Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Đặng Xuân Viện (1880-1958) *

 

                                                                                 Đặng Thị Vân Chi

    Đặng Xuân Viện sinh năm 1880 tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông có tên tự là Mậu Bá, tục danh là Bốn Đễ, và nhiều bút danh như: Phục Ba, Thiện Đình, Đặng Nguyên Khu, Đặng Viết Nhiêu.  Ông là con thứ tư của cụ Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, một nhà khoa bảng nổi tiếng ở Bắc Kỳ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng ở làng Hành Thiện nổi tiếng hiếu học, vốn là người thông minh, ông được cho theo Nho học từ sớm. Là con trai của TS Đặng Xuân Bảng, ông có người thầy nổi tiếng học rộng, đạo đức là cha mình và từ nhỏ cho đến khi trưởng thành, ông luôn được đắm mình trong thư viện Hy Long đồ sộ của cha nên ông có điều kiện trau dồi và mở mang kiến thức nhưng không theo khoa cử đến cùng vì thời thế thay đổi. Ông từng tham dự kỳ thi hương một lần năm ngoài 20 tuổi nhưng không đậu. Sau lần dự thi duy nhất đó, ông không đi thi nữa. Ông có 4 năm làm Thừa phái ở Hưng Yên và Hòa Bình, sau đó xin nghỉ. Thời kỳ phong trào Đông Kinh Nghĩa thục phát triển ông có tham gia nên bị Pháp theo dõi và quản thúc tại quê nhà. Từ đó, ông bắt đầu nghiên cứu lịch sử, địa lý, viết sách, sáng tác thơ văn và làm báo.

         Đầu thập niên 1920, ông tham gia thành lập Nam Việt Đồng Thiên Hội ở Nam Định và cùng các thành viên trong nhóm biên soạn bộ Minh Đô sử gồm 100 quyển. Minh Đô sử tên đầy đủ là Tân Đính Nam Á đại Minh đô đế quốc quốc sử vựng toản Xuân thu đại toàn quyển chi thủ, tác giả là Lê Trọng Hàm và các cộng sự. Đây là một bộ sách đồ sộ ghi chép về Lịch sử nước Việt Nam trong vòng 1 hoa giáp (60 năm tính từ năm 1762 đến năm 1822), từ khi Gia Long mới lọt lòng đến ngày đoạn tang vua Gia Long, nhưng bộ sách này không chỉ gói gọn trong 60 năm mà có nhiều nội dung, mở rộng trong khoảng thời gian 100 năm: 20 năm trước năm 1762 và 20 năm sau 1822. Cách trình bày của sách được ghi trong phàm lệ là “theo chính sử, nhặt cả các dã sử, khảo thêm các sách biên niên Âu Mỹ, các cuốn biệt kỷ Trung Tây, đến cả các môn loại liệt truyện, các họ to, sách địa dư, các cổ tích, các tập văn, bi ký, tiếng nôm, tôn giáo, sông núi, sản vật, không một điều gì không chép rõ, chép kỹ bất cứ việc gì….”. Như vậy rõ ràng Minh Đô sử, dù còn điểm này điểm kia không tránh khỏi thiếu sót, nhưng các tác giả đã cố gắng viết một quyển sách lịch sử Việt Nam theo phương pháp mới, có tính liên ngành, hiện đại, toàn diện, và đặt trong bối cảnh toàn cầu. Phần đóng góp của Đặng Xuân Viện trong bộ sách này là mục Hà phòng quản kiến, nói về việc đắp đê phòng lụt và nông nghiệp.

           Ngoài Minh Đô sử tham gia cùng nhóm Nam Việt Đồng Thiên Hội, biên soạn sách Hán văn sơ học tiệp giải, viết bằng chữ Quốc ngữ in năm 1941, giảng dạy về nghĩa các chữ Hán và cuốn Vô danh anh hùng, sách chữ Hán về các anh hùng vô danh,  Hữu danh anh hùng, sách chữ Hán về các anh hùng trong lịch sử Việt Nam, Hành Thiện xã chí , 4 tập, ông còn được biết đến nhiều với tư cách là một học giả, một nhà nghiên cứu và một nhà báo. Hiện chúng tôi tập hợp được 40 bài khảo cứu và 5 bài dịch[1] của ông đăng trên Nam Phong tạp chí, đặc biệt trong các năm 1929-1930, 1931… Trong những năm này, mỗi số (1 tháng 1 số, thỉnh thoảng có số gộp luôn cả 2 tháng) ông thường có 2 bài, cũng không ít số có tới ba bài. Có lẽ vì vậy mà ông có rất nhiều bút danh. Trong một số có từ 2 đến 3 bài, ông dùng 2-3 bút danh khác nhau. Hiện có thể tìm thấy trên Nam Phong tạp chí ngoài lấy tên Đặng Xuân Viện còn có các bút danh Đặng Nguyên Khu, Thiện Đình và Phục Ba. Từ năm 1932 trở về sau đến năm 1934 khi Nam Phong đình bản thì hầu như không còn thấy các bài viết của ông trên Nam Phong nữa.

          Các bài viết của ông trên Nam Phong có thể chia làm mấy nhóm:

          Nhóm bài ông quan tâm nhất là các bài khảo cứu lịch sử. Những bài khảo cứu lịch sử của ông bao gồm cả các bài về một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử hoặc 1 triều đại, một vương triều như: Nam sử tập biên (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 2-1930); Hậu Lê chính trị (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 1-1932); Nhuận Hồ Tiểu sử (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 5-1930); Vua Lê chúa Trịnh (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng12-1929); Lịch sử Tây Sơn (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 11-1928); Trần Nguyên chiến kỷ (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 11 và 12-1931); Chuyện cũ nước Nam (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 5-1930); Chiêm Thành ngoại sử (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 4-1931); Nước Nam về đời nội thuộc nhà Đông Hán (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 5-1931).

        Ông cũng dành nhiều tâm sức cho các nhân vật lịch sử, đặc biệt nhưng vị anh hùng chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc, cũng như những tấm gương đóng góp nhiều cho nhân dân, đất nước như: Lịch sử Nguyễn Hữu Cầu (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 3 và 4-1929); Triệu Úy Đà (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng Tháng 3-1931); Ngô Vương Quyền (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng  4-1931); Lược sử vua Lý Nhân Tôn (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng 6-1931); Lịch sử chúa Lam Sơn, Chuyện Lê Lợi, (Phục Ba biên dịch , Nam phong tạp chí tháng 8-1929); Nguyễn Tựu Tiên sinh truyện (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 7-1930); Ức Trai thi tập (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 11-1929); Mạc gia tiểu sử (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng1-1930); Thanh Bạch tiên sinh (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng 7-1929); Phạm Thế Lịch tiên sinh truyện (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 2-1930); Chuyện Cống Chỉnh (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 12-1930); Hy Long Di thặng, Dật sử một nhà Nho nước Nam: Cụ Đặng Xuân Bảng, tự Hy Long (Đặng Nguyên Khu, Nam phong tạp chí 9 kỳ liên tiếp từ tháng 8-1928 đến tháng 7 năm 1929).

            Điều đáng lưu ý trong các bài khảo cứu lịch sử của ông là ông không chỉ dừng lại ở những sự kiện lấy từ chính sử mà ông còn sử dụng cả các tư liệu dã sử,  và kết hợp mô tả các yếu tố địa lý,  nhấn mạnh mô tả cương vực, điều kiện địa lý khí hậu và các nhân tố khác. Ví dụ như trình bày Nam Sử tập biên phần Hùng Vương nghị sử ông khảo tả đầy đủ các nhân tố Cương giới, Chủng loại, Thế thứ, Phong tục, Nghề nghiệp…  

Nhóm bài viết thứ hai là các sách và bài khảo cứu có tính địa phương chí như   Nam Định địa dư nhân vật khảo (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 7-1931); -  Nam Kỳ địa chí (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 5-1931); Ninh Bình phong vật chí (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 6-1931); Phong tục Hòa Bình (Đặng Xuân Viện, Nam Phong tạp chí tháng 11/1930); Gia Định tam hùng (Đặng Xuân Viện Nam phong tạp chí tháng 8 và 9-1931); Hành Thiện xã chí.

          Các bài khảo cứu địa phương chí của ông thường được trình bày toàn diện theo phương pháp liên ngành, mang đầy đủ đặc điểm của một công trình nghiên cứu Khu vực học. Đặc biệt cuốn Hành Thiện xã chí 4 tập của ông là cuốn địa phương chí cấp xã một cuốn sách thuộc lĩnh vực khu vực học điển hình về một đơn vị cấp cơ sở là xã được biên soạn và trình bày rất khoa học, có nhiều tư liệu có giá trị cho nghiên cứu sử học, địa lý học, văn hóa học và dân tộc học

           Nhóm thứ 3 mà ông quan tâm và cũng là mảng ông có nhiều đóng góp đó là các bài viết du khảo: Định Hóa châu du ký (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng 12-1929); Quảng Xương danh thắng, (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 9-1930); Đông Sơn hoài cổ, (Phục Ba Nam phong tạp chí tháng 8-1930); Cuộc đi chơi Huế (1930), (Phục Ba Nam phong tạp chí tháng 9-1930); Tây Đô thắng tích, (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 3-1931); Thụy Anh du ký (Đặng Xuân Viện, Nam phong tạp chí tháng 7-1931)...    

          Tuy viết du khảo, kể những chuyến đi, nhưng sự khảo tả kỹ càng toàn diện của ông ở mỗi vùng đất ông đến là nguồn sử liệu, nhân học, nhân học văn hóa vô cùng bổ ích và có giá trị cho các nhà nghiên cứu cũng như các độc giả mọi thời đại.

       Ông cũng có những tác phẩm chuyên khảo về văn hóa, tín ngưỡng, từ những nghi lễ thể hiện tín ngưỡng, tục lệ trong đời sống theo đạo lý Nho giáo, đạo Mẫu cho đến Phật giáo. Các bài khảo cứu về các vị Thiền sư của ông còn cung cấp những tri thức về Phật giáo và lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đó là các bài: Nghi lễ phổ thông (Thiện Đình, Nam phong tạp chí tháng 1, 2,3,4,5,6-1930); Truyện Đức Dương Không Lộ (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng  8-1929); Truyện Đức Hương Hải thiền sư - Ông Tổ Cầu (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 1 và 2-1929); Truyện Nữ thần Vân Cát (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 11-1930); Y phái của nước ta (Phục Ba, Nam phong tạp chí tháng 10-1931); Tổ quốc phong thi.

          Mặc dù trong lời tựa cho bài Tổ quốc phong thi (Thiện Đình Nam phong tạp chí tháng 9 và tháng 10-1929) ông nói rằng: “Tôi đây học ít tài hèn, không đáng gọi là người yêu nước, không đáng gọi là người mến cổ”, nhưng với quan niệm của ông “có tổ quốc thì có văn chương, văn chương là tinh thần của tổ quốc, dẫu tang thương biến cải mà văn chương vẫn còn, văn chương còn thì hồn nước còn, hồn nước còn thì văn chương in vào óc ta, khiến cho ta không bao giờ quên được. Văn chương ấy thật là quốc túy của mình, đáng nên quý, đáng nên chuộng mà ta không biết quý chuộng thì đối với Tổ quốc chả là hờ hững lắm du”[2] thì việc ông sưu tầm, tập hợp các câu ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ mà ông cho rằng đó mới là văn chương đích thực của tổ quốc mình đã thể hiện trách nhiệm và tình yêu sâu sắc của ông đối với đất nước, đối với nhân dân. Con trai ông là Nhà giáo Nhân dân Đặng Xuân Đĩnh kể trong Hồi ký của mình rằng: “Ông sưu tầm phương ngôn tục ngữ có tính giáo dục và răn đời, sắp xếp có hệ thống và viết thành sách có lời bình, lấy tên là “nói có sách” và bỏ tiền ra in. Tôi gợi ý: Thầy in ra thì bán cho ai?” Ông trả lời: “Biết vậy, thầy in cho đời sau”[3].

          Không chỉ là một nhà nghiên cứu, một học giả, ông cũng còn làm thơ. Các bài thơ cũng như các bài khảo cứu lịch sử của ông luôn đề cao tinh thần dân tộc. Ông từng được nhận giải nhất và một giải nhì trong cuộc thi thơ do báo Đông Pháp tổ chức năm 1928. Giải nhất cho một bức hoành phi có ba chữ Ngọc kỳ âm (tiếng nói trong như ngọc) và giải nhì cho một đôi câu đối...

         Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ông tiếp tục làm thơ, có một số bài thơ chữ Hán và quốc văn trên tinh thần động viên kháng chiến chống Pháp và ca ngợi Hồ Chủ tịch.

         Ông không chỉ là nhà nghiên cứu, một học giả có nhiều bài viết về lịch sử, về địa phương chí, những bài du khảo, những bài khảo cứu văn học… có giá trị, ông còn là nhà yêu nước. Tinh thần yêu nước của ông được thể hiện qua những bài viết, qua những công trình nghiên cứu của ông. Ông không màng danh lợi, chỉ với một mục đích là “để cho đời sau” cái “hồn nước” vì theo ông: “Cổ nhân mất, thơ văn của cổ nhân chưa mất, thời thơ văn của Tổ quốc vẫn còn, cái óc, cái lưỡi của cổ nhân còn ký thác trong văn chương này mà phong tục chính trị của Tổ quốc vẫn còn được phô diễn ở văn chương này”.

         Đặc biệt tinh thần yêu nước cao cả của ông còn được kết tinh trong sự nuôi dậy, sự luôn ủng hộ và sẵn sàng cống hiến cho đất nước và nhân dân những người con của mình, đặc biệt là người con trai cả của ông là Tổng Bí thư Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) một chiến sĩ cách mạng, một lãnh tụ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam.

        Ông tạ thế năm 1958 tại Hà Nội, hưởng thọ 78 tuổi. Ông và gia đình đã vinh dự được trao tặng bảng vàng danh dự “Gia đình có công với nước”. Tên ông được trân trọng đặt cho một đường phố ở phường Cửa Bắc thành phố Nam Định.  

 

Tài liệu tham khảo:

- Nam Phong tạp chí từ năm 1917-1934.

- Đặng Xuân Đĩnh (2013) Thân thương cuộc đời, phần 5 https://trieuxuan.vn/Than-thuong-cuoc-doi-5/

- Nguyễn Hữu Sơn (2017), Đặng Xuân Viện với thể tài du ký. Văn nghệ, số 16, ra ngày 1-7-2017.

- Nguyễn Hữu Sơn, Học giả, ký giả Đặng Xuân Viện với Định Hóa châu du ký https://www.vannghethainguyen.vn/hoc-gia-ky-gia-dang-xuan-vien-voi-dinh-hoa-chau-du-ky-p3446.html

- Đặng Hữu Thụ (2007) Làng Hành Thiện và các nhà Nho Hành Thiện triều Nguyễn, In tại Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chaateau- 400 Liège- Belgique 

- Đặng Hữu Thụ (1999), Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển thượng. In tại Nhà in Cyber. 108A, Rue Hors Chaateau- 400 Liège- Belgique 



[1] Tập thơ đi Tây của Đức Khải Định, Đặng Xuân Viện phụng dịch, Nam phong tạp chí tháng 11-1930, Hồn du ký (Ảo tưởng tiểu thuyết) Thiện Đình dịch, Nam phong tạp chí tháng 7-1929, Khảo về Sử Ấn Độ (theo sách Tầu), Phục Ba biên dịch, Nam phong tạp chí tháng 2-1932, Lịch sử chúa Lam Sơn (Lê Lợi) Phục Ba biên dịch , Nam phong tạp chí tháng 8-1929).

[2] Thiện Đình, Nói có sách, Nam phong tạp chí tháng 5-1929, tr.210

[3] Đặng Xuân Đĩnh, Thân Thương cuộc đời, phần 5 https://trieuxuan.vn/Than-thuong-cuoc-doi-5/

                                                                     Hà Nội tháng 10 năm 2023


* Bài đã đăng trong 

1. Nhà báo Quốc Phong ( chủ biên) ( 2024)" Hành Thiện ngôi làng hình cá chép- Lịch sử và huyền thoại", tập 2, NXB Thanh niên,

2. Địa chí Nam Định, tập 5 Nhân vật chí ( 2025),  NXB Hồng Đức, 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Đặng Xuân Viện (1880-1958) *

                                                                                    Đặng Thị Vân Chi      Đặng Xuân Viện sinh năm 1880 tại l...