn bại đến cực độ, cả giai cấp phong kiến đã mất hết sinh khí, nó
cũng tỏ ra khiếp nhược hơn trước sự bành trướng thế lực của chủ nghĩa tư bản nước
ngoài. Trên con đường phát triển mở rộng thị trường, chủ nghĩa tư bản thực dân
đã từng diễu võ dương oai, chúng không những tỏ ra có ưu thế tuyệt đối về vũ
khí và chiến thuật mà còn có những âm mưu thủ đoạn vô cùng thâm độc ngoài sự ngờ
vực và hiểu biết của triều đình phong kiến ngu dốt và thủ cựu như triều đình
phong kiến nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Phan Thanh Giản đã suốt “ba triều công cán”,
tức là với cả Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách,
đã hết lòng, hết sức phục vụ “vua trên”, lại được tận mắt trông thấy những cái
“văn minh”, “tân tiến”, “sức mạnh phi thường” của bọn Pháp, vốn sẵn bản thân đã
mang nặng tư tưởng “từ bi”, “bác ái” của cái Nho giáo lỗi thời từ chỗ mang tư
tưởng “chủ hòa một các tiêu cực” đi đến
tư tưởng “thất bại chủ nghĩa”, tiến hơn một bước nữa là đi đến tư tưởng “đầu
hàng chủ nghĩa”. Trong ý thức hệ của Phan, nhìn lên trên thấy khó trông mong được
ở triều đình một cái gì “khả thủ”, nhưng lại không biết đến nguồn sức mạnh chiến
đấu vô tận ở nhân dân. Phan, trước sức uy hiếp của giặc đã đang tay ký “Bản hòa
ước 1862” với giặc. Quê cha đất tổ bị bày quỷ dữ giày xéo? Phan Thanh Giản bị
nhân dân cả nước lên án và phản đối mọi hành động chủ hòa của triều đình và của
chính ông:
“Bớ các quan ơi!
Chờ thấy chín
trùng hòa nghị mà tấm lòng dịch khái nỡ phôi pha,
Đừng rằng ba tỉnh
giao hòa mà cái việc cừu thù đành bỏ dở”[5]
Nhân dân đã tỏ
thái độ của mình với các quan như vậy mà ông vẫn chưa tỉnh ngộ, không biết đứng
về phía nhân dân và các sĩ phu yêu nước khác tổ chức kháng Pháp, vẫn cứ đi sâu
vào con đường chủ hòa, cầu hòa, xin chuộc đất đã đánh dấu thêm một bước thất bại
của đường lối đầu hàng, “xin xỏ” của triều đình Huế. Từ ngày đi Pháp xin chuộc
đất về, Phan Thanh Giản lại càng bi quan tiêu cực hơn, ông đã thở dài:
“Từ ngày đi sứ đến
Tây kinh
Thấy việc Âu châu
phải giật mình!”[6]
Ông khiếp sợ và mất
tin tưởng đến nỗi cảm khái:
“Trăm món khéo bằng
tay thợ tạo
Duy còn sống chết
chịu thua trời”[7].
Thế rồi Phan Thanh
Giản không chịu lo chuẩn bị đề phòng chống Pháp mà để cho giặc lấn dần, để đến
nỗi trong bốn ngày từ 21-6 đến 25-6-1867, chúng lấy luôn cả ba tỉnh miền Tây.
Sáu tỉnh Nam Kỳ nằm gọn trong tay Pháp. Những cố gắng mong muốn chuộc đất cầu
hòa để đền đáp ơn vua nợ nước… Cuối cùng ông đã phải trả giá bằng chén thuốc độc
kết thúc cuộc đời!
Cái chết bi đát của
Phan Thanh Giản quả có làm xúc động lòng người, nhưng chúng ta không thể vì cái
chết ấy mà coi nhẹ trách nhiệm của Phan được. Trước đây đã từng có người muốn
phủ nhận phần trách nhiệm của Phan trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kỳ, họ cho rằng
trước tình hình lúc bấy giờ Phan Thanh Giản không thể nào làm khác. Thậm chí họ
còn cho những hành động của Phan là sáng suốt, là “thông quán thức thời, nhưng
gặp phải vận nước đến hồi mờ mịt, lòng người đang lúc đảo điên, nên không muốn
hy sinh vô ích đám ba quân và chẳng nỡ để lụy cho dân”[8].
Điều đó hoàn toàn không đúng. Khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta thì chế độ
phong kiến đã suy yếu đến cực độ, hoàn cảnh lúc bấy giờ có nhiều khó khăn,
nhưng con đường đúng đắn duy nhất để bảo vệ quê hương Tổ quốc là phải chiến đấu,
có chiến đấu thì mới bảo toàn được nền độc lập của nước nhà. Nhưng triều đình
nhà Nguyễn và đa số đình thần trong đó có Phan Thanh Giản lại chủ hòa!
Chúng ta hãy cùng
nhau ôn lại giai đoạn lịch sử ấy để thấy rõ trách nhiệm của bọn vua quan nhà
Nguyễn và thấy rõ con đường của những người dân chân chính đã chọn, để thấy rõ
ai là người sáng suốt - nhân dân và sĩ phu kháng chiến sáng suốt hay triều đình
Huế và phái chủ hòa Phan Thanh Giản sáng suốt. Từ tháng 9 năm 1858, khi mới đổ
bộ lên Đà Nẵng, thực dân Pháp đã có âm mưu đánh ra Huế bắt chính quyền trung
ương của nhà nước phong kiến đầu hàng, nhưng chúng bị dân quân ta chặn lại ở Đà
Nẵng, sau phải đánh vào Nam Kỳ lấy Gia Định trước đã rồi đánh chiếm lan ra. Lúc
đó nếu một triều đình biết tự trọng còn giữ được truyền thống chống xâm lăng của
dân tộc, biết dựa vào nhân dân lúc nguy nan thì đã có một đường lối mạnh bạo
kiên quyết chống giặc giữ nước như đời Lê, đời Trần. Trái lại, triều đình nhà
Nguyễn đã không tin vào dân, rồi đánh cũng không dám đánh, kẻ chủ hòa, người chủ
chiến, thái độ thì hèn nhát, địch tình thì lờ mờ,… Cuối cùng ý kiến của Viện Cơ
mật lại là “thủ để hòa”, chỉ đào hào đắp lũy để cố thủ và hy vọng “trì cửu” cho
quân Pháp mỏi mệt mà phải rút! Thậm chí, có đình thần còn nghĩ rằng: “Họ ở xa
ta, nên không thôn tính được ta”, “Vì ta lạnh nhạt nên họ mới đánh ta” (!), thực
chất đây là một chủ trương đầu hàng dần từng bước đến đầu hàng vô điều kiện.
Cho nên trước sự hèn nhát của triều đình như thế, một số sĩ phu phong kiến nhất
định không nghe theo. Họ đã cùng nhân dân đứng lên kháng Pháp và đã gây cho địch
nhiều tổn thất quan trọng, đã làm cho bọn đầu sỏ thực dân và đám quan quân của
chúng lắm lúc thoái chí nản lòng. Tên tướng Pháp chỉ huy là Ri-gôn đơ Giơ-nui-y
trong tờ trình về bên Pháp triều đã công nhận: “Người ta - (đây là tên gián điệp
Pen-tơ-ranh) báo cáo rằng quân đội (Việt) không có gì, sự thực thì quân đội
chính quy rất đông, còn dân quân thì gồm tất cả những người mà không đau ốm và
không tàn tật…”[9].
Tinh thần kháng chiến của nhân dân còn thể hiện ở chỗ họ đã hăng hái thực hiện
chính sách “vườn không nhà trống” tích cực góp lương tiền, còn ra sức đắp kè, lập
cản trên các sông Bến Nghé, Đồng Nai, Bảo Định để ngăn tàu địch. Nhân dân đã tổ
chức thành những đám nghĩa quân đông tới năm, sáu ngàn dưới quyền chỉ huy của
Trần Thiện Chính, Lê Huy để giúp quân triều đình đánh giặc. Từ sau khi Gia Định
thất thủ cho mãi đến sau này nữa, nhân dân liên tục tham gia các tổ chức nghĩa
quân đánh nhau với giặc không mệt mỏi. Trước nạn nước, lòng dân thật là bồng bột,
nhạy như thuốc súng khô, họ đã tự động tìm giặc để đánh, làm cho chúng mất ăn,
mất ngủ. Còn như quân triều đình thì chờ chờ, đợi đợi, chậm chạp như rùa, án
binh bất động, giặc đến nơi mới chống, chống yếu ớt rồi rút lui. Lực lượng
kháng chiến của nhân dân đã làm cho địch phải gờm. Một sử gia thực dân cũng phải
công nhận tình hình gay go của chúng trước lực lượng của nghĩa quân và trước
chiến thuật du kích của họ: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam không có ảnh
hưởng tí nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng. Họ xuất
hiện bất kỳ, họ đông đảo, họ đánh phá, rồi họ lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến
tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này”[10].
Thế mà triều đình vẫn không đếm xỉa đến! Tinh thần chiến đấu của nhân dân cao
như thế mà triều đình vẫn cứ khư khư giữ lấy đường lối “chủ hòa” phản động rồi
cắt đất - phần lớn trong vùng có nghĩa quân nộp cho Pháp, ra lệnh giải tán
nghĩa quân, phong chức cho thủ lĩnh để chia rẽ họ với một số nghĩa quân. Nghĩa
quân không nghe theo thì năm lần bảy lượt đưa thư dụ hàng. Thậm chí ngăn trở việc
tiếp tế của nghĩa quân! Nhân dân ta đã trả lời hành vi nhục nhã ấy bằng cách
suy tôn Trương Định lên làm Bình Tây đại
nguyên soái và giương cao ngọn cờ “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân” tập
hợp thêm lực lượng chống Pháp. Do đó, chúng ta thấy rằng trách nhiệm “mại quốc”
và “khí dân” mà nhân dân ta lúc bấy giờ cần thiết phải đề lên như vậy chính là
trách nhiệm chung của giai cấp phong kiến, của triều đình nhà Nguyễn thối nát,
mà Phan Thanh Giản là một người trong đó, người trực tiếp thực hiện chủ trương
chính sách phản động của triều đình. Ở đây chúng ta cũng cần biết rõ rằng: “triều
đình bỏ dân” chứ nhân dân ta lúc đó không bỏ triều đình. Những hành động tích cực
ủng hộ quân đội triều đình, những tổ chức nghĩa quân đứng bên cạnh quân đội triều
đình chống Pháp đã chứng tỏ nhân dân ta rất sáng suốt. Mặt khác, chúng ta cũng
phải thấy rằng, mâu thuẫn giai cấp trong nước giữa đông đảo nông dân với với thế
lực phong kiến trong nước vốn đã từng âm ỷ bấy lâu, đã nhiều phen nổ ra mãnh liệt
(khởi nghĩa nông dân) nó càng trở nên quyết liệt, gay gắt hơn dưới triều Minh Mệnh
và đầu triều Tự Đức tưởng như không có cơ cứu vãn. Thế mà, khi tiếng súng xâm
lược của thực dân Pháp vừa nổ, thì nhân dân ta đã sẵn sàng gác mối thù giai cấp
đó lại để đứng bên cạnh triều đình chống xâm lược đặng bảo toàn nền độc lập của
nước nhà. Nhưng triều đình Huế đã ngu xuẩn không biết được điều đó, đã đi ngược
lại nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân, đối với thực dân Pháp đã đi từ nhượng
bộ này, tới nhượng bộ khác và cuối cùng là dâng đất nước ta cho giặc. Điều đó
đã làm cho nhân dân ta công phẫn hô to khẩu hiệu “Phan Lâm mại quốc, triều đình
khí dân”. Tội lỗi đó triều đình và Phan Thanh Giản phải chịu lấy! Lịch sử vốn
không tư tình với một ai. Lịch sử cũng vốn không khe khắt với riêng ai, nhưng lịch
sử cũng không bao giờ tha thứ hoặc dễ dãi với bất cứ một ai đi ngược lại quy luật
của nó. Lịch sử đã là kẻ chứng kiến những hành động phản bội đất nước của triều
đình nhà Nguyễn và của Phan Thanh Giản. Trong lúc triều đình và Phan Thanh Giản
ngập sâu vào con đường chủ hòa, thì sĩ phu yêu nước và nhân dân ta đã bằng mọi
hình thức tham gia vào cuộc kháng chiến anh dũng. Ngay cả những sĩ phu không có
điều kiện trực tiếp xông ra trận tiền trực diện giao tranh với giặc, đã viết những
bài hịch, những vần thơ động viên nhân dân chống Pháp, lên án lũ vua quan hèn
nhát đầu hàng chỉ bảo toàn tính mạng và địa vị ăn trên ngồi trốc của mình, lên
án bọn người có trách nhiệm là “phụ mẫu” của dân giờ đây đã không biết đến tình
cảnh điêu linh và tâm trạng khổ nhục của nhân dân Nam Kỳ phút chốc đã trở thành
dân mất nước!
Cũng là một sĩ
phu, xuất thân nho học như Phan Thanh Giản, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã viết những
bài hịch bừng bừng khí phách chiến đấu, hoặc những bài thơ vừa đau xót vừa căm
giận khi nhìn thấy quê hương đất tổ rơi vào tay giặc:
“Hoa cỏ ngùi ngùi
ngóng gió đông.
Chúa Xuân đâu hỡi
có hay không
Mây giăng ải Bắc
trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt
tiếng hồng
Bờ cõi xưa đà chia
đất khác
Nắng sương nay há
đội trời chung?
Chừng nào thánh đế
ân soi thấu
Một trận mưa nhuần
rửa núi sông”[11].
Cũng khác với nhà
nho chủ hòa nguy hại, Phan Thanh Giản, cử nhân Phan Văn Trị đã nói lên lời oán
hận, oán hận ngay đối với ông Nghè đại thần rằng:
“Tan nhà căm nỗi
cơn ly hận
Cắt đất thương
thay cuộc giảng hòa
Gió bụi đòi cơn
xiêu ngã cỏ
Ngậm ngùi hết nói nỗi quan ta”[12].
Ở một số sĩ phu khác, thái độ có phần quyết liệt hơn. Phan Huân ở Hà Tĩnh
được tin hòa ước đã ký, vội vàng dâng sớ đòi giết Phan Thanh Giản, đuổi Trương
Đăng Quế về nhà và trực tiếp lên án chính sách chuyên chế của Tự Đức. Hơn nữa,
việc nước nhà bị xâm lăng và chia cắt đã gieo trong các giới sĩ phu một lòng bất
mãn đối với triều đình mà họ cho là đã quá bất lực. Vì thế đã dẫn dến một sự kiện
chưa từng thấy trong lịch sử là các sĩ tử thi hương ở các trường thi Thừa
Thiên, Nghệ An, Nam Định và Hà Nội biểu tình phản đối ký Hòa ước 1862, đến nỗi triều đình phải cho quan quân đến đàn áp mới
yên được. Ngay ở kinh đô, trong hàng quan lại và đến cả người trong hoàng phái
cũng ra mặt phản kháng và muốn lật đổ Tự Đức để lập một vua khác, đặng chống
ngoại xâm đắc lực hơn. Đó tức là cuộc mưu nổi dậy của công tử Hồng Tập cùng với
phò mã Trương Văn Chất định lật đổ triều đình và giết đại thần Phan Thanh Giản
và Trần Tiễn Thành năm 1864[13] và cũng ở ngay kinh đô đầu não của chính quyền phong kiến đã từng nổi lên
cuộc khởi nghĩa của binh lính và thợ thuyền do Đoàn Trưng, Đoàn Trực lãnh đạo năm
1866 để chống lại triều đình Huế hủ bại không biết lo việc nước mà lại chỉ lo
xây lăng miếu, mồ mả tốn kém công sức của cải của nhân dân.
Tất cả những lời nói, việc làm ấy của sĩ phu, của nghĩa quân đã tố cáo một
cách đanh thép rằng: Triều đình Huế là tội phạm chính của việc để mất đất nước,
bỏ dân, bỏ nước để chỉ lo khư khư giữ lấy ngai vàng đã mọt ruỗng và quyền lợi bẩn
thỉu của chúng. Cho nên những tiếng “mại quốc”, “khí dân” chúng phải chịu lấy.
Không riêng chỉ tiếng nói bằng thơ văn có sức mạnh tố cáo của các sĩ phu, nhân
dân ta vừa đánh giặc nhưng lại cũng vừa sáng tác những bài thơ, bài hịch có sức
mạnh tố cáo, vạch rõ trách nhiệm của triều đình phản động, như bài “Hịch đánh
Tây” của Lãnh Cồ đã được phổ biến rộng rãi, có những câu như:
“Cơ đồ tan nát, cũng vì triều đình nhu nhược tham sinh nên đã đầu hàng, để
cho quân giặc tung hoành, thừa thế ra tay tàn sát”.
Rõ ràng là từ những ngày đầu, trong
cuộc sống nạn nhân của đường lối chủ hòa, đầu hàng, nhân dân ta đã thấy được tội
lỗi của triều đình Huế, cái tội lỗi đầu hàng bán nước mà lịch sử càng ngày càng
chứng minh. Ở đây chúng ta cũng thấy rằng dư luận công chính bao giờ cũng buộc
tội triều đình, hoặc khi nói đến người có trách nhiệm trực tiếp ký hàng ước với
giặc là Phan Thanh Giản thì đều gắn với đường lối chủ hòa đầu hàng của triều
đình Huế. Tư tưởng chủ hòa tiêu cực của Phan Thanh Giản tất nhiên là sai lầm,
nó càng sai lầm hơn khi ông không chịu nghe theo tiếng nói chủ chiến của đông đảo
nhân dân, mà chỉ khư khư giữ mãi chủ trương phản động ấy. Mặc dầu có rất nhiều
trường hợp, sự thực đã chứng minh hùng hồn rằng “chủ chiến là chiến thắng”, nhất
là những cơ hội rất thuận lợi cho việc lấy lại đất nước, như lúc bên địch gặp
phải nhiều khó khăn, đang bối rối ở ngay chính quốc, ở chiến cuộc với Ý hay
đang bị mắc kẹt ở vùng Hoa - Bắc. Ngay lúc ấy ở Việt Nam do sức kháng chiến mạnh
mẽ của quân dân ta tên đề đốc Ri-gôn đơ Giơ-nui-y đang khốn đốn, phải tự điện về
Pháp xin viện binh và được bộ Tư lệnh Pháp trả lời là: “Hồi này nước nhà không
có thể nào tiếp tế cho tướng quân thêm một tên lính hay một chiếc tầu cũng vậy.
Thôi tốt hơn hết là tướng quân liệu bề thương thuyết điều đình với chính phủ nước
Nam cho xong, nếu họ cam đoan từ nay trở đi không ngược đãi tín đồ Thiên Chúa
giáo thì chúng ta chỉ có việc trả lại thành trì cho họ rồi rút binh về là hơn”[14]. Khi bức thư này qua tay đề đốc Giơ-nui-y tháng 6/1859 thì tình hình quân
Pháp ở Việt Nam đang gặp bước hiểm nghèo đặc biệt. Tại Cửa Hàn mới có bệnh dịch
lệ phát ra, mỗi ngày giết hại hàng chục người mà công cuộc tiếp tế lương thực rất
là gian nan, thành ra toán quân còn lại ở cửa Hàn bấy lâu thiếu thốn cả thuốc
men, rượu thịt, quần áo, đến tiền bạc, súng đạn cũng hao hụt nhiều. Thế mà triều
đình và phái chủ hòa cứ để mặc, không có một hành động quyết liệt nào, vẫn cứ
chờ đợi cho họ mỏi hơi, mệt xác, rồi tự nhiên phải bỏ đi là xong. Thật là tai hại
đáng muôn đời nguyền rủa cho chính sách đầu hàng của Tự Đức và cũng thật đáng
thương thay cho những đại thần thiếu minh mẫn như Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp.
Riêng về phần Phan Thanh Giản, ông phải chịu lấy một phần trách nhiệm to lớn
trong chính sách ấy.
Phần trên chúng tôi đã nói về trách nhiệm của Phan Thanh Giản gắn liền với
trách nhiệm của triều đình Huế trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kỳ. Nhưng chúng
ta còn phải xét thêm cá nhân Phan Thanh Giản và động cơ của những hành động của
ông như thế nào nữa để đi đến một nhận định toàn diện hơn về Phan Thanh Giản.
Quan niệm cho rằng Phan Thanh Giản là một người “bán nước”- chữ “bán nước” hiểu
theo nghĩa thông thường có hoàn toàn đúng không? Chúng tôi nghĩ rằng cái khẩu
hiệu “Phan - Lâm mại quốc, triều đình khí dân” viết trên lá cờ của nghĩa quân
Trương Định, nghĩa chữ “mại quốc” này không giống nghĩa thật chữ “bán nước” mà
nhân dân ta bao đời nay vẫn khép tội cho bọn vong quốc, vong bản như Tôn Thọ Tường
chẳng hạn. Tên Việt gian lúc đó là Tôn Thọ Tường, kẻ đã chính miệng mình nói rằng
“kể chi danh phận lúc tan hoang” và “thân còn chẳng kể, kể chi danh”,… Bộ mặt
bán nước của hắn đã bị công luận lên án và nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị ngay
lúc đó đã lột trần chân tướng của hắn trong các bài họa lại với lời lẽ đầy
khinh miệt như:
“Đứa ghẻ ruồi, đứa
lác voi
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi
Người tuy mặt đỏ đôi tròng bạc
Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi”[15].
Trái hẳn với Tôn Thọ Tường, Phan Thanh Giản vì thương dân mà “chủ hòa” để rồi
dẫn đến tai họa đất mất, quyền mất, người chết mà Phan không lường trước được.
Có hậu quả tai hại đó chính là do Phan Thanh Giản mang nặng tư tưởng thất bại
chủ nghĩa, khiếp sợ trước thế lực tư bản. Phan muốn hòa với Pháp và cho đó là
con đường đỡ tổn thất cho nhân dân. Phan ngây thơ ngỡ rằng: “giặc ví như chim cắt
được ăn no sẽ cất cánh bay đi, ta ví như con rồng còn nương náu, vẫn chờ đợi để
lo toan”[16]. Phan cũng đã từng dâng sớ điều trần xin cải cách duy tân nước nhà, Phan muốn
yên hàn để tu chỉnh sự kỷ cương đặng một ngày kia phú quốc cường binh. Phan hằng
nói: “Dạy dỗ dân chúng cho khỏi u mê, khuyến khích dân làm lụng cày cấy để thêm
lợi tức khả dĩ mộ thêm binh lính và trả lương hậu cho họ. Như vậy, dân tình đỡ
khổ, lương thảo dồi dào, quân lính cũng được tập luyện tinh nhuệ. Có được như
thế thì công hay thủ cũng đều được cả. Chương trình này có thể áp dụng để chống
với kẻ cường địch, an lòng nhân dân và tránh đại họa được. Liều đánh bây giờ để
hả lòng căm tức, hạ lệnh cho quân sĩ tấn công, chẳng khác xua dê vào miệng cọp”[17]. Tư tưởng của Phan là muốn có sức mạnh đã rồi có thể chiến đấu và chiến thắng,
chứ Phan không biết nghĩ rằng trong chiến đấu sẽ trưởng thành (như chúng ta
ngày nay). Cho nên khi hòa ước được ký kết, Phan Thanh Giản đã ngây thơ tin ở
giặc và nói với Nguyễn Tri Phương rằng: “hòa nghị đã thành có thể ngồi mà hưởng
phú cường”[18]. Phan có ngờ đâu rằng “quân beo sói khó diệt hết mà cũng khó làm thân”[19]. Chính vì kiên trì tư tưởng chủ hòa tai hại ấy, nên hậu họa to lớn trực tiếp
đầu tiên Phan phải chịu tức là cái chết bi thảm. Cái chết của Phan đã chứng tỏ
sự bất lực hoàn toàn đối với lòng tin cậy của triều đình và cũng để tỏ cho nhân
dân rằng mình đã sai lầm và chịu tội trước nhân dân. Tất nhiên, cũng không phải
chỉ riêng vì cái chết này mà chúng ta phải nói ngay rằng Phan Thanh Giản là người
không tham sống sợ chết, thấy giặc thì chạy dài lo bảo toàn thân mình như bọn
Tôn Thọ Tường, Nguyễn Bá Nghi. Trái lại, ở Phan Thanh Giản chúng ta thấy một tấm
lòng ưu ái sâu sắc đối với dân, với nước. Tất nhiên tư tưởng của ông chưa thể
vượt ra khỏi phạm vi trung quân, những hành động phục tùng triều đình phong kiến
của ông đã cho chúng ta thấy quá rõ điều đó. Có thể nói, đối với vua, ông đã phục
tùng một cách mù quáng, chẳng hạn trong bước đường hoạn lộ, thật ông đã lắm
phen trầy trật, lắm lúc oan ức, nhưng vẫn không hề tỏ ra phản ứng chống đối. Cả
cuộc đời của Phan là thể hiện đầy đủ những lời của cha dặn trong một bức thư gửi
cho ông lúc ông nhậm chức Phó Tổng trấn
Quảng Bình:
“Những phương châm xử thế và ăn ở trong gia đình là phải trung với vua, hiếu
với cha mẹ, lo việc công, bỏ việc tư, sống bằng cơm rau nước lã.
Người hiếu tử không bao giờ lấy của phi nghĩa để nuôi cha mẹ. Con phải hết
lòng trị nước an dân. Liêm khiết, trung thực, khôn ngoan, cần kiệm,… ấy là những
đức tính con cần phải có…”[20].
Tìm hiểu cuộc đời
hoạt động của Phan Thanh Giản, chúng ta thấy quả đúng như vậy. Đương nhiên, ở
ông có những điểm cần phê phán như “chủ hòa”, trung quân mù quáng,… nhưng có những
điểm chúng ta cần phải trân trọng. Cuộc đời của ông từ khi thi đậu ra làm quan
cho đến khi chết, đã trải qua nhiều bước thăng trầm, ông đã đảm đương qua nhiều
trọng trách. Lúc nào ông cũng vẫn tâm niệm “vì dân, vì nước”, “ơn vua, lộc nước”.
Cũng có những việc làm của ông đã ngược lại ý muốn tốt lành của ông như chủ hòa
để rồi mất nước và theo sau đó là bao nhiêu tai họa xảy đến, kể cả thảm họa làm
cho ông bi quan thất vọng đến tự tử, nhưng tấm lòng trong trắng không mảy may gợn
đục, vẫn là vì dân, vì nước. Đường lối, chủ trương và biện pháp thực hiện của
ông đã sai lầm nhưng cần thấy rõ động cơ xuất phát của những hành động của ông.
Phan thành thực nhận thấy rằng đường lối chủ hòa là con đường duy nhất đỡ tổn
thất cho nhân dân và ông đã cố đem hết sức mình để làm không từ nan, không trái
mệnh vua. Vua lệnh cho: “An nguy tại thử cử, khẳng tích kinh luân thuật” (An
nguy tại lòng này, kình luân đừng tiếc chước hay làm gì”). Và Phan cũng biết
“thành bại hay không là do ở nước Tây kia” thế nhưng Phan vẫn vui vẻ nhận trách
nhiệm, không quản tuổi già sức yếu, vì ông luôn luôn:
“Lo nỗi nước kia
cơn phiên biến,
Thương bề dân nọ
cuộc giao chinh”[21].
Cho đến năm 1865,
đã 69 tuổi đầu, qua bao phen lao tâm khổ tứ, Phan xin triều đình cho nghỉ việc
quan để yên nghỉ tuổi già. Trong tờ sớ xin về hưu, ông thiết tha rằng:
“Than ôi, nay đã
già nua tuổi tác, thần tự thấy suy kém cả sức lực tinh thần. Thường khi vì sức
cùng lực kiệt, thần bỏ trễ nải cả trọng trách mà thần phải đảm đương. Khi đến cầu
70 thân người ta mảnh dẻ như liễu sậy đã bao lâu chống đỡ với cuồng phong, hay
như con thiên lý mã kiệt lực không thể cố được nữa. Thần không sao tiếp tục làm
việc được nữa, e rằng phạm lỗi làm rối việc quốc gia”[22].
Đã đến lúc con người
đã từng vất vả ngược xuôi hết lòng mẫn cán ấy đã cảm thấy “lão lai, tài tận” rồi
mà triều đình vẫn chưa cho nghỉ thân, vẫn tín nhiệm, vẫn lại giao cho chức vụ
khâm sai giữ ba tỉnh miền Tây để “chuộc lỗi” xưa, mà đến lúc đó Phan vẫn không
từ chối, lại tiếp tục những ngày phụng sự vua trên cho trọn nghĩa! Do tinh thần
“công cán” đó của Phan Thanh Giản nên Nguyễn Đình Chiểu cũng đã phải nói: “Phan
học sĩ hết lòng mưu quốc”[23].
Cứ thế cho đến khi hắt hơi thở cuối cùng với biết bao ngậm ngùi chua xót, ông vẫn
viết trong tờ “Di biểu” dâng vua Tự Đức rằng:
“Nay gặp thời gian
bĩ, việc dữ khởi ở trong cõi, khí xấu hiện ở biên thùy, việc cõi Nam Kỳ một chốc
đến thế này, không thể ngăn nổi, người tôi đáng chết không dám sống cẩu thả để
cái nhục cho quân phụ. Đức Hoàng thượng rộng xét xưa nay, biết rõ trị loạn,
thân kẻ hiền trong nước cùng lòng giúp đỡ, kính cẩn phép trời, thương người
cùng khổ, lo trước tính sau, đổi dây thay bánh, thế lực còn có thể làm được. Thần
tới lúc tắt nghỉ, nghẹn ngào không biết nói sao chỉ gạt nước mắt tỏ lòng quyến
luyến trông mong khôn xiết.”[24].
Đồng thời với việc
tự tử Phan Thanh Giản cũng gửi trả lại triều đình tất cả chiếu chỉ, sắc ban phẩm
tặng để tỏ rằng mình không xứng đáng với ân thưởng ấy nữa! Riêng sự “biểu thị
thái độ” trước cái chết như vậy cũng đã làm cho mọi người cảm cảnh và có thái độ
thể tất nhân tình cho ông phần nào. Huống nữa, ở Phan Thanh Giản còn có nhiều đức
độ đáng kính. Tuy là một quan đại thần, nhưng Phan vẫn sống trong cảnh an bần lạc
đạo và nổi tiếng là một ông quan thanh liêm. Trong một xã hội phong kiến, cái cảnh
tham quan ô lại đục khoét nhân dân cứ là nhan nhản khắp đó đây, mà Phan Thanh
Giản vẫn giữ được đức tính liêm khiết, trung trực, điều đó thật đáng quý. Điều
đó đủ có sức chinh phục rất lớn đối với tình cảm nhân dân, do đó, Phan Thanh Giản
có uy tín và được cảm tình của đông đảo nhân dân. Bọn thực dân Pháp cũng biết
rõ điều đó và muốn lợi dụng Phan - tất nhiên trước hết vì Phan là một người chủ
hòa - chúng không muốn Phan Thanh Giản chết vội. Cho nên khi nghe tin Phan
Thanh Giản uống thuốc độc tự tử, bọn thực dân Pháp đã vội vàng “cử thầy thuốc đến
và xin ông uống thuốc giải độc, nhưng ông kiên quyết không thay đổi ý kiến của
mình và chết sau 48 giờ”[25].
Có thể nói lúc bấy giờ Phan Thanh Giản chọn cái chết là đúng. Tuy rằng cái chết
của ông không phải là cái chết của người chiến sĩ nơi đầu tên mũi đạn trên chiến
trường, hay là cái chết đầy nghĩa phẫn của Hoàng Diệu sau này. Cái chết của ông
chỉ là cái chết tiêu cực. Tuy vậy nó vẫn biểu thị một thái độ thành thật đáng
được tha thứ. Cũng do đó mà làm cho mọi người có ít nhiều suy nghĩ. Người ta
phê phán ông, nhưng người ta cũng rộng lượng đối với ông. Điều đó cắt nghĩa vì
sao trong tình cảm nhân dân Việt Nam có dành cho ông một phần trân trọng.
Phan Thanh Giản đối
với vua trên và đối với bản thân là như vậy, còn đối với bọn làm tay sai cho giặc
thì lại tỏ ra rất dứt khoát. Chẳng hạn như khi Phan Hiểu Đạo bị Tôn Thọ Tường
theo lệnh Pháp dụ dỗ ra làm quan, ngày gặp Phan vào trấn Vĩnh Long, Hiểu Đạo hỏi
ý kiến, Phan đã phê mấy chữ ý nói “làm việc cho Tây như người đàn bà bị mất
trinh tiết”. Phan Hiểu Đạo tự thấy xấu hổ nên đã uống thuốc độc tự tử[26].
Thái độ đó của Phan Thanh Giản cho thấy rằng, ông chẳng những không phải là tay
sai của giặc mà còn là một người biết phân rõ địch ta như thế nào. Nói như vậy,
nghe ra có vẻ mâu thuẫn, bởi ông cũng là người đặt tay ký hàng ước nhường đất
cho giặc. Như trên đã phân tích tư tưởng chủ hòa của ông là với động cơ tránh
binh lửa chết chóc cho nhân dân. Nhưng ông không ngờ hậu họa của hòa ước lại to
lớn như thế, thì đó đã đành là bi kịch cho cuộc đời của ông và ông phải đền tội
bằng cái chết. Tuy vậy, tư tưởng chủ hòa của ông dù là tiêu cực nguy hại như vậy
đấy, song cũng không đốn mạt và bỉ ổi bằng số quan lại chủ tâm đầu hàng Pháp
ngay từ phút đầu, rồi lại ngoan ngoãn làm tay sai trở lại đàn áp giết chóc nhân
dân. Ở ông, tuy cũng có cái khiếp sợ, mất tinh thần, có cái giật mình trước văn
minh tân tiến của Âu châu, nhưng ông vẫn còn “hết lời năn nỉ” để kêu tình đồng
bang mau kịp bước. Những lời năn nỉ, trình bày yêu cầu duy tân của ông “chẳng
ai tin”[27],
thậm chí còn bị coi là “kẻ khéo tâng người mà hạ mình”. Bình sinh Phan Thanh Giản
một mực cố hết sức mình để “cầu hòa”, để “chuộc đất”. Nhưng tất cả đều đã trở
nên vô vọng. Tiếng kêu của ông đến lúc đã trở nên lạc lõng, đáng thương như
chính ông đã tự bộc bạch sau lần làm “Chánh sứ như Tây” (1984):
“Trời thời, đất lợi
lại người hòa
Há để ngồi coi nói
chẳng ra
Làm trả ơn vua đền
nợ nước
Đành cam gánh nặng
ruổi đường xa
Lên ghềnh, xuống
thác, thương con trẻ
Vượt bể trèo non cảm
phận già
Những tưởng một lời
an bốn cõi
Nào hay ba tỉnh lại
chầu ba”.
Tâm trạng buồn khổ
cô đơn đã bắt đầu xâm lấn những ngày xế chiều cuộc sống của một ông quan đại thần
mang nặng ý thức phong kiến! Tâm trạng đó cũng cô đơn bất lực như cái đạo Nho
vào những ngày tàn tạ của nó. Tâm trạng của ông chẳng khác gì tâm trạng Bá Nha
sau khi trở lại thôn Tập Hiền ở Tầm Dương không tìm thấy Tử Kỳ, nên những ngày
trước khi chết, Phan vẫn thường ngâm bài “Toái Cầm”:
“Tử Kỳ đã mất đập
đàn thôi
Non nước kìa ai những
ngậm ngùi
Gió Xuân bốn mặt
chung là bạn
Mà kẻ tri âm chẳng
thấy người”[28].
Tâm trạng Phan
Thanh Giản lúc này thật bế tắc. Một mặt do không làm tròn trách nhiệm của triều
đình giao cho là phải “hòa với giặc”, “chuộc lại’ đất tổ tiên của hoàng triều,
một mặt thì nhân dân càng ngày càng cơ khổ hơn trước sự chiếm đất, giết người,
cướp của của quân thù. Cả nước đang xốc lên một phong trào đánh giặc cứu nước
và nhân dân cũng đã trực tiếp lên án ông. Trên ép xuống, dưới ép lên, ông phải
lấy cái chết để mong “tựu nghĩa” và để rồi thời gian sẽ phân xử cho ông. Ngày
nay có lẽ chúng ta cũng không nên quá khắt khe như thời ông sống, thời mà phong
trào kháng chiến của nhân dân lục tỉnh đang lên cao, đang cần thiết phải nêu
lên khẩu hiệu “Phan, Lâm mại quốc, triều đình khí dân” để tập hợp lực lượng
kháng chiến. Nói một cách công bằng hơn, trách nhiệm của Phan Thanh Giản là gắn
chặt với trách nhiệm của triều đình Huế, chính triều đình phong kiến thối nát ấy
mới là kẻ đầu sỏ bán nước, còn Phan Thanh Giản chỉ là một trong số những người
chủ trương và thi hành đường lối tội lỗi ấy mà thôi. Hơn nữa, trong khi chúng
ta nêu rõ hậu quả của những hành động của Phan, thì cũng không nên quên nhắc nhở
tấm lòng ưu ái của ông đối với dân với nước. Có như thế chúng ta mới hiểu và cắt
nghĩa được mối cảm tình của một số sĩ phu và nhân dân lúc ấy đối với Phan mặc
dù Phan đang tay ký điều ước 1862 và sau lại để cho Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền
Tây Nam Kỳ. Có người sẽ bảo như thế là quá rộng lượng với Phan, là không nhìn
nhận sự sáng suốt của nhân dân trong chủ trương “quyết chiến” không nhìn nhận sự
cần thiết phải nêu lên khẩu hiệu như trên để đẩy mạnh kháng Pháp lúc đó. Đó là
một mặt của vấn đề lịch sử mà chúng ta đã nói tới ở phần trên.
Chúng ta cần trở lại
xét thêm những công trạng và đức tốt của Phan Thanh Giản đối với nhân dân thì mới
thấy rõ hơn vì sao Phan đáng được nhân dân khoan dung và trân trọng. Trước hết
vì Phan Thanh Giản là một người cần cán rất đỗi thương yêu nhân đân. Ngay từ những
ngày đầu mới ra làm quan với triều Minh Mệnh, có lần giữ chức giám thị kỳ thi Hội
ở Huế (1828), nhân có bão lụt trong thành, ông dâng sớ tâu rằng: “mưa to và nạn
thủy tai là những triệu chứng không tốt, hạ thần cúi xin Thánh thượng tự sửa
mình làm điều nhân đức và giảm bớt số cung nữ, phi tần. Như thế là Thánh Hoàng
làm theo ý thiên địa, bách tính sẽ được sung sướng”[29].
Hoặc như năm 1850, khi trấn nhiệm ở miền Tây, nhân dân gặp nạn dịch lệ lan
tràn, ông đã dâng sớ lên vua xin cấp cứu cho qua khỏi tai ách, xin tha bớt hình
ngục, hoãn việc binh thuế và chẩn cấp cho dân. Một lần khác vua định xa giá
kinh lý miền Nam (các tỉnh Quảng Nam, Quàng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) mà trong
lúc đó nhân dân các tỉnh này “đang trong nạn hạn hán, mất mùa, thóc cao gạo
kém, người nghèo chết đói”... “không thể sửa sang đường cái lập nhà công quán
kiếm củi đuốc cỏ rơm cho đoàn quan quân hộ tống được, nên xin hoãn cuộc ngự du
này đến khi mưa thuận gió hòa, mùa màng
tươi tốt, trăm họ ấm no, lúc bấy giờ dân gian sẽ đón tiếp thánh hoàng một cách
nhiệt liệt”[30]. Việc làm đó của Phan Thanh Giản tất
nhiên được nhân dân kính phục, biết ơn và nhớ mãi. Để có lợi cho nước, cho dân,
Phan Thanh Giản đã từng có những đề nghị với nhà vua rất thẳng thắn. Năm 1851,
ông đã cùng với Nguyễn Tri Phương dâng lên vua bản đề nghị tám điều như sau:
“1. Chúa Thượng phải
cẩn trọng trong lúc du hí: không nên dạo chơi ven bờ sông, bơi thuyền hay tắm
hay dự cuộc thi ngựa.
2. Không nên xem kịch
tuồng vì sẽ có ảnh hưởng không tốt đến việc cai trị.
3. Phải tránh xa
những kẻ gian hùng chỉ dựa thế triều đình bắt nạt dân đen trục lợi. Bọn “cửu
long” nghĩa là chín tên cận thần mà bây giờ gọi là bát tiên vì trừ một người chết
còn tám, nên bổ họ vào ngạch võ quan, không nên cho họ tự do vào cung cấm, sợ xảy
ra điều xấu xa chăng.
4. Phải áp dụng những
quy tắc về chính sách xã hội, giảm bớt tiêu pha phung phí, và không nên quá tin
yêu quần thần. Nhà vua cần phải cấm chỉ ngay việc sai các quan đi mua vàng bạc
châu báu, ngà voi để về phân phát cho phi tần cung nữ.
5. Phải giảm bớt số
thái giám và cư xử theo các bậc tiền nhân. Về đời Gia Long, Minh Mạng, thị vệ
chỉ được đến tam tứ phẩm; bây giờ chánh đội thị vệ Trần Kiêm cậy thế quyền
nhũng lạm, sách nhiễu. Cử chỉ ấy sợ rằng người khác bắt chước làm bậy.
6. Phải cẩn thận lựa
chọn bầy tôi, lấy những người thực thà, chính trực, nghĩa khí, loại những người
gian ác, tham lam, đạo đức giả, hiếu danh, cần sự công bình trong việc lựa tuyển;
Nội vụ bộ sẽ tuyển văn quan. Binh bộ sẽ tuyển võ quan.
7. Giảm bớt tạp dịch
cho binh lính để lấy thì giờ luyện võ, điều cần để chiến thắng.
8. Tăng lương cho
các quan lại: như tăng lương đầy đủ, họ không nghĩ đến hối lộ và xử án công bằng
hơn”[31].
Về bản đề nghị
này, Tự Đức đã phải phê rằng: “Hai khanh đều là tôi lương đống của triều đình,
trẫm cũng biết là khanh buộc tội cho trẫm. Nhưng không bao giờ trẫm làm việc nhẹ
dạ. Trẫm tin ở lòng ái quốc của khanh và khanh nên vui lòng theo ý trẫm”[32].
Đến năm 1883, Phan
Thanh Giản lại dâng sớ đề nghị nhà vua sửa đổi chính trị, trong đó có ba khoản
đáng chú ý:
-
Cứu
cấp trẻ nghèo để giảm sự khổ sở của toàn xứ.
-
Sửa
đổi học chính để mở mang bệnh viện.
-
Sửa
sang đường sá cho sự giao thông được thuận tiện, đóng xe bò để vận tải được dễ
dàng[33].
Cũng do vậy mà trước
kia Phan Thanh Giản được Minh Mạng khen là “người ngay thẳng, quả cảm, học lực
rộng và có biệt tài”, sau này lại được Tự Đức ban thưởng chiếc kim khánh có khắc
bốn chữ “liêm bình cần cán”.
Những việc lớn đã
thế, những việc nhỏ sau đây càng tỏ ra rằng Phan là một người rất thương yêu gần
gũi nhân dân. Câu chuyện một vị quan đại thần ở Viện Cơ mật về chịu tang cha vận
quần áo sô gai như một người thường dân đi một mình không có lính hầu, khi đi
qua bến đò Ba Lai (giữa Mỹ Tho - Bến Tre) bị một người lính đồn không biết là đại
thần đã khám xét lục soát và bị cả người cai đồn giữ lại… vẫn không tỏ ra khó
chịu hách dịch gì mà sau lại ban khen tặng thưởng cho họ vì những người đó đã
“làm tròn phận sự”. Cử chỉ ấy của Phan Thanh Giản đã làm cho mọi người mến phục.
Hay là câu chuyện: Một hôm đi tỉnh mộ về, Phan bị một người vác cây tre lòa xòa
đi đằng trước đụng vào người bị thương. Người vác tre quay lại thấy ông cả sợ,
mặt tái xanh như chàm đổ, ông bèn gọi lại và bảo đưa cho ông mượn luôn con dao
rựa, người vác tre càng khiếp đảm lo cho tính mệnh chẳng còn. Nhưng không ông
bèn phát nốt mấy cành lòa xòa ở thân tre và từ tốn nói với người vác tre rằng:
“Bận sau bác phải cẩn thận, kẻo gặp người khác thì không xong đâu”[34].
Những cử chỉ như vậy
của Phan đã được nhân dân khắp miền truyền tụng và nhận ông là một người rất mực
khoan nhân đại độ.
Về việc Phan Thanh
Giản quan tâm đến đời sống nhân dân, chúng ta còn thấy thể hiện khá nhiều ở các
bài thơ trong tập Lương Khê thi thảo.
Như bài “Vọng vũ” (Mong mưa) của Phan làm năm Quảng Nam bị hạn hán kéo dài
(1836):
“Kính tuần thiên bất
vũ
Nhật mộ chỉ vi
lương
Khinh vân từ dục hợp
Đong phong suy cản dương,
Thiên tế tự trung
uất
Thánh thần như phi
sương
Chiêm bỉ cao đê điền
Hà Miêu bán uy
hoàng
Thu lai mễ già
ngang
Huống phục thử
khang hạn
Nông dân thực khả
thương
Nguyệt Tỏa giáng
xuân cao
Cập thời tô trưng
thương”
Dịch nghĩa:
“Suốt hàng tuần trời
không mưa
Ngày muộn chỉ hơi
mát
Mây nhẹ từ từ muốn
họp lại
Bị gió nồm thổi liền
bay tan đi
Khoảng trời cứ
nung nấu bức bối
Sáng sớm như có
sương bay
Trông những thửa
ruộng cao thấp kia
Mạ lúa đã úa vàng
mất nửa
Vụ chiêm này dù có
được mùa
Sang thu này giá gạo
tất cao
Huống lại bị hồi hạn
dữ này
Nông dân thật đáng
thương
Mong trời sớm cho
xuống trận mưa xuân
Để kịp thời cho
dân tỉnh táo lại”.
Trong bài thơ tiễn
đưa Lại bộ thị lang Hoàng Kiện Trai đi nhậm chức bố chánh Gia Định, ông nhắn nhủ:
“Than tức tự lòng
khai hấn họa
Chi kim do vị khởi
sang di
Lư diêm dẫn lĩnh bằng
hà nhuận
Quốc kế dân tình
triệt để ti”.
Dịch nghĩa:
Than thở từ ngày
gây ra thù giận tai vạ,
Ngày nay vẫn chưa
hàn khỏi được những vết đau thương.
Làng xóm nghển cổ
đợi mong nhờ được ân trạch của các quan nhân đức.
Kế nước tình dân
phải lo nghĩ sao cho được mười phân vẹn phân mười.
Ông mong muốn tất
cả những ai có trách nhiệm “trị nước, an dân” hãy hết lòng hết sức giữ đạo công
bằng, lòng liêm khiết, cương trực để cho nước cho dân được nhờ,… Đó cũng chính
là những đức độ cao cả, những tình cảm, tình thương tốt đẹp của Phan Thanh Giản
đã làm cho ông có được vị trí khá trân trọng trong suy nghĩ và tình cảm của mọi
người. Cũng vì thế mà sau khi Phan Thanh Giản chết, ngay trong hàng ngũ sĩ phu
yêu nước đã có những nhận định về ông khá công bằng và rộng lượng, tỏ ra thông
cảm với ông.
Phạm Phú Thứ, người
đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp, trong bài văn tế Phan một mặt nêu rõ
trách nhiệm của Phan trong lịch sử, nhưng mặt khác cũng nói rõ lòng trung nghĩa
của Phan.
“Năm xưa lập hòa ước,
ông đã cam là kẻ có tội để cứu vãn sự nguy cấp của nước nhà. Nay ba tỉnh Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên tình thế nguy ngập giống như tổ chức bị gió mưa lay bạt.
Thế mà ông không đề phòng để quân giặc đánh trộm giống như Điền Quảng nước Tề bị
Hàn Tín đánh úp. Lỗi đó sẽ phải về mình, than tiếc cũng không thể lấy lại được.
Bề tôi giữ bờ cõi
phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông
vẫn tin theo.
Một phong di biểu,
ngỏ hết can trường thật đáng cho người đọc phải khóc. Tiếc thay trong lúc hiểm
nghèo như thế quẻ truân kinh dịch, một người trung tín như ông lại gặp phải cuộc
gian nan ấy. Rồi đây việc biên thùy nhà vua chắc về sau sẽ soi thấu nhưng mà kẻ
tầm thường lại bảo ông làm lỡ nước nhà”[35].
Nhà thơ yêu nước
Nguyễn Đình Chiểu cũng đã có bài thơ điếu nêu rõ lòng trung nghĩa của Phan, đồng
thời cũng vạch rõ trách nhiệm của triều đình Huế:
“Non nước tan tành
bệ ở đâu
Dầu dầu mây bạc
cõi ngao châu
Ba triều công của
vài hàng sớ
Sáu tỉnh cương thường
một gánh thâu
Ải bắc ngày chờ
tin nhạn vắng
Thành Nam đêm chạnh
tiếng quyên sầu
Minh sinh chín chữ
lòng son tạc
Trời đất từ đây bặt
gió thu”[36].
Nguyễn Thông, một
nhà thơ yêu nước khác ở miền Nam “cho việc Phan Thanh Giản tử tiết quan hệ đến
phong giáo” đã tâu xin Tự Đức “ban thưởng” để “khích lệ” người sau. Nhưng Tự Đức
đã cự tuyệt và đã khép (Phan Thanh Giản) vào tội “trảm quyết” (nhưng vì đã chết
nên được miễn) và “lột hết chức tước và đục hết tên trên bản các ông đỗ tiến sĩ…”.
Tự Đức làm như vậy là cốt để đổ tất cả tội lỗi bán nước đầu hàng giặc của triều
đình nhà Nguyễn lên đầu Phan Thanh Giản - người đã chết.
Lời trối trăng của
Phan Thanh Giản với các con trước khi nhắm mắt là “chớ khởi nghĩa mà vô ích”,
“chớ làm quan với triều Nguyễn” cũng như lời Phan Thanh Giản dặn các thân nhân
ghi trên mộ rằng: “Đại Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cửu diệc dĩ thư
chi mộ” (mộ của người học trò già họ Phan ở bờ bể nước Đại Nam) đã phản ánh
đúng đắn tinh thần khiếp nhược và nỗi chán chường bế tắc của ý thức hệ phong kiến
đến ngày suy tàn thảm hại. Nội dung “trung”, “hiếu” của Nho giáo lúc này đã quá
lỗi thời, nó phải được quan niệm lại. Nên chi sau khi Phan Thanh Giản chết, các
con của ông là Phan Tôn, Phan Liêm đã nổi lên cùng với nhân dân anh dũng chống
Pháp, dù trái lại với lời dặn của cha, nhưng như thế mới là chí hiếu. Hai anh
em của họ Phan sau khi thất bại ở Bến Tre lại ra Bắc cùng Nguyễn Tri Phương trấn
giữ Hà Thành tiếp tục chiến đấu và đó cũng chính là có hiếu với cha, trung với
vua và yêu nhân dân đất nước tích cực. Ở đây hai anh em họ Phan đã nhận rõ mối
quan hệ giữa “ái quốc” với “trung quân” và “hiếu tử”. Trung quân chỉ nặng khi
nào có minh quân. Vua có thể là hôn quân, còn lòng ái quốc tức là yêu đất nước
quê hương đồng nội, yêu nước là yêu truyền thống lịch sử lâu đời thì không bao
giờ có thể đổi dời, mà càng ngày càng sâu sắc hơn, nhất là những lúc bị nạn ngoại
xâm đe dọa, bị kẻ địch giày xéo. Yêu nước thì phải bằng mọi cách để bảo vệ đất
nước. Nhân dân ta và hai anh em họ Phan đã hiểu được điều thiết thân đó và đã
hành động khác với cha mình khi xưa. Cho nên có thể nói thêm rằng, chính hai
con của Phan đã góp phần chuộc lỗi lầm cho cha.
Trên đây, chúng
tôi đã cố gắng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa trách nhiệm to lớn của Phan Thanh
Giản với trách nhiệm triều đình Huế của giai cấp phong kiến, đồng thời nói thêm
về thân thế sự nghiệp của Phan, cũng như tìm hiểu thêm về cái chết của Phan và
thái độ các tầng lớp nhân dân đối với Phan Thanh Giản, mong các nhà nghiên cứu
và các bạn đọc xa gần thành thật chỉ giáo cho.
Hà Nội, ngày 31-12-1962
* Bài đã đăng trên : 1.Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 48, năm 1963, tr.12-24, theo thứ tự tác giả: Đặng Huy Vận, Chương Thâu.
2 Đặng Huy Vân ( 2019), Phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX ,Đầu thế kỷ XX, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
[1] Dẫn theo Lê Thành Tường trong Un patriote annamite admirateur de la France, Hanoi, 1938, tr.7.
[2] Dẫn theo Lê Thành Tường trong Un patriote annamite admirateur de la France, Hanoi, 1938, tr.7.
[3] Tam Thanh và Hoành Hải, Phan Thanh Giản, NXB Đời Mới, Hà Nội, 1945, tr.6-7.
[4] Tam Thanh và Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.6 và 7.
[5] Khuyết danh, Hịch
đánh giặc Pháp.
[6] Cảm tác của Phan Thanh Giản sau lần “Chánh sứ như Tây”.
[7] Nguyên văn chữ Hán: Bà ban xảo diệu tề thiên địa.
Duy hữu tử
sinh tạo hóa quyền” (Cảm tác của Phan Thanh Giản).
[8] Lời của Trương Sơn Chí, dẫn theo Nam Xuân Thọ viết trong
quyển Phan Thanh Giản, Nhà xuất bản
Tân - Việt, Sài Gòn, 1950, tr.114.
[9] Dẫn theo Thomazi trong quyển La conquête de l’Indochine. Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn
Văn Sự dẫn trong Lịch sử cận đại Việt
Nam, tập 1, Hà Nội, 1959, tr.70.
[10] Vial, Histoire de
Cochinchine do Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự dẫn trong Lịch sử cận đại Việt Nam, tập 1, Hà Nội,
1959, tr.112.
[11] Trích Nguyễn Đình Chiểu, Ngư tiều y thuật vấn đáp.
[12] Phan Văn Trị, Cảm
tác.
[13] Theo Bản triều bạn
nghịch liệt chuyện, Bản chữ Hán, Thư viện Khoa học Trung ương, ký hiệu
A.997.
[14] Trích theo báo Mai, Sài Gòn, số 4, ngày 21-3-1936.
[15] Tôn Thọ Tường tự ví mình theo Pháp cũng như Từ Thứ hàng
Tào Tháo tỏ ra ý nghĩa quyền biến và thời thế bắt buộc. Nhưng việc của Tường
làm Việt gian và việc của Từ Thứ hàng Tào Tháo khác xa nhau. Vì thế Phan Văn Trị
đã vạch mặt Tường như vậy (CT).
[16] Phạm Phú Thứ, Văn
tế Phan Thanh Giản.
[17] Theo Tam Thanh và Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.56-57.
[18] Quốc
triều chính biên toát yếu.
[19] Phạm Phú Thứ, Văn
tế Phan Thanh Giản.
[20] Theo Tam Thanh và Hoành Hải, Sách đã dẫn.
[21] Thơ của
Phan Thanh Giản lúc đi sứ.
[22] Dẫn
theo: Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.24.
[23] Nguyễn
Đình Chiểu, Văn tế Lục tỉnh nghĩa sĩ trận
vong.
[24] Theo
bản dịch của Nguyễn Văn Tố trong Tạp chí
Tri tân, số 98, ngày 3-6-1943.
[25] Theo Cultur,
Histoire de la Cochinchine Francaise des origins à 1883, Paris, 1910,
tr.117.
[26] Theo Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang trong quyển Thơ văn yêu nước Nam Bộ cuối thế kỷ XIX,
NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962, tr.15.
[27] Nguyên văn bài Tự
than:
“Từ ngày đi sứ đến tây kinh
Thấy việc Âu châu phải giật mình
Kêu tỉnh đồng bang mau kịp bước
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin”
[28] Nguyên văn chữ Hán:
“Phá toái dao cầm
phụng dĩ hàn
Tử Kỳ bất toại đòi thùy đàn
Xuân phong mãn địa giai bằng hữu
Dục mịch tri âm nan thượng man”.
[29] Theo
Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.26.
[30] Theo
Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.31.
[31] Dẫn
theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.46-47.
[32] Dẫn
theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.47-48.
[33] Dẫn
theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.49.
[34] Theo
Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.37.
[35] Phạm
Phú Thứ, Văn tế Phan Thanh Giản, dẫn
theo Hoành Hải, Tam Thanh trong quyển Phan
Thanh Giản, Hà Nội, 1945, tr.115.
[36] Nguyễn
Đình Chiểu, Điếu Phan Thanh Giản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét