Đặng Thị Vân Chi
Từ cuối thế kỷ XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp và xã hội Việt Nam nhanh chóng nằm trong quỹ đạo của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các chương trình khai thác thuộc địa, Pháp cũng sớm chú ý đến việc thay đổi hệ thống giáo dục tại Việt Nam. Việc thay đổi hệ thống giáo dục mà Pháp thực hiện ở Việt Nam được chia thành nhiều đợt và diễn ra từ từ.
Ở Bắc
Kỳ và Trung Kỳ, nơi nền giáo dục Hán học và truyền thống khoa cử vẫn đang tồn
tại vững chắc với hệ thống các trường học có mặt khắp các tỉnh thành, phố huyện
cho tới các xã, thôn với số lượng học sinh cũng như các sĩ tử đăng ký tham dự
các kỳ thi Hương có xu hướng ngày càng tăng thì từ năm 1897, sau khi dập tắt về
cơ bản các cuộc phản kháng do tầng lớp văn thân sĩ phu lãnh đạo, cùng với việc
triển khai chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Pháp bắt đầu can
thiệp vào các kỳ thi Hương. Cùng với đó, Pháp cho lập trường Hậu bổ ở Hà Nội để
dạy tiếng Pháp và quốc ngữ cho những người đã đậu kỳ thi hương muốn được tuyển
dụng vào ngạch quan trường và đến năm 1900 Pháp chính thức quy định bổ sung bài
thi tiếng Pháp và quốc ngữ vào các kỳ thi hương.
Đầu thế kỷ XX, để đẩy mạnh việc cải tổ nền
giáo dục Nho học theo mục đích, chương trình và phương pháp của các trường Pháp
-Việt, đồng thời nhanh chóng mở rộng hệ thống trường Pháp -Việt ra toàn cõi
Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau ra Nghị định về việc thành lập Nha học chính Đông Dương ngày
14-11-1905 và Nghị định thành lập Hội
đồng Cải lương học chính bản xứ ngày 8-3-1906.
Cùng với việc triển khai chương trình cải cách
này Pháp cũng tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp và quốc ngữ.
Bên cạnh
hệ thống trường học, chính quyền thực dân còn cho thành lập một số viện nghiên
cứu như: Viện Vi trùng học Sài Gòn (1891), Nha Trang (1896), Hà Nội (năm 1900)
và Viện Viễn Đông Bác cổ (1898) Nha khí tượng (1898), sở Địa chất (1899)...Đầu
thế kỷ XX, Pháp cho thành lập một số trường Đại học và cao đẳng, trường dậy nghề
như Đại học Đông Dương, Khoa Pháp Lý thuộc đại học Đông Dương, Trường Đại học Y dược, Thú y, Luật khoa, Sư
phạm, Nông nghiệp và Lâm nghiệp, trường
Công chính, trường Thương mại...
Ở Nam Định, cho đến năm 1900 mới có 4
trường Pháp – Việt.
Trường tiểu học Pháp – Việt ở phủ Xuân
Trường được thành lập từ khá sớm, vào năm 1897. Trường được xây theo đúng kiểu
kiến trúc mà Sở học chính quy định, giống như các trường tiểu học khác ở Bắc Kỳ
gồm 3 phòng học, (sau này được xây thêm 2 phòng nữa), mái lợp ngói, tường gạch
có cửa kính, hành lang và sân trường rộng rãi. Tuy nhiên, từ khi thành lập cho
đến năm 1924, trường chỉ dạy ở bậc sơ học. Chương trình sơ học (Ấu học) gồm 3
năm, chủ yếu học chữ Hán và chữ quốc ngữ, nếu có nhu cầu học thêm tiếng Pháp
thì sẽ có giáo viên dạy các trường tiều học Pháp - Việt về dạy thêm một số giờ.
Học xong chương trình, học sinh qua một kỳ thi tuyển sinh để lấy bằng tuyển sinh, có giá trị tương đương bằng Sơ học yếu lược sau này.
Thời kỳ đầu trường chỉ thu hút được học
sinh từ các làng công giáo trong Phủ như Ngọc Cục, Lục Thủy, Liên Thủy, Bùi
Chu, Phú Nhai, Trung Linh theo học, còn làng có truyền thống khoa cử như làng
Hành Thiện thì không một gia đình nào cho con em mình đến trường (vì không muốn
học chữ của Tây), mặc dù để khuyến khích, công sứ Nam Định còn cấp phát sách
vở, cấp học bổng cho học sinh. Học xong bậc sơ học muốn học tiếp chương trình
tiểu học, học sinh phải lên Nam Định học tiểu học 3 năm để lấy bằng Khóa sinh,
tương đương với bằng Tiểu học Pháp -Việt. Nội dung học cũng gồm cả Hán văn, Quốc
ngữ và tiếng Pháp. Các môn sử, địa, toán, cách trí, khoa học thường thức học bằng
Quốc ngữ khoảng 30 giờ 1 tuần, còn Hán văn học khoảng 10 giờ /1 tuần với các
sách Tứ thư (trừ Trung dung không
học) nhưng đã được biên soạn lại và các sách khác như Chính biên toát yếu, Luật lệ toát yếu, Việt sử tổng vịnh, An Nam sơ học
sử lược, Nam quốc địa dư, Đông Dương chính trị …Tiếng Pháp học khoảng 10giờ
/1 tuần cho tập đọc, tập làm văn, hội thoại. Cuối khóa thi lấy bằng khóa sinh
và được miễn sưu dịch 3 năm. Ở bậc trung học, học sinh vẫn học với cả 3 ngôn
ngữ, Quốc ngữ, Hán văn và tiếng Pháp, học xong có thể thi lấy bằng Thí sinh và
được tham dự kỳ thi Hương. Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thế kỷ XX, đa số học
sinh vẫn học tại các trường Hán học của các đại khoa trong vùng, nên sau này nhiều
người bỏ không tham dự các kỳ thi hương đòi hỏi phải làm bài bằng Quốc ngữ và
tiếng Pháp.
Từ trước khi có trường theo
kiểu trường tiểu học Pháp -Việt, những người muốn học Quốc ngữ và tiếng Pháp
phải tự tìm chỗ học như ông Đặng Hữu Nữu người làng Hành Thiện, ông đã đậu cử nhân
và là người đầu tiên của làng Hành Thiện học Quốc ngữ và tiếng Pháp vì vậy ngay
từ năm 1989, ông đã thi đậu kỳ thi tuyển Ký lục và đến năm 1903 ông được bổ làm
Tri huyện. Cũng có người xin học dự bị trường Hậu Bổ như ông Đặng Đức Tô (đậu cử
nhân khoa 1906), ông được tuyển làm thừa phái, nhưng sau đó ông nghỉ việc về Hà
Nội mở hiệu sách, dịch các sách Kinh thi, Đại học sang quốc ngữ.
Mãi tới năm 1908, do ảnh hưởng của phong trào Đông Kinh nghĩa thục, hô hào thanh niên
theo học chữ quốc ngữ, học sinh làng Hành Thiện mới bắt đầu theo học trường
tiểu học này. Những học trò đầu tiên từ các gia đình có truyền thống Nho học
của làng Hành Thiện tới học trường này là con cháu của Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn
là Nguyễn Thế Phu và Nguyễn Thế Tắc…Dần dần, trong khi những người tốt nghiệp
từ các trường tiểu học biết tiếng Pháp và sử dụng tốt quốc ngữ có nhiều cơ hội
được bổ nhiệm vào các công sở của Pháp với những điều kiện mà chính quyền thực
dân đặt ra đối với các nho sỹ muốn tham gia quan trường là phải đỗ kỳ thi quốc
ngữ và tiếng Pháp bắt đầu được thực hiện từ năm 1909, thì các nho sĩ khó có
cơ hội tìm kiếm được việc làm trong ngạch quan trường cũng như các công việc
khác. Các Nho sĩ thức thời bắt đầu chuyển hướng tự tìm trường học quốc ngữ và
tiếng Pháp. Năm 1911 ông tú tài Đặng Vũ Túc ở làng Hành Thiện đã cho đón hai thầy
giáo về làng dậy chữ Pháp, quốc ngữ, toán và khoa học thường thức cho những người
muốn dự kỳ thi hương và dự bị lấy bằng tiểu học trong làng.
Khoa thi Hương năm 1915 ở Nam Định là khoa thi cuối cùng của nền giáo dục
Khoa cử Hán học, cũng là khoa thi đánh dấu sự chấm dứt nền
giáo dục Hán học truyền thống ở Việt Nam, thì đến ngày 21-12-1917,
toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ra nghị định ban hành Học Chánh Tổng Qui ở Đông Dương (Règlement Général de l'Instruction
Publique en Indochine) nhằm mục đích thực hiện một cách qui mô chính sách của
Pháp ở Đông Dương. Sau đó, Qui Chế Tổng
Quát về Giáo Dục Cao Đẳng ở Đông Dương (Règlement Général de l'Enseignement
Supérieur en Indochine) được toàn quyền Đông Dương ban hành bằng nghị định ngày
25-12-1918.
Theo Quy
chế Tổng quát về Giáo dục Cao đẳng ở Đông Dương, hệ thống giáo dục của Pháp
ở Việt Nam được điều chỉnh cho phù hợp với các mục đích cũng như tình hình thực
tế, ở Việt Nam thường được gọi là Giáo dục Pháp-Việt. Đây là hệ thống giáo dục
Pháp cho người bản xứ" (Enseignement Franco-Indigène). Trong nền giáo dục
này tiếng Pháp được dùng để trao đổi trong lớp học (giảng bài, làm bài, sách
giáo khoa viết bằng tiếng Pháp). Riêng
ba lớp đầu tiểu học là được dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, sau đó tiếng Việt chỉ
được học như một ngoại ngữ. Ngoại ngữ thứ hai thường là tiếng Anh ở bậc Tú Tài.
Chữ Hán được học như một môn học tự chọn, một tuần một giờ ở các lớp trên của bậc
tiểu học nếu có thày dạy.
Hệ thống giáo dục Pháp-Việt gồm 2 phần:
giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp, đại học.
Nhìn chung, hệ thống
giáo dục phổ thông Pháp-Việt có 3 bậc với thời gian là 13 năm. Bậc Tiểu học có
6 năm bắt đầu từ lớp Đồng ấu (Cours Enfantin) và kết thúc ở lớp Nhất (Cours Supérieur). Bậc Cao đẳng Tiểu học (Primaire) gồm 4 năm, học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d'Étude Primaire
Supérieurs Franco-Indigène) còn gọi là bằng Thành chung. Sau khi có bằng Thành
chung học sinh có thể dự thi vào bậc Trung học tức bậc Tú tài gồm chương trình Tú
tài phần thứ nhất (học xong 2 năm đầu). Sau khi đỗ Tú tài phần một có thể học
tiếp năm thứ ba để lấy bằng Tú tài. Năm thứ 3 có 2 ban: ban Triết và ban
Toán.
Sau khi có Quy chế Tổng quy về học chính Đông Dương,
từ năm 1920, nhiều trường học được thành lập ở Nam Định và giáo dục Pháp- Việt ở
Nam Định phát triển nhanh và ổn định hơn.
Trường Tiểu học Xuân Trường, sau nhiểu
năm chỉ dạy ở bậc sơ học thì đến năm 1924 được chuyển thành trường Tiểu học
kiêm bị Xuân Trường với đầy đủ 6 lớp của bậc tiểu học: từ lớp Đồng ấu đến lớp Nhất.
Cũng theo quy định của chương trình Học chính tổng quy, các trường tiểu học ở cấp
xã cũng nhận cả học sinh nữ. Hai hiệu trưởng đầu tiên của trường là ông Nguyễn
Văn Ninh (từ năm 1924-1928) và ông Lê Thận (từ năm 1928- 1943). Cả hai vị hiệu
trưởng này đều tốt nghiệp Cao đẳng Tiểu học và nổi tiếng về đức độ cũng như
phương pháp dậy học.
Năm 1922, trường Sơ học Hành Thiện được
thành lập theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ký ngày 19-9-1922 theo đề nghị của
Cụ Tổng đốc Đặng Đức Cường. Trường được xây dựng hoàn toàn bằng công quỹ của
làng kể cả mua sắm trang thiết bị và trả lương cho giáo viên.
Trường nữ Sơ học Xuân Trường được
thành lập theo Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ngày 8-12-1924 từ đề nghị của cụ
Tri phủ Xuân Trường Bùi Bằng Đoàn. Trường còn có tên là trường Henri Geshin,
tên của Công sứ Nam Định. Tiền xây dựng và sắm trang thiết bị của trường do
nhân dân địa phương đóng góp, lương của giáo viên lấy từ ngân sách Bắc Kỳ.
Năm 1924, trường tư thục Saint Thomas được thành lập theo sáng kiến của Cha xứ địa phận
giáo xứ Bùi Chu Munagori. Mục đích ban đầu là dạy chương trình Cao đẳng Tiểu học
để đào tạo giáo viên dạy cho các trường công giáo. Vì vậy còn gọi là trường tư
thục sư phạm Saint Thomas. Trường được đặt ở gần trung tâm thành phố Nam Định. Kinh phí xây dựng trường cũng như học bổng và
chi phí cho học sinh theo học lấy từ sự quyên góp của các giáo xứ ttrong vùng.
Điều kiện là sau khi học xong, các giáo viên này phải dậy 10 năm cho các trường
công giáo. Đến năm 1931, trường bắt đầu thu nhận cả học trò bên lương.
Năm 1932,
cả Nam Định có 5 trường Kiêm bị Tiểu học Pháp- Việt:
- Trường Cửa Bắc có 19 lớp, 836 học sinh, nay
là phố Cửa Bắc)
-Trường Henri
Geshin (còn gọi là trường Vườn Dâu, có 6 lớp, 259 học sinh, nay
ở đường Vị Xuyên.)
- Trường Maurice Graffeuil (còn gọi là trường Bến
Củi, có 9 lớp 414 học sinh; nay ở phố Bến Ngự)
- Trường
Con gái (có 9 lớp, 335 học sinh, ở khu vực nay là đường Trần
Quốc Toản)
- Trường
Brière de L’ Jsle (còn gọi là trường Gốc Ngải, có 6 lớp, 279 học sinh, ở khu vực nay là phố Phạm Hồng Thái)
Thời gian này, thành phố Nam Định
đã có một số trường bậc tiểu học như Trung Trí, Tri Nam Khê, Minh
Tân, Hồng Đức, Huệ Đức...
Đến
năm 1938, Nam Định đã có một số trường tư thục bậc Cao đẳng tiểu học (tương
đương cấp II) như các trường: L’ Avenir, Charlemagne, Collêgium Paul Doumer. Các
trường công, tư này tồn tại cho đến năm 1945.
Trường Thành chung Nam Định được thành lập theo Nghị định ngày 27-4 -1904 của toàn quyền Đông Dương
là Jean Baptiste Paul Beau có tên là trường Jules Ferry Nam Định (Collège
Jules Ferry).
Trường hoạt động được 4 năm thì ngày 9-12-1908, Toàn quyền Đông Dương A.
Klobukowski ký Nghị định hợp nhất 2 trường: Trường Thông ngôn Hà Nội (được
thành lập từ năm 1886, đến năm 1904 trường đổi tên là trường Thành chung Hà Nội
(Ecole Complémentaire de Hanoi) và trường Julies Ferry Nam Định thành trường
Trung học Bảo hộ Hà Nội (Collège du
Protectorat Ha Noi). Học sinh học trường Thành chung Nam Định từ
năm 1908 phải lên Hà Nội học. Trường Thành chung Nam Định cũng như sau này là
trường Trung học Bảo hộ từ khi thành lập đến niên học 1924-1925 chỉ dạy 2 bậc học
là Tiểu học (Petit Collège) và Cao đẳng tiểu học (Grand Collège). Bậc tiểu học
học 4 năm và bậc Cao đẳng tiểu học 5 năm.
Từ năm 1918, bậc cao đẳng tiểu học chỉ còn học 4 năm.
Năm 1920, Toàn quyền Đông Dương Maurice Long ra Nghị định ngày 24-8-1920
tái lập trường Thành chung Nam Định lấy tên là Cours Complémentaire de Nam Định.
( Lớp thành chung Nam Định)[1]. Năm 1928, Trường
Thành chung Nam Định được đổi thành trường Cao đẳng tiểu học Nam Định. (Ecole
primaire supérieure de Nam Định).
Trường Thành chung Nam Định học chương trình Cao đẳng tiểu học gồm 4
năm. Các môn học toán, lý, hóa, sinh, Pháp văn, lịch sử Pháp, lịch sử Việt Nam…
đều học bằng tiếng Pháp, Quốc ngữ và Hán văn chỉ học mỗi tuần 1 giờ. Sau khi tốt
nghiệp, học sinh có bằng Cao đẳng Tiếu học. Năm học 1922-1923, Học sinh học bậc
Cao đẳng Tiểu học ở trường Thành chung Nam định là 80 học sinh, chiếm hơn 25%
so với tổng số học sinh Cao đẳng tiểu học
trên toàn quốc.[2]
Học phí để theo học trường Thành Chung mỗi tháng là 4 $, là khá cao so với
thu nhập của đông đảo nhân dân, chưa kể lệ phí cho mỗi kỳ thi là 8$. Vì cả Nam
Định chỉ có một trường Thành chung Nam Định đào tạo bậc Cao đẳng tiểu học, nên
tất cả học sinh ở các phủ huyện, làng xã, sau khi tốt nghiệp tiểu học, muốn tiếp
tục học lên đều phải lên Nam Định để học, hoặc sang các trường Thành chung Thái
Bình, Thành chung Ninh Bình hoặc Hà Nội để học. Chi phí cho mỗi học sinh gồm cả
tiền học và tiền sinh hoạt, thuê nhà trọ, mỗi tháng hết 12$. Số tiền chi cho mỗi
một học sinh hàng năm bằng thu nhập từ hoa lợi hàng năm của 10 mẫu ta ruộng cho
cấy rẽ. Nếu muốn tiếp tục theo học bậc Trung học, phải lên Hà Nội học thì chi
phí cho mỗi học sinh 1 năm phải ngang với số thu nhập hoa lợi của 20 mẫu ta cho cấy rẽ.[3] Vì vậy khá nhiều học trò học giỏi nhưng gia
đình không đủ điều kiện cho học lên đã phải rẽ ngang sang học các trường dạy
nghề được cấp học bổng. Ví dụ như Đặng Xuân Đĩnh, con cụ Đặng Xuân Viện, cháu nội
cụ nghè Đặng Xuân Bảng nhưng gia đình cũng không lo đủ kinh phí cho ông lên học
ở trường Thành chung Nam Định, vì vậy, sau khi học xong tiểu học ở Xuân Trường,
ông phải sang Hải Phòng học trường nghề, là trường có cấp học bổng cho học sinh[4].
Khóa
học đầu tiên của trường Thành chung Nam Định sau khi tái lập mới chỉ có một lớp
với 45 học sinh và phải đi mượn một phòng học ở gần nhà Bưu điện hiện nay.
Trong thời gian đầu, vì chưa có cơ sở cố định, trường phải chuyển địa điểm nhiều
lần cùng với sự phát triển của trường. Năm học 1926-1927, trường có 7 lớp với gần
300 học sinh. Vì vậy lúc này Pháp đã cho xây
dựng (tại khu vực nay là trường tiểu học Phạm Hồng Thái) hai dãy nhà, mỗi
dãy có bốn lớp học bằng tường gạch, mái ngói. Sân trường rộng rãi
có cây xanh. Năm 1937-1938, trường có địa điểm mới ở khu vực đầu đường Cổng Hậu
hiện nay với các phòng học, phòng thí nghiệm khang trang cho khoảng 8 lớp học với
400 học sinh. Hiệu trưởng đầu tiên của trường là Charles Patris, một Giáo sư
văn học từng viết nhiều sách về Việt Nam. Ngay từ năm 1925, trường đã có nhiều
giáo viên người Việt Nam như Trần Văn Hòa, Dương Quảng Hàm, Phan Thế Roanh, Ngô
Duy Cừ, Đào Văn Định, Nguyễn Văn Chính, Vũ Tam Thám, Đỗ Hữu Phúc…
Là
trường Cao đẳng Tiểu học duy nhất của Nam Định trong những năm đầu thế kỷ XX,
trường Thành chung Nam Định là một trung tâm đào tạo nhân tài. Nhiều trí thức lớn
có nhiều đóng góp cho đất nước đã trưởng thành từ mái trường này như Đặng Xuân
Khu (Trường Chinh), Nhà cách mạng Nguyễn Đức Cảnh, Đặng
Châu Tuệ, Nguyễn Văn Hoan, Nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, ), GS.TS Bác
sĩ, anh hùng quân đội Phạm Gia Triệu, GS. Bác sĩ Nguyễn Sĩ Quốc, nhà văn Nam
Cao, Trần Lê Văn, Đặng Thế Phong….
Học trò trường Thành chung Nam Định cũng
hăng hái tham gia vào các cuộc vận động yêu nước đầu thế kỷ XX. Năm 1925-1926,
nhiều học sinh trường Thành Chung đã tham gia phong trào đòi thả cụ Phan Bội
Châu, bãi khóa đòi tổ chức Lễ truy điệu Phan Châu Trinh, nhiều người tích cực
tham gia vào các phong trào yêu nước và các tổ chức cách mạng như Hội Việt Nam cách mạng thanh niên,
Việt Nam Quốc dân Đảng, Đảng cộng sản Việt Nam…
Tài liệu tham khảo
-
Bối cảnh xã hội dẫn đến sự ra đời của trường Thành Chung Nam Định năm 1920 http://thpt-lehongphong-nd.edu.vn/lich-su-truong-555/ky-1-bo%CC%81i-ca%CC%89nh-xa%CC%83-ho%CC%A3i-da%CC%83n-de%CC%81n-su%CC%A3-ra-do%CC%80i-cu%CC%89a-truo%CC%80ng-tha%CC%80nh-chung-nam-di%CC%A3nh-nam-1920-3334.html
- Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng, Tác giả
tự xuất bản Melun. In tại Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chateau- 400 Liège-
Belgique
-
Địa chí Nam Định (2002), NXB Chính trị quốc gia
-Nguyễn
Anh (1967) “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến
chiến
tranh thế giới lần thứ nhất”, T/C NCLS số 98
-
Nguyễn Anh (1967) “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau Đại chiến thế giới lần
thứ nhất đến cách mạng tháng Tám”, T/C NCLS số102
-
Trần Thị Phương Hoa (1912), Giáo dục Pháp
Việt ở Bắc Kỳ (1884-1945), NXB KHXH
-Trịnh
Văn Thảo (1995), Trường học Pháp ở Đông
Dương, bản dịch NXB Carthala, Paris
Từ khóa: Giáo dục Pháp- Việt
[1]
Lớp thành chung (Cours Complémentaire)
hay trường Thành chung ( Ecole
complémentaire) đều dạy theo chương trình Cao đẳng tiểu học, chỉ khác
nhau về quy mô, Trường thành chung mỗi năm tuyển 2 lớp đệ nhất ( khoảng 80 học
sinh), còn Lớp Thành chung thường chỉ tuyển một lớp đệ nhất 40 học sinh. Theo
ĐặngHữu Thụ, sdd
[2]
Trịnh Văn Thảo (1995) Nhà trường Pháp ở Đông Dương, ( Bản dịch ), NXB Carthala,
Paris, tr130
[3]
Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng
(Melun, tr192-193
[4]
Đặng Xuân Đĩnh (2012) Thân thương cuộc
đời , Ký, NXB Văn học
* Bài đã được đăng trong Địa chí Nam Định tập 2 ( 2025), NXB Hồng Đức
[1]
Lớp thành chung (Cours Complémentaire)
hay trường Thành chung ( Ecole
complémentaire) đều dạy theo chương trình Cao đẳng tiểu học, chỉ khác
nhau về quy mô, Trường thành chung mỗi năm tuyển 2 lớp đệ nhất ( khoảng 80 học
sinh), còn Lớp Thành chung thường chỉ tuyển một lớp đệ nhất 40 học sinh. Theo
ĐặngHữu Thụ, sdd
[2]
Trịnh Văn Thảo (1995) Nhà trường Pháp ở Đông Dương, ( Bản dịch ), NXB Carthala,
Paris, tr130
[3]
Đặng Hữu Thụ (1999) Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng
(Melun, tr192-193
[4]
Đặng Xuân Đĩnh (2012) Thân thương cuộc
đời , Ký, NXB Văn học
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét