Đặng Thị Vân Chi
Đặng Xuân Viện sinh năm 1880
tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông
có tên tự là Mậu Bá, tục danh là Bốn Đễ, và nhiều bút danh như: Phục Ba, Thiện
Đình, Đặng Nguyên Khu, Đặng Viết Nhiêu.
Ông là con thứ tư của cụ Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng,
một nhà khoa bảng nổi tiếng ở Bắc Kỳ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sinh ra trong một gia đình có
truyền thống khoa bảng ở làng Hành Thiện nổi tiếng hiếu học, vốn là người thông
minh, ông được cho theo Nho học từ sớm. Là con trai của TS Đặng Xuân Bảng, ông
có người thầy nổi tiếng học rộng, đạo đức là cha mình và từ nhỏ cho đến khi
trưởng thành, ông luôn được đắm mình trong thư viện Hy Long đồ sộ của cha nên ông có
điều kiện trau dồi và mở mang kiến thức nhưng không theo khoa cử đến cùng vì
thời thế thay đổi. Ông từng tham dự kỳ thi hương một lần năm ngoài 20 tuổi
nhưng không đậu. Sau lần dự thi duy nhất đó, ông không đi thi nữa. Ông có 4 năm
làm Thừa phái ở Hưng Yên và Hòa Bình, sau đó xin nghỉ. Thời kỳ phong trào Đông Kinh Nghĩa thục phát triển ông có tham gia
nên bị Pháp theo dõi và quản thúc tại quê nhà. Từ đó, ông bắt đầu nghiên cứu
lịch sử, địa lý, viết sách, sáng tác thơ văn và làm báo.
Đầu thập niên 1920, ông tham gia thành lập Nam Việt Đồng Thiên Hội
ở Nam Định và cùng các thành viên trong nhóm biên soạn bộ Minh Đô sử gồm 100 quyển. Minh
Đô sử có tên đầy đủ là Tân Đính Nam Á đại Minh đô đế quốc quốc sử
vựng toản Xuân thu đại toàn quyển chi thủ, tác giả là Lê Trọng Hàm và các
cộng sự. Đây là một bộ sách đồ sộ ghi chép về Lịch sử nước Việt Nam trong vòng
1 hoa giáp (60 năm tính từ năm 1762 đến năm 1822), từ khi Gia Long mới lọt lòng
đến ngày đoạn tang vua Gia Long, nhưng bộ sách này không chỉ gói gọn trong 60
năm mà có nhiều nội dung, mở rộng trong khoảng thời gian 100 năm: 20 năm trước
năm 1762 và 20 năm sau 1822. Cách trình bày của sách được ghi trong phàm lệ là
“theo chính sử, nhặt cả các dã sử, khảo thêm các sách biên niên Âu Mỹ, các cuốn
biệt kỷ Trung Tây, đến cả các môn loại liệt truyện, các họ to, sách địa dư, các
cổ tích, các tập văn, bi ký, tiếng nôm, tôn giáo, sông núi, sản vật, không một
điều gì không chép rõ, chép kỹ bất cứ việc gì….”. Như vậy rõ ràng Minh Đô sử, dù còn điểm này điểm kia không
tránh khỏi thiếu sót, nhưng các tác giả đã cố gắng viết một quyển sách lịch sử
Việt Nam theo phương pháp mới, có tính liên ngành, hiện đại, toàn diện, và đặt
trong bối cảnh toàn cầu. Phần đóng góp của Đặng Xuân Viện trong bộ sách này là
mục Hà phòng quản kiến, nói về việc
đắp đê phòng lụt và nông nghiệp.
Ngoài Minh Đô sử tham gia cùng nhóm Nam Việt Đồng
Thiên Hội, biên soạn sách
Hán văn sơ học tiệp giải, viết bằng chữ Quốc ngữ in năm 1941, giảng dạy về
nghĩa các chữ Hán và cuốn Vô danh anh hùng, sách chữ Hán về các anh
hùng vô danh, Hữu danh anh hùng, sách chữ Hán về các anh hùng trong lịch sử Việt Nam, Hành Thiện xã chí , 4 tập,
ông còn được biết đến nhiều với tư cách là một học giả, một nhà nghiên cứu và
một nhà báo. Hiện chúng tôi tập hợp được 40 bài khảo cứu và 5 bài dịch[1] của ông đăng trên Nam Phong tạp chí, đặc biệt trong các
năm 1929-1930, 1931… Trong những năm này, mỗi số (1 tháng 1 số, thỉnh thoảng có
số gộp luôn cả 2 tháng) ông thường có 2 bài, cũng không ít số có tới ba bài. Có
lẽ vì vậy mà ông có rất nhiều bút danh. Trong một số có từ 2 đến 3 bài, ông
dùng 2-3 bút danh khác nhau. Hiện có thể tìm thấy trên Nam Phong tạp chí ngoài lấy tên Đặng Xuân Viện còn có các bút danh
Đặng Nguyên Khu, Thiện Đình và Phục Ba. Từ năm 1932 trở về sau đến năm 1934 khi
Nam Phong đình bản thì hầu như không còn thấy các bài viết của ông trên Nam
Phong nữa.
Các bài viết của ông trên Nam Phong
có thể chia làm mấy nhóm:
Nhóm bài ông quan tâm nhất là các bài
khảo cứu lịch sử. Những bài khảo cứu lịch sử của ông bao gồm cả các bài về một
giai đoạn, một thời kỳ lịch sử hoặc 1 triều đại, một vương triều như: Nam sử tập biên (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 2-1930); Hậu Lê chính
trị (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 1-1932); Nhuận Hồ Tiểu sử (Thiện Đình Nam phong tạp
chí tháng 5-1930); Vua Lê chúa Trịnh (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng12-1929); Lịch
sử Tây Sơn (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 11-1928); Trần Nguyên chiến kỷ (Thiện
Đình, Nam phong tạp
chí tháng 11 và 12-1931); Chuyện cũ nước Nam (Phục Ba, Nam phong tạp
chí tháng 5-1930);
Chiêm Thành ngoại sử (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 4-1931); Nước Nam về đời nội thuộc nhà Đông Hán (Phục
Ba, Nam phong tạp
chí tháng
5-1931).
Ông cũng dành nhiều tâm sức
cho các nhân vật lịch sử, đặc biệt nhưng vị anh hùng chống ngoại xâm giành độc
lập dân tộc, cũng như những tấm gương đóng góp nhiều cho nhân dân, đất nước
như: Lịch sử Nguyễn Hữu Cầu (Thiện Đình, Nam phong tạp
chí tháng 3 và 4-1929); Triệu Úy Đà (Đặng
Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng Tháng 3-1931); Ngô Vương
Quyền (Thiện Đình, Nam phong tạp
chí tháng 4-1931);
Lược sử vua Lý Nhân Tôn (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng 6-1931); Lịch sử chúa Lam Sơn,
Chuyện Lê Lợi, (Phục Ba biên dịch , Nam phong tạp
chí tháng 8-1929); Nguyễn Tựu Tiên sinh truyện (Thiện
Đình Nam phong tạp
chí tháng 7-1930); Ức Trai thi tập (Thiện
Đình Nam phong tạp chí tháng 11-1929); Mạc gia tiểu sử (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng1-1930); Thanh Bạch tiên
sinh (Đặng
Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng 7-1929); Phạm Thế Lịch
tiên sinh truyện (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 2-1930); Chuyện Cống Chỉnh (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 12-1930); Hy Long Di
thặng, Dật sử một nhà Nho nước Nam: Cụ Đặng Xuân Bảng, tự Hy Long (Đặng Nguyên Khu, Nam phong tạp
chí 9 kỳ
liên tiếp từ tháng 8-1928 đến tháng 7 năm 1929).
Điều đáng lưu ý trong các bài khảo
cứu lịch sử của ông là ông không chỉ dừng lại ở những sự kiện lấy từ chính sử
mà ông còn sử dụng cả các tư liệu dã sử,
và kết hợp mô tả các yếu tố địa lý,
nhấn mạnh mô tả cương vực, điều kiện địa lý khí hậu và các nhân tố khác.
Ví dụ như trình bày Nam Sử tập biên phần Hùng Vương nghị sử ông khảo
tả đầy đủ các nhân tố Cương giới, Chủng loại, Thế thứ, Phong tục, Nghề nghiệp…
Nhóm bài viết
thứ hai là các sách và bài khảo cứu có tính địa phương chí như Nam
Định địa dư nhân vật khảo (Thiện
Đình, Nam phong tạp
chí tháng 7-1931); - Nam Kỳ địa chí (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 5-1931); Ninh Bình phong vật chí
(Thiện Đình Nam phong tạp
chí tháng 6-1931); Phong tục Hòa Bình (Đặng
Xuân Viện, Nam Phong tạp chí tháng
11/1930); Gia Định tam hùng (Đặng
Xuân Viện Nam phong tạp
chí tháng 8 và 9-1931); Hành Thiện xã
chí.
Các bài khảo cứu địa phương chí của
ông thường được trình bày toàn diện theo phương pháp liên ngành, mang đầy đủ
đặc điểm của một công trình nghiên cứu Khu vực học. Đặc biệt cuốn Hành Thiện xã chí 4 tập của ông là cuốn địa phương chí cấp xã một
cuốn sách thuộc lĩnh vực khu vực học điển hình về một đơn vị cấp cơ sở là xã
được biên soạn và trình bày rất khoa học, có nhiều tư liệu có giá trị cho nghiên
cứu sử học, địa lý học, văn hóa học và dân tộc học…
Nhóm thứ 3 mà ông quan tâm và cũng là mảng ông
có nhiều đóng góp đó là các bài viết du khảo: Định Hóa châu
du ký (Đặng
Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng 12-1929);
Quảng Xương danh thắng, (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 9-1930); Đông Sơn hoài cổ, (Phục Ba Nam phong tạp chí tháng 8-1930); Cuộc đi chơi Huế (1930), (Phục Ba Nam phong tạp chí tháng 9-1930); Tây Đô thắng tích, (Thiện Đình Nam
phong tạp chí tháng 3-1931); Thụy Anh
du ký (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp
chí tháng 7-1931)...
Tuy viết du khảo, kể những
chuyến đi, nhưng sự khảo tả kỹ càng toàn diện của ông ở mỗi vùng đất ông đến là
nguồn sử liệu, nhân học, nhân học văn hóa vô cùng bổ ích và có giá trị cho các
nhà nghiên cứu cũng như các độc giả mọi thời đại.
Ông cũng có những tác phẩm chuyên khảo
về văn hóa, tín ngưỡng, từ những nghi lễ thể hiện tín ngưỡng, tục lệ trong đời
sống theo đạo lý Nho giáo, đạo Mẫu cho đến Phật giáo. Các bài khảo cứu về các
vị Thiền sư của ông còn cung cấp những tri thức về Phật giáo và lịch sử Phật
giáo Việt Nam. Đó là các bài: Nghi lễ phổ thông (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 1,
2,3,4,5,6-1930); Truyện Đức Dương Không Lộ (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 8-1929); Truyện Đức Hương Hải thiền sư - Ông Tổ Cầu (Thiện
Đình Nam phong tạp chí tháng 1 và 2-1929); Truyện Nữ thần Vân Cát (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 11-1930); Y phái của nước ta (Phục
Ba, Nam phong tạp chí tháng
10-1931); Tổ quốc phong thi.
Mặc dù trong lời tựa
cho bài Tổ quốc phong thi (Thiện Đình Nam phong tạp
chí tháng 9 và tháng 10-1929) ông nói rằng: “Tôi đây học ít tài hèn, không
đáng gọi là người yêu nước, không đáng gọi là người mến cổ”, nhưng với quan niệm
của ông “có tổ quốc thì có văn chương, văn chương là tinh thần của tổ quốc, dẫu
tang thương biến cải mà văn chương vẫn còn, văn chương còn thì hồn nước còn, hồn
nước còn thì văn chương in vào óc ta, khiến cho ta không bao giờ quên được. Văn
chương ấy thật là quốc túy của mình, đáng nên quý, đáng nên chuộng mà ta không
biết quý chuộng thì đối với Tổ quốc chả là hờ hững lắm du”[2]
thì việc ông sưu tầm, tập hợp các câu ca
dao, tục ngữ, ngạn ngữ mà ông cho rằng đó mới là văn chương đích thực của tổ quốc
mình đã thể hiện trách nhiệm và tình yêu sâu sắc của ông đối với đất nước, đối
với nhân dân. Con trai ông là Nhà giáo Nhân dân Đặng Xuân Đĩnh kể trong Hồi
ký của mình rằng:
“Ông sưu tầm phương ngôn tục ngữ có tính giáo dục và răn đời, sắp xếp có hệ
thống và viết thành sách có lời bình, lấy tên là “nói có sách” và bỏ tiền ra
in. Tôi gợi ý: Thầy in ra thì bán cho ai?” Ông trả lời: “Biết vậy, thầy in cho
đời sau”[3].
Không chỉ là một nhà nghiên cứu, một
học giả, ông cũng còn làm thơ. Các bài thơ cũng như các bài khảo cứu lịch sử
của ông luôn đề cao tinh thần dân tộc. Ông từng được nhận giải nhất và một giải
nhì trong cuộc thi thơ do báo Đông Pháp
tổ chức năm 1928. Giải nhất cho một bức hoành phi có ba chữ Ngọc kỳ âm
(tiếng nói trong như ngọc) và giải nhì cho một đôi câu đối...
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ông
tiếp tục làm thơ, có một số bài thơ chữ Hán và quốc văn trên tinh thần động
viên kháng chiến chống Pháp và ca ngợi Hồ Chủ tịch.
Ông không chỉ là
nhà nghiên cứu, một học giả có nhiều bài viết về lịch sử, về địa phương chí,
những bài du khảo, những bài khảo cứu văn học… có giá trị, ông còn là nhà yêu nước.
Tinh thần yêu nước của ông được thể hiện qua những bài viết, qua những công
trình nghiên cứu của ông. Ông không màng danh lợi, chỉ với một mục đích là “để
cho đời sau” cái “hồn nước” vì theo ông: “Cổ nhân mất, thơ văn của cổ nhân chưa
mất, thời thơ văn của Tổ quốc vẫn còn, cái óc, cái lưỡi của cổ nhân còn ký thác
trong văn chương này mà phong tục chính trị của Tổ quốc vẫn còn được phô diễn ở
văn chương này”.
Đặc biệt tinh thần
yêu nước cao cả của ông còn được kết tinh trong sự nuôi dậy, sự luôn ủng hộ và
sẵn sàng cống hiến cho đất nước và nhân dân những người con của mình, đặc biệt
là người con trai cả của ông là Tổng Bí thư Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) một
chiến sĩ cách mạng, một lãnh tụ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân
tộc Việt Nam.
Ông tạ thế năm 1958
tại Hà Nội, hưởng thọ 78 tuổi. Ông và gia đình đã vinh dự được trao tặng bảng
vàng danh dự “Gia đình có công với nước”. Tên ông được trân trọng đặt cho một
đường phố ở phường Cửa Bắc thành phố Nam Định.
Tài liệu tham khảo:
- Nam
Phong tạp chí từ năm 1917-1934.
- Đặng
Xuân Đĩnh (2013) Thân thương cuộc đời, phần 5
https://trieuxuan.vn/Than-thuong-cuoc-doi-5/
- Nguyễn Hữu Sơn (2017), Đặng Xuân Viện với
thể tài du ký. Văn nghệ, số 16, ra ngày 1-7-2017.
- Nguyễn Hữu Sơn, Học giả, ký giả Đặng Xuân Viện
với Định Hóa châu du ký https://www.vannghethainguyen.vn/hoc-gia-ky-gia-dang-xuan-vien-voi-dinh-hoa-chau-du-ky-p3446.html
- Đặng
Hữu Thụ (2007) Làng Hành Thiện và các nhà
Nho Hành Thiện triều Nguyễn, In tại Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chaateau-
400 Liège- Belgique
- Đặng Hữu Thụ (1999), Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm
1954, Quyển thượng. In tại Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chaateau- 400
Liège- Belgique
[1] Tập
thơ đi Tây của Đức Khải Định, Đặng Xuân Viện phụng dịch, Nam phong tạp chí
tháng 11-1930, Hồn du ký (Ảo tưởng tiểu thuyết) Thiện Đình dịch, Nam
phong tạp chí tháng 7-1929, Khảo về Sử Ấn Độ (theo sách Tầu), Phục
Ba biên dịch, Nam phong tạp chí tháng 2-1932, Lịch sử chúa Lam Sơn
(Lê Lợi) Phục Ba biên dịch , Nam phong tạp chí tháng 8-1929).
[2] Thiện Đình, Nói có sách, Nam
phong tạp chí tháng 5-1929, tr.210
[3] Đặng
Xuân Đĩnh, Thân Thương cuộc đời, phần 5
https://trieuxuan.vn/Than-thuong-cuoc-doi-5/
Hà Nội tháng 10 năm 2023
* Bài đã đăng trong
1. Nhà báo Quốc Phong ( chủ biên) ( 2024)" Hành Thiện ngôi làng hình cá chép- Lịch sử và huyền thoại", tập 2, NXB Thanh niên,
2. Địa chí Nam Định, tập 5 Nhân vật chí ( 2025), NXB Hồng Đức,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét