Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Từ Lesopold Cadière: Nghĩ về những đóng góp của các giáo sĩ thừa sai với nghiên cứu Việt Nam


ĐÀO HÙNG
Tạp chí XƯA & NAY

Số 362 Tháng 8 – 2010


TƯỞNG NIỆM 55 NĂM NGÀY QUA ĐỜI CỦA LINH MỤC CADIÈRE (1955-2010), MỘT TRONG NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐẶT NỀN MÓNG CHO NGHIÊN CỨU DÂN TỘC HỌC Ở VIỆT NAM, ỦY BAN VĂN HÓA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM VÀ TÒA TỔNG GIÁM MỤC GIÁO PHẬN HUẾ, SẼ TỔ CHỨC CUỘC HỘI THẢO VỀ “THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA LÉOPOLD CADIÈRE” TẠI TRUNG TÂM MỤC VỤ GIÁO PHẬN HUẾ. HỘI THẢO DIỄN RA TỪ NGÀY 7 ĐẾN NGÀY 9-9-2010, VỚI SỰ THAM GIA CỦA NHIỀU NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VÀ LỊCH SỬ TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI. NHẰM THÔNG TIN CHO BẠN ĐỌC VỀ CUỘC HỘI THẢO TRÊN, CHÚNG TÔI SẼ ĐĂNG MỘT SỐ BÀI THAM LUẬN TRÌNH BÀY TRONG HỘI THẢO NÀY.

     Léopold Cadière được đào tạo tại Chủng viện của Hội Truyền giáo hải ngoại Paris (MEP) và được thụ phong linh mục năm 1892. Ông xuất thân trong một gia đình trại chủ bình thường, không có truyền thống bác học, cũng không gần những trung tâm nghiên cứu khoa học của Pháp. Vốn tri thức của ông chắc cũng không ngoài những điều mà Hội truyền giáo hải ngoại cung cấp cho các giáo sĩ thừa sai để đi làm nhiệm vụ truyền giáo. Tuy không tiếp cận được chương trình đào tạo của các chủng viện, nhưng qua những gì đã được nhìn thấy, tôi có thể hình dung chương trình đào tạo phong phú và chặt chẽ của các chủng viện Pháp thời bấy giờ.
    Đến Việt Nam một tháng sau khi thụ phong linh mục, ông được đưa về Tiểu chủng viện An Ninh thuộc Quảng Bình, rồi tiếp tục làm cha xứ ở vùng quê này, xa các trung tâm tri thức của Việt Nam thời bấy giờ, nên chắc cũng không có dịp tiếp xúc nhiều với giới khoa học người Âu ở đất nước thuộc địa này. Nhưng với một giáo sĩ thừa sai thì điều quan trọng nhất là được tiếp xúc với những người dân mà mình có bổn phận chăn dắt.
    Vậy mà chính tại giáo xứ Cù Lạc, Cadière đã được gặp Louis Finot và thiếu tá Lunet de Lajon-quière trong chuyến đi công cán cho Học viện Viễn ĐÔng Bác cổ Pháp (EFEO) vừa mới thành lập. Louis Finot (1864-1935) là giám đốc đầu tiên của EFEO từ 1898 đến 1904, một nhà cổ tự học, chuyên gia về chữ Phạn, đã có nhiều công trình nghiên cứu văn bia Khmer, Lào và Chăm… Còn thiếu tá Lunet de Lajonquière là sĩ quan thuộc Trung đoàn 3 thuộc địa Bắc kỳ, cộng tác viên đầu tiên của EFEO từ 1899, nhà dân tộc học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tộc người thiểu số miền Bắc Việt Nam. Cuộc gặp gỡ giữa các học giả đã thành danh với một vị cha xứ trẻ tuổi vô danh ở cái xứ hẻo lánh này đã để lại những ấn tượng sâu đậm với các nhà nghiên cứu trên đường đi khảo sát văn hóa và lịch sử Việt Nam. Dù lúc đó Cadière chưa có công trình nghiên cứu gì đáng kể, nhưng chỉ qua tiếp xúc ban đầu, Louis Finot đã nhìn thấy ở ông một tài năng nghiên cứu đầy triển vọng. Họ đã kết bạn, và có lẽ đó sẽ là niềm khích lệ cho Cadière thêm tin tưởng trên bước đường nghiên cứu của mình. Sau này Louis Malleret, giám đốc EFEO từ 1950-1956, đã ghi lại rằng “Louis Finot thường nói, phát hiện đẹp nhất của mình trong chuyến công cán đầu tiên khảo sát Đông Dương chính là cha Cadière” (la plus belle découverte qu’il avait faite ló de son premier voyage d’exploration de l’Indochine était le R.P.Cadière).
     Ngay từ số đầu tiên của tập san Học viện Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), Cadière đã có bài viết nhan đề Tín ngưỡng và ngạn ngữ dân gian ở thung lũng Nguồn Son, ra mắt năm 1901. Như vậy chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm, sau khi đặt chân đến đất nước này, Cadière đã thông thạo tiếng Việt và đi vào nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam. Thông thạo tiếng bản địa là yêu cầu đầu tiên đối với các giáo sĩ thừa sai trong nhiệm vụ truyền giáo, đó cũng là chỗ khác nhau giữa những nhà nghiên cứu trong giáo hội với nhiều nhà nghiên cứu Pháp thời bấy giờ. Vì hầu như các nhà nghiên cứu Pháp thời đó, mặc dầu đã viết rất nhiều sách về Việt Nam nhưng vẫn chưa đọc được các tư liệu tiếng Việt mà phải dựa vào phần lớn là thư tịch Pháp hoặc Anh, tất nhiên trừ người rất thông thạo Hán Nôm chuyên về cổ tự học.
     Các công trình nghiên cứu đầu tiên của Cadière là về ngôn ngữ học, như ngữ âm học tiếng Việt, phương ngữ Mường, đồng thời nghiên cứu nhiều văn bản về lịch sử, như đã cộng tác với Paul Pel-liot để viết về Nghiên cứu bước đầu về nguồn tư liệu An Nam trong lịch sử An Nam đăng trên BEFEO năm 1094. Nhưng phải nói ông là người đặt nền móng cho nghiên cứu dân tộc học Việt Nam, đặc biệt các công trình của ông về tín ngưỡng dân gian ở địa phương nơi ông làm việc là những công trình có giá trị đổi mới, khác với nhiều trước tác của các nhà nghiên cứu trước đó thường nhìn các tín ngưỡng bản địa bằng con mắt kỳ thị. Cadière còn quan tâm đến việc sưu tầm cây cỏ, và đã có một vài nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ông đã cung cấp cho Bảo tàng lịch sử tự nhiên Pháp và nhiều cộng tác viên trên thế giới hàng nghìn mẫu cây cỏ tìm thấy ở Việt Nam, chủ yếu là tại Quảng Bình.
     Dù đã được công nhận là thành viên thông tấn của EFEO từ 1906, rồi đến tháng 10-1918 lại được công nhận là thành viên hưởng trợ cấp (pensionnaire), nhưng ông chỉ giữ danh nghĩa đó có 2 năm, vì ông từ chối không ra làm việc tại Hà Nội, mà vẫn tiếp tục giữ nhiệm sở tại Cửa Tùng. Tại đây ông đã xây dựng một nhà thờ, mở một trường học và lập nên một vườn bách thảo nổi tiếng vì những cây có dầu và cây dương xỉ hiếm.
     Nhưng có lẽ đóng góp lớn nhất của Cadière đối với nghiên cứu Việt Nam là việc thành lập Hội Đô thành hiếu cổ (Association des Amis du Vieux Hué – AAVH), mà ông là người khởi xướng. Sau này Cadière đã kể lại rằng: “Một hôm, tôi nói với vài người bạn rằng tôi rất đau lòng khi thấy những dấu vết của quá khứ bị hủy hoại và mất đi, và những người bạn đó, cùng chia sẻ mối quan tâm, đã cùng tôi thành lập Hội Đô thành Hiếu cổ. Đó là lý do đầu tiên đưa đến việc thành lập Hội”. Chính ông đã chủ động tiếp xúc với Léon-ard Aurousseau, thành viên của EFEO (sẽ trở thành giám đốc từ 1926-1929), lúc đó là thầy dạy vua Duy Tân, và bác sĩ quân y Albert Sallet, nhà nghiên cứu thực vật học, để đi đến quyết định thành lập một tổ chức nhằm mục đích: truyền bá văn hóa Việt Nam và bảo vệ các di tích văn hóa của đất nước này, chủ yếu là ở Huế. Ngày 16-11-1913, AAVH đã được thành lập tại Huế với 17 thành viên đầu tiên, đến từ các phương trời rất khác nhau: giáo sĩ thừa sai, quan chức thuộc địa, binh sĩ, nhà buôn, quan lại Nam triều. Tất cả đều làm việc tự nguyện không lương, cống hiến sức lực một cách vô tư ngoài những việc chuyên môn mà họ phải làm hàng ngày.
    Trong hơn 30 năm (từ 1913-1944), AAVH mặc dầu với số người ít ỏi, phương tiện làm việc chưa phải đầy đủ, nhưng đã gánh vác sứ mệnh “truyền đến cho các thế hệ mai sau tầm nhìn chân chính về Việt Nam xưa trước khi nó bị biến mất hẳn”. Tập san của Hội cùng với các tập san của EFEO và Hội Nghiên cứu Đông Dương đã trở thành nguồn tư liệu phong phú nhất để tìm hiểu Việt Nam xưa, mà Cadière đã có lý khi nói rằng: “Những ai muốn nghiên cứu các sự vật ở Huế và cả Việt Nam, đều phải tham khảo Tập san, nếu họ muốn làm một công việc đến nơi đến chốn” (báo cáo năm 1933).
      Sau cách mạng tháng Tám, linh mục Cadière vẫn tiếp tục ở lại Quảng Bình. Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông cùng 6 linh mục người nước ngoài khác bị chính quyền cách mạng quản thúc tại Vinh từ tháng 1-1947 đến tháng 6-1953. Trong thời gian đó, ông đã tranh thủ lúc bị giam giữ để ghi lại hồi ký của mình. Đó là hơn 1.500 trang viết bên lề của những cuốn sách in một cách thận trọng. Chính trong thời gian bị quản thúc đó mà ông đã được EFEO công nhận là thành viên danh dự năm 1948. Sau khi được trao trả về Huế năm 1953, linh mục Cadière từ chối không hồi hương, vì lúc đó ông đã 84 tuổi. Cadière qua đời tại Huế năm 1955.
      Cuộc đời của Léopold Cadière là cuộc đời của một linh mục cống hiến cho giáo dân, vì đó vẫn luôn luôn là mục đích chính của ông. Tìm hiểu và nghiên cứu về con người và văn hóa của những người dân mà mình có nhiệm vụ chăn dắt, cũng là một trách nhiệm trong công việc mục vụ, mà bất cứ một linh mục nào cũng phải làm. Nhưng với Cadière, ông đẩy cao lên đến mức nghiên cứu khoa học, mà vẫn không mâu thuẫn với công việc thường ngày của một cha xứ.
     Cùng thời với Cadière, thiết tưởng cũng nên nhắc đến linh mục Francois – Marie Savina (1876-1941), thụ phong linh mục tháng 6-1901, một tháng sau thì đến Bắc kỳ để được đưa lên Lào Cai tại vùng người Hmông, Từ 1906-1924, ông tiếp tục truyền giáo với người Hmông ở Vân Nam. Là một nhà nghiên cứu ngôn ngữ, ông là một trong những người Âu thời đó thông thạo tiếng Hmôngm và là tác giả của nhiều cuốn từ điển song ngữ như Từ điển Mèo – Pháp, Sách vỡ lòng Mèo – Pháp, Từ điển Tày – Việt – Pháp, Từ điển Pháp – Mán, Từ điển từ nguyên Pháp – Nùng – Hoa…
      Nhưng điều quan trọng là trong công việc mục vụ, ông đã trở thành người hiểu sâu về người Hmông, quan tâm đến những khát vọng của họ, và đã phát hiện ra những căng thẳng trong quan hệ giữa người Hmông với người Thái và người Giáy ở dưới thung lũng, để đi đến dự báo sắp có cuộc nổi dậy của người Hmông ở vùng này từ năm 1914. Những nhận định của ông về quan hệ bóc lột đối với người Hmông của các thổ ty Thái ở Lào Cai và Hưng Hóa là chính xác, nhưng lúc đầu chưa được nhà chức trách thuộc địa quan tâm. Bốn năm sau, cuộc khởi nghĩa của người Hmông bùng nổ, bắt đầu ở Lào Cai tháng 7-1918 và mãi đến tháng 3-1921 mới kết thúc ở Luang Prabang, mà tài liệu thuộc địa thời đó gọi là “cuộc chiến giữa các phù thủy”. Nhưng thực chất đó là một hiện tượng cứu thế (mesianique), do một thủ lĩnh Hmông là Pa Chay khởi xướng.
     Savina là người đã từng tiếp xúc với Pa Chay và là nhân chứng sáng suốt nhất của hiện tượng này ngay từ đầu. Chính vì vậy mà ông đã được Toàn quyền Đông Dương nhờ viết một báo cáo mật năm 1920 là “Báo cáo chính trị về cuộc nổi dậy của người Mèo ở Bắc kỳ”. Nhưng đáng tiếc là quan điểm của Savina đối với các hiện tượng tôn giáo và tín ngưỡng của người bản địa còn mang nhiều thành kiến của người Kitô giáo thời bấy giờ. Khi phân tích hiện tượng xưng vua của người Hmông – một hiện tượng cứu thế – thì ông lại đi đến chỗ gần như châm biếm, coi đó là những biểu hiện dị giáo. Ông không phân biệt được những nghi thức và biểu hiện của saman giáo với tín ngưỡng cứu thế, và đánh đổ đồng tất cả những thầy pháp Hmông là “phù thủy” mê tín dị đoan. Thái độ nghiên cứu của Savina vẫn là thái độ của người quan sát bên ngoài để đánh giá văn hóa của người bản địa, chưa hòa nhập được vào thế giới tâm linh của người Hmông, mặc dầu ông rất thông thạo tiếng nói và hiểu biết phong tục tập quán của người bản địa. Nên dù Savina đã để lại những công trình nghiên cứu dân tộc về người Hmông như Histoire des Miao (1924), nhưng đến nay ít được giới nghiên cứu nhắc đến.
       Là hai người cùng thời, có lẽ cũng được đào tạo gần như nhau, nhưng cách tiếp cận với đối tượng nghiên cứu của mỗi người một khác. Ta thấy ở Léopold Cadière một thái độ dấn thân hiếm có ở các nhà nghiên cứu đương thời, dù là nhà khoa học chuyên nghiệp hay là một giáo sĩ thừa sai làm nghề tay trái. Ngày nay, phương pháp nghiên cứu của Cadière không còn xa lạ với các nhà nhân học, mà sau Thế chiến thứ hai mới xuất hiện những đồ đệ của phương pháp “quan sát tham dự” (observation participative), nhưng với Cadière từ những năm giữa hai cuộc Thế chiến, mà đã có một thái độ nghiên cứu như vậy thì quả thật là hiếm có.
     Sau Thế chiến thứ hai, khi Việt Nam đang bước vào cuộc chiến tranh giải phóng, thì đã có những nhà dân tộc học tình nguyện đến sống với các tộc người Tây Nguyên, như Jean Boulbet đến với người Mạ năm 1946, Georges Condomi-nas đến với người Mnông Gar năm 1948, và đã để lại nhiều công trình nghiên cứu dân tộc học có giá trị. Trong khi Condominas sống với người Mnông suốt một chu kỳ sản xuất trong một năm, thì Boulbet lại đưa cả gia đình đến sống với các tộc người thiểu số trong nhiều năm trời, cùng chia sẻ những suy nghĩ và thế giới quan của đối tượng được nghiên cứu, mà trước hết là phải thông thạo ngôn ngữ của người dân địa phương.
     Trong những người thuộc thế hệ nghiên cứu sau chiến tranh này phải kể đến Jacques Dournes. Ông tham gia MEP sau khi được thụ phong linh mục năm 1945 lúc 24 tuổi, và được bổ nhiệm đến vùng người Srê ở Kala gần Di Linh. Ông đã ở lại Việt Nam 25 năm trên cao nguyên và trong thời gian đó đã hoàn thành 250 công trình. Ngoài những luận văn về thần học, ông còn để lại một kho tàng đồ sộ về dân tộc học Đông Nam châu Á với các tộc người chưa có chữ viết. Với ý thức dấn thân vào cuộc sống của cư dân bản địa, từ 1946 đến 1952, ông đã lần theo những con đường mòn của người địa phương, đi từ buôn nọ đến buôn kia bằng đôi chân như những người bản địa, suốt từ Phan Thiết đến Đà Lạt và Kontum. Sau này ông đã cho ra mắt cuốn Đi theo con đường của những người trên Cao Nguyên Việt Nam (Nxb Julliard, Paris, 1955, 251 trang), một cuốn sách trình bày về lịch sử, con người, những kiến thức về thực vật, các kỹ thuật và lối suy nghĩ của cư dân miền núi. Ông đã đi qua vùng trồng lúa nước của người Srê, vùng làm rẫy của người Raglai, Mạ và Nup. Những đêm thức nghe kể khan bên bếp lửa với tiếng cồng chiêng, cùng uống rượu cần, đã gợi lên cho Dournes những không gian tinh tế, những nghi thức và biểu tượng của phút giây cộng cảm. Ngoài những tìm hiểu về dân tộc học tôn giáo của người dân trong vùng, ông còn nắm bắt những khía cạnh kinh tế như con đường vận chuyển muối, những kho tàng Chăm ở vùng người Raglai, kỹ thuật canh tác, khoa học về chiêm tinh, so sánh về ngôn ngữ… Cho đến nay, ký ức của người dân Tây Nguyên về linh mục Dournes vẫn chưa phai mờ. Đó là vì cách nhìn của ông khác hẳn những nhà di thực hay các quan cai trị cũ ở vùng này: “Còn về cái mà ta thiếu để có thể thực sự đi vào bên trong, ta có thể bù lại bằng sự nhạy cảm thường trực và một mối thiện cảm vĩnh cửu. Ta chỉ có thể hiểu những người mà ta quí mến, bằng tình yêu thúc đẩy ta trở nên giống như họ, đi vào con người họ”.
     Đặc biệt về vấn đề tôn giáo, Jacques Dournes có một cái nhìn bao dung đối với tín ngưỡng của những người mà người Kitô giáo cho là “ngoại đạo” (les paiens). Một câu nói của ông đối với cư dân Tây Nguyên “Chúa yêu những người ngoại đạo” (Dieu aime les paiens), sau này trở thành nhan đề của một cuốn sách ông viết về thần học và dân tộc học.
      Trở về Pháp năm 1970, ông làm việc ở Trung tâm nghiên cứu khoa học Quốc gia CNRS, sau đó lui về miền tây – nam nước Pháp cho đến khi qua đời năm 1993. Ở Tây Nguyên, người dân đã làm cho ông một nhà mồ để tưởng nhớ đến người đã gắn bó cuộc đời với họ.
Đưa ra sự so sánh giữa hai nhà nghiên cứu cũng xuất thân là giáo sĩ thừa sai, nhưng sống cách nhau một nửa thế kỷ, tôi luôn nhấn mạnh đến những điểm tương đồng giữa hai người trong phương pháp nghiên cứu. Quả thật từ nửa sau của thế kỷ XX, về mặt phương pháp luận, ngành nhân học đã có những bước tiến dài, thoát khỏi quan điểm lấy châu Âu làm trung tâm (eurocentrisme). Khái niệm về “văn hóa” cũng được nhìn nhận lại, với những định nghĩa mới của Clifford Geertz, nhất là trong những phân tích về tôn giáo. Mặc dầu bước vào con đường nghiên cứu trong thời gian đầu của sự hình thành bộ môn dân tộc học, nhưng Cadière đã tránh khỏi những lầm lẫn của nhiều tác giả đương thời, chính là vì ông biết hòa nhập vào với đối tượng được khảo sát, bằng tình yêu chân thực đối với họ. Đấy là cái đáng trân trọng đối với di sản nghiên cứu về Việt Nam mà Cadière đã để lại cho chúng ta.
     Từ tập sách đầu tiên do Đỗ Trình Huệ dịch thuật (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, 1997), đến nay đã có thêm nhiều bản dịch khác. Nhưng vẫn còn nhiều di cảo của Cadière chưa được dịch thuật và chưa được công bố (kể cả bản tiếng Pháp). Mong rằng chúng ta sẽ tiếp tục khai thác tập hồi ký mà ông đã viết trong thời gian ở Vinh, cùng với những ghi chép trong “ký ức của một ông già Việt hóa” (Souvenirs d’un vieil annamisant) đã từng đăng tải trên các tập san nghiên cứu ở Hà Nội. Đó cũng là cách tưởng niệm thiết thực đối với Cadière, một người đã có nhiều đóng góp cho kho tàng nghiên cứu về Việt Nam.
—–
Xin giới thiệu bà con cuốn: Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam (1857 -1914) của GS Cao Huy Thuần.
BONUS
Người chuyên dịch tác phẩm của nhà nghiên cứu Léopold.Cadière:
“Đọc công trình của ông, tôi thấy bóng dáng ông bà mình, cha mẹ mình, nguồn cội mình...”


NDĐT - Đầu tháng 9, dịch giả Đỗ Trinh Huệ  vừa ra mắt bạn đọc ba tập sách (1.000 trang theo nguyên tác) với tựa đề: Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt do NXB Thuận Hóa ấn hành. Đây là tập hợp những bài viết đặc sắc trong số 250 bài và công trình nghiên cứu của L. Cadière, chủ bút tập sách Đô Thành Hiếu Cổ (Những người bạn Cố Đô Huế). Ông Đỗ Trịnh Huệ cho biết:

      Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt có 19 chương, gồm các phần:     Nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng; Gia đình và Đạo giáo của người Việt; Lăng tẩm vua chúa kể cả mộ phần thứ dân; ngoài ra còn một số chương mục bàn về tập tục và ngạn ngữ dân gian, đặc biệt về vũ trụ luận và nhân sinh quan người Việt qua ngôn ngữ... Dịch giả Đỗ Trinh Huệ đã làm việc cật lực suốt một năm liền để hoàn thành tập sách. Có lúc ông dịch đến sáng. Thậm chí cả lúc đi xa, ông cũng mang theo chiếc máy tính để tranh thủ làm việc.

      Điều gì khiến ông gắn bó với các bài viết của L.Cadière?

      Tôi tiếp cận những bài viết, công trình (tạm gọi là bài viết-BV) của L. Cadière từ lâu và bị hấp dẫn bởi những thông tin thú vị về văn hóa, dân tộc học. Năm 1997, tôi dịch Tế Nam Giao và in sách song ngữ Pháp - Việt. Năm 2000, lúc còn giảng dạy ở Trường ĐH Sư phạm Huế, tôi thực hiện đề tài cấp Bộ Nghiên cứu cách tiếp cận của L. Cadière với văn hóa Việt Nam, sau đó tôi ra quyển Văn hóa tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam. Quyển này được đông đảo bạn đọc đón nhận, sau đó phải tái bản thêm 1.000 cuốn. Ba tập sách tiếp theo là bản dịch thứ 5 của tôi nhân hội thảo Thân thế và sự nghiệp của L. Cadière được tổ chức tại Huế vào ngày 7, 8, 9 tháng 9.

       Nhiều dịch giả cho rằng, giỏi tiếng Pháp chưa chắc đã dịch đuợc những BV của L. Cadière?

      Đúng như vậy. Tôi đã nỗ lực hết mình mong truyền đạt đúng, đủ ý nghĩa những bài viết của L. Cadière. Dịch BV của ông phải am tường văn hóa Việt Nam, biết một ít thuật ngữ Latinh, Hy Lạp vì nhiều ý niệm, trích dẫn, L. Cadière dùng nguyên bản bằng Latinh hay Hy Lạp mà không dịch ra tiếng Pháp. Biết thêm chữ Nho thì càng hữu ích. Chẳng hạn, trong bài viết về hệ thống Ngự Hà ở Kinh thành, nếu không tìm hiểu thực địa hoặc không tìm đọc những chú thích bằng chữ Nho thì sẽ vội vã dịch theo tiếng Pháp Porte des Eaux là Thủy Môn thay vì Thủy Quan. Một số bài, ông thể hiện tiếng Pháp theo cách nói và tâm tư người Việt.
        Đọc công trình của ông, tôi thấy bóng dáng ông bà mình, cha mẹ mình, nguồn cội mình với tất cả vẻ đẹp nguyên sơ. Trong lúc dịch, tôi chợt nhớ đến câu nói của Phạm Quỳnh đại ý: Văn hóa Tây phương có thể làm cho văn hóa Việt Nam giàu thêm mà thôi chứ không thể thay thế được. Nếu đánh mất văn hóa, nghĩa là đánh mất linh hồn mình.

        Ông thấy cách tiếp cận và thể hiện L. Cadière có điểm gì đặc biệt so với các nhà nghiên cứu khác?

       Ngày trước, dù còn nhiều khó khăn nhưng ông đi bộ, quan sát vẽ, ghi chép tỉ mỉ... từng địa danh, phong tục. Trong bài nghiên cứu về việc thờ cây thờ đá, ông đã minh hoạ với trên 50 hình ảnh thực địa, có ghi rõ địa danh và cách bài trí. Rất ít người được như L. Cadière, ông tiếp cận văn hóa Việt Nam với sự tôn trọng, thiện cảm. Ông từng viết: Tôi hiểu người Việt bởi vì tôi nghiên cứu kỹ về họ... Nghiên cứu và hiểu họ nên tôi yêu mến họ... Tôi yêu mến họ vì họ thông minh... Tôi yêu mến họ vì những đức hạnh tinh thần... Ngay những tập tục mà người Tây phương khó lòng chấp nhận, L. Cadière không chê bai mà tìm nguyên nhân, nhìn nhận vấn đề rồi kết luận: Cũng do từ tâm mà ra cả. Có ý thức về văn hóa đúng đắn mới hiểu và nhìn được như vậy. Cái hay của ông là tránh được sự đụng chạm trong khác biệt văn hóa. Nếu rơi vào kích điểm này, dễ nảy sinh nhiều tranh cãi vô cùng. Những BV của ông phần lớn là được trình bày trước một cử tọa Pháp thoại như biện minh, để người nước ngoài tránh cái nhìn lệch lạc về văn hóa Việt. Bao trùm trong các BV của ông là tinh thần: Nếu chưa hiểu thì đừng vội bài xích.

        Ông muốn gửi gắm gì đến người đọc?
        Tôi muốn lớp trẻ được đọc và hiểu về cội nguồn. Văn hóa thường biến động và ngày càng thăng hoa. Giới trẻ nên chọn cho mình một hướng đi như thế nào để không lệch khỏi quỹ đạo văn hóa dân tộc. Tập sách là công trình lớn của L. Cadière, tôi chỉ làm công việc nhỏ bé là giúp người đọc tiếp cận nó một cách thuận tiện hơn. Làm văn hóa nên hết mình, tôi không đặt nặng vấn đề thành công hiện thời, cũng như L. Cadière đã dè dặt chưa nghĩ những luận cứ của mình đã hoàn toàn xác thực, còn đợi người sau bổ khuyết.

        L. Cadière là một linh mục người Pháp được cử đến phục vụ tại Việt Nam. Ông là chủ bút của tập san Đô Thành Hiếu Cổ (Những người bạn Cố đô Huế) suốt 30 năm (1914-1944). Ông sống và gắn bó với Việt Nam trong suốt 63 năm; nói tiếng Việt sành rõi từ năm 26 tuổi. L. Cadière có khoảng 250 công trình nghiên cứu trên các lĩnh vực: ngôn ngữ, xã hội học, dân tộc học, khảo cổ học, môi trường và kể cả du lịch... Nhiều bài viết còn có giá trị cho đến ngày nay. Ông được xem là một trong những người đặt nền móng cho việc nghiên cứu Việt Nam đầu thế kỷ 20.

LÔ DINH (thực hiện) 

http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=0&article=183200
Nguồn :

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

EURO CUP VÀ TÔI


Chẳng phải vì ham bóng đá quá mà tôi đã đặt title cho bài viết  trong ngày sinh nhật của mình là "EURO CUP và tôi".  Và tất nhiên là  có lý do, vì suy cho cùng chả có gì là không có lý do cả. ( hihi, viết đến đây, lại dừng lại để đọc lại về lthuyết "duyên khởi" của đạo Phật).
Vậy lý do của bài viết này  là  gì?
Lý do trước hết là vì hôm nay là sinh nhật của tôi và sinh nhật lần này lại đúng vào dịp diễn ra  các cuộc thi đấu tranh giải CUP bóng đá  châu Âu. Từ hàng tháng nay, trên các phương tiện truyền thông  đã có những bài viết về công việc chuẩn bị cho sự kiện này và khi " trái bóng bắt đầu lăn" thì không khí bóng đá  đã sôi động khắp nơi, không chỉ ở các nước châu Âu- quê hương của bóng đá, nơi diễn ra giải tranh cup vô địch châu Âu mà ngay cả ở VN dường như bóng đá đã làm "nguội" đi những sự kiện " nóng"  trong những ngày gần đây.
  Bóng đá không chỉ là bóng đá, qua bóng đá / từ bóng đá đã nổi lên các vấn đề về chủ nghĩa dân tộc, về văn hóa, về nhân quyền,  vấn đề kỳ thị chủng tộc... và cũng từ các câu chuyện quanh những vấn đề trên là quyền lực của báo chí hay cụ thể là vai trò của nhà báo.
Bóng đá là chính trị khi những nhà lãnh đạo đất nước biết đưa ra các khẩu hiệu để kích động tinh thần dân tộc   đó là chưa nói đến việc sử dụng bóng đá để " làm nguội" những vấn đề " nóng bỏng" một cách có chủ ý...
Bóng đá là tinh thần dân tộc khi các cổ động viên trong trang phục đại diện cho màu cờ sắc áo của đất nước mình cổ vũ cho đội nhà  và chính quyền thông minh là chính quyền biết dùng sự kiện này để quảng bá cho hình ảnh đất nước mình , dân tộc mình.  Nhìn chung thì tất cả các nước, các thành phố, nơi diễn ra các trận thi đấu đều ra sức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang bộ mặt đường phố, biến thời gian diễn ra các cuộc thi đấu trở thành những ngày hội... nhưng có lẽ ít chính quyền biết kêu gọi những người dân trở thành những chủ nhà mến khách, mỗi người dân hãy góp phần tạo nên hình ảnh của đất nước, dân trộc mình như... Ba Lan. Đọc các bài viết về sự chuẩn bị cho EURO CUP của Ba Lan, tôi không khỏi nghĩ tới  những lời  phàn nàn về Hà Nội, về các điểm du lịch, những nơi có di sản văn hóa thế giới ... đang  thu hút nhiều du khách của Việt Nam. Tôi nghĩ đến sự kiện I000 năm Thăng Long - Hà Nội, nghĩ đến các Festival Huế, Hạ Long, Lễ hội pháo Hoa, Lễ hội Hoa phượng đỏ... được quảng cáo rầm rộ, với những đầu tư tốn kém cho những trang hoàng bên ngoài... mà tuyệt nhiên không thấy có khẩu hiệu nào, không thấy có cuộc vận động nào đối với chủ nhân các lễ hội: Chúng ta hãy là những người chủ mến khách, có văn hóa... chúng ta đang đại diện cho hình ảnh của đất nước...
Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để cải thiện hình ảnh của người Hà Nội trong mắt người dân các tỉnh ghé thăm  và có lẽ đang làm hỏng hình ảnh về người Việt Nam tại khắp các điểm du lịch trong nước. Những hình ảnh xấu như bẻ hoa trong các dịp lễ hội, xả rác khắp nơi, nói tục, hoặc "chặt, chém" du khách tại các điểm du lịch... Lỗi thuộc về ý thức người dân, nhưng hình như cũng không hẳn tại họ???
Bóng đá là văn hóa.Văn hóa thì không cụ thể  là gì, nhưng là một cách để mô tả hành vi con người" (Fredrik Barth) (3).  Các cổ động viên thì  ở đâu  cũng giống nhau, cũng màu cờ sắc áo, băng rôn, khẩu hiệu, cờ Tổ quốc... với niềm mong mỏi  chiến thắng và giành cúp vô địch. Đương nhiên thôi. Và có lẽ niềm vui chiến thắng thì ở đâu cũng giống nhau, nhưng nỗi buồn khi thất bại thì khác. Và sự khác biệt đó chính là văn hóa. Tôi nhớ mình đã buồn biết bao trong các trận Việt Nam tranh giải ASEAN. Trước trận đấu, các cổ động viên cũng màu cờ, sắc áo, cũng băng rôn khẩu hiệu... hừng hực khí thế, nhưng khi Việt Nam thất bại, áo, cờ, băng rôn , khẩu hiệu bị vứt bỏ la liệt trong sân, trên đường trước sân Vận động Mỹ Đình, trong đó có cả những lá cờ đỏ sao vàng... Tôi nhớ đến sự vất vả của các anh chị trong công ty vệ sinh sau mỗi sự kiện  và thầm khâm phục Ba Lan trong việc tổ chức những đội tình nguyện làm vệ sinh sau trận đấu. Tại sao Hà Nội không làm được việc đó trong sự kiện" Kỷ niệm I000 năm Thăng Long Hà Nội "? Phải chăng chúng ta đã bỏ lỡ một cơ hội xây dựng ý thức cộng đồng, cơ hội kêu gọi những công dân Thủ đô chứng tỏ tình yêu của mình với Hà Nội bằng những việc làm cụ thể và thiết thực ???
Bóng đá và  vấn đề kỳ thị dân tộc. Dường như trong Giải EURO CUP lần này vấn đề kỳ thị dân tộc được quan tâm  nhiều hơn khi truyền thông quốc tế nêu vấn đề an toàn ( thậm chí đe dọa tính mạng) cho những khán giả đi xem bóng đá ở Ba Lan trước nạn phân biệt chủng tộc có vẻ như ngày càng tăng ở các nước châu Âu. Tôi vẫn biết, vấn đề xung đột sắc tộc không phải là vấn đề mới, nạn phân biệt chủng tộc càng không mới, nhưng cũng vì thế nó có vẻ như chỉ tồn tại  ở những nơi còn lạc hậu chứ ở châu Âu dân chủ và văn minh thì phải khác. Tôi hay được nghe những lời chê bai Việt Nam, không văn mình, lịch sự, nhiều trộm cắp... Hẳn rồi, chẳng có gì để bào chữa cả... Nhưng gần đây, những vụ như bạo loạn ở Anh, ở Ba Lan, lời khuyến cáo của cầu thủ nổi tiếng người Anh  dành cho những người tới Ba Lan và Ucraina để xem bóng đá đã làm tôi sốc . Việt Nam tiếng thế chứ cũng chưa có vụ bạo loạn nào như ở Anh, ở Ba Lan, còn trộm cắp thì khi tới châu Âu chúng tôi được dặn dò kỹ lưỡng và được chứng kiến những vụ lừa đảo, cướp giật túi xách kinh khủng và chuyên nghiệp hơn nhiều.
Nhưng cũng từ những chuyện này, tôi lại nghĩ đến vai trò của nhà báo. Cùng một sự kiện, vấn đề sẽ khác rất nhiều từ vị trí, góc nhìn và cái tâm của người viết. Ví dụ báo chí đưa tin về thành công của việc tổ chức trận khai mạc Giải EURO CUP vừa diễn ra tại Ba Lan  là không có xung đột, ẩu đả, nhất là xung đột và ẩu đả bởi vấn đề kỳ thị dân tộc, nhưng ở một kênh khác có người kể rằng chính anh ta ( người Việt)  bị kỳ thị, và nếu như không vì tự  lượng sức mình ( nhỏ con) không có lợi thế trong tương quan lực lượng mà nín nhịn cho qua thì cũng xảy ra ẩu đả rồi. Như vậy câu chuyện đó muốn làm cho to, sẽ thành to mà coi nó là nhỏ sẽ là nhỏ thậm chí coi như không có cũng được.
Tương tự vậy, chuyện một cô bé sinh viên ( người nước ngoài)  bị rạch túi trên xe bus ở Hà Nội đã trở  thành chuyện ầm ĩ với những lời kêu ca Việt Nam/ Hà Nội toàn bọn ăn cắp?:)... Và chuyện một cô bé  là sinh viên ( người Việt) vừa chân ướt chân ráo đến Bỉ đã bị mất toàn bộ giấy tờ, số tiền đóng học phí và tiền dành cho sinh hoạt.. nên phải trở về Việt Nam nhờ sự giúp đỡ của Sứ quán và cộng đồng lại chỉ là câu chuyện để nhắc nhở bạn hãy cẩn thận với nạn trộm cắp ở châu Âu. Hay như chuyện  một anh bạn đi cùng anh xã tôi bị giật túi xách vào đúng lúc bước lên tầu. May là anh đã từng học võ nên phản ứng được ngay, quay lại  giằng lại túi của mình sau khi ra đòn và kịp bước lên tàu trước khi tàu đóng cửa chuyển bánh... Câu chuyện trên sẽ  cũng chỉ là một vài chuyện  trong các chuyện được kể để nhắc nhở bạn hãy cẩn thận khi đi lại ở châu ÂU, những cũng có thể thành chuyện lớn nếu nhà báo muốn nó là lớn, nhất là khi được các commenter hùa vào.
Và hôm nay tôi lại nhớ về ngày sinh nhật đầu tiên và có lẽ duy nhất trong cuộc đời, tôi đã kỷ niệm sinh nhật ở châu Âu, nước Đức, nhớ không khí bóng đá của EURO CUP lần thứ I3, những cổ động viên đội tuyển Đức, nhớ tiếng xe ô tô cắm cờ Đức chạy trên đường phố Hamburg cổ động cho trận Đức - Ba Lan mà Đức đã thắng với tỷ số 2-0. Nhớ không khí thành phố Vienna chuẩn bị cho trận chung kết và sân vận động diễn ra trận Chung kết EUROCUP lần  thứ I3.

Một cô bé là cổ động viên cho đội Đức ở Hamburg, nơi tôi đã đến để dự Hội thảo EUROVIET lần thứ 6 từ ngày 6-8/6/2008

Tầu chở các cổ động viên sau khi trận đấu giữa Đức và Ba Lan kết thúc với tỷ số 2-0 nghiêng về đội Đức nên các cổ động viên Đức rất phấn khởi. Ở VN sau những trận thắng của đội nhà sẽ là đua xe, còn ở Đức thì họ đi trên tàu.




Nước Áo chuẩn bị cho EURO CUP lần thứ I3 với các lá cờ dọc đường  và hạn chế xe cộ vào thành phố Vienna. Chúng tôi đã phải để ô tô ngoài thành phố để đi tàu vào

Sân vận động diễn ra trận chung kết  EURO CUP lần thứ I3 tại Vienna


Sáng I0 tháng sáu, khi đang đi trên đường phố Berlin tôi chợt nhớ hôm nay chính là ngày sinh của mình, và đề nghị bạn tôi chụp cho tôi một kiểu ảnh kỷ niệm. Hai vợ chông bạn tôi đều là những nhà Việt Nam học và giảng viên ĐH Passau của Đức. 


Bạn tôi phải đến Passau còn chồng bạn, một GS Sử học đưa chúng tôi đi thăm Berlin. và vì vậy đây là một ngày sinh nhật đặc biệt của tôi. Một ngày dành cho Berlin.


Chúng tôi đã đi thăm Bảo tàng và bức tường Berlin và  được xem những thước phim về nỗ lực vượt qua bức tường để sang Tây Berlin của người  ở phía Đông Berlin

Chúng tôi thăm khu vực trung tâm Berlin


Ăn trưa tại nhà hàng Thổ Nhĩ Kỳ


Trước Tòa Nhà Quốc Hội Đức


Trước Đại học Humboldt nổi tiếng




Chú thích:

(3)Fredrik Barth (1969)  "From the Introduction to Ethnic Groups and Boundaries" (Boston: Little, Brown and Company) 
 nguồn: http://www.bylany.com/kvetina/kvetina_etnoarcheologie/literatura_eseje/2_literatura.pdf
 phần dịch ở đây: http://chuyencuachi.blogspot.com/2012/03/tu-gioi-thieu-en-cac-nhom-toc-guoi-va.html

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

THÁI HỌC VIỆT NAM


      Theo tổng điều tra dân số năm 2009, người Thái ở Việt Nam có số dân đứng thứ 3 trong số các tộc người Việt Nam với dân số 1.550.423 người ( sau người Kinh 73.594.341 người và người Tày 1.626.392 người). Vì vậy, tìm  hiểu, nghiên cứu  về người Thái là một nhu cầu chính đáng thu hút sự quan tâm của giới khoa học xã hội nhân văn Việt Nam. Theo PGS.TS Hoàng Lương, chủ nhiệm chương trình Thái học đương nhiệm, vào năm 1988 bốn nhà dân tộc học người Thái: Cầm Trọng, Cầm Cường, Lê Sĩ Giáo và Hoàng Lương đã đề xuất ý tưởng về xây dựng một chương trình Thái học nhằm nghiên cứu toàn diện về người Thái. Ý kiến này ngay lập tức đã được sự ủng hộ của các học giả trong và ngoài nước, đặc biệt là GS Phan Huy Lê Giám đốc Trung tâm hợp tác và nghiên cứu Việt Nam. Kết quả là ngày 7/9/1989, Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã ra quyết định chính thức thành lập Chương trình Thái học Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu tổng hợp ( chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực của Khoa học Xã hội và nhân văn và môi trường sinh thái) các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái ở Việt Nam. Chương trình Thái học VN được đặt trong Trung tâm hợp tác Nghiên cứu Việt Nam ( thành lập ngày 17/5/1989).Năm 1995, Trung tâm hợp tác nghiên cứu VN phát triển thành Trung tâm Nghiên cứu VN và Giao lưu Văn hóa. Năm 2004, Trung tâm Nghiên cứu VN và Giao lưu văn hóa chính thức trở thành Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển. Với nhận thức Thái học Việt Nam là Việt Nam học trên không gian văn hóa và xã hội môi trường Tày- Thái, Chương trình Thái học chú trọng sử dụng phương pháp nghiên cứu  liên ngành, kết hợp dân tộc học với các ngành khoa học xã hội có liên quan như sử học, xã hội học, ngôn ngữ học, văn hóa dân gian, địa lý, môi trường... 

      Chương trình Thái học Việt Nam, cho đến nay đã có  23 năm triển khai các hoạt động khoa học, chương trình đã hoàn thành nhiều đề tài khoa học có chất lượng chuyên môn cao, tổ chức thành công 6 hội thảo, hội nghị khoa học cấp quốc gia, tạo được vị thế trong nền học thuật trong nước, đóng góp vào việc nâng cao nhận thức khách quan và tổng thể về các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày -Thái.


     Hội nghị Thái học Việt Nam lần thứ nhất ( 1991) chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực văn hóa như những nghiên cứu về so sánh tiếng Thái, chữ Thái ( Việt Nam) với tiếng Thái, chữ Thái ( Thái Lan) [ Cầm Cường-Dương Xuân Cương,], văn học, văn hóa dân gian, dân ca, tục ngữ, âm nhạc... Thái  [Phan Đăng Nhật, Lương Yệu, Trương Sĩ Hùng, Vương Trung, Văn Hòa, Hoàng Trần Nghịc, Quảng Huyên, Hoàng Lương, Cầm Bích], văn hóa, phong tục, tập quán của người Thái [Lê Ngọc Thắng, Hoàng Luận, Hoàng Huy Phách, Lê Vui, Nguyễn Đình Lộc...]


     Hội thảo Thái học Việt Nam lần thứ hai ( năm 1998)  tập trung vào chủ đề văn hóa và lịch sử, đi sâu vào các vấn đề cụ thể của ngôn ngữ Thái như: "Chữ Thái- một sản phẩm trí tuệ của Xã hội Bản mường..." ( Cầm Cường); giới thiệu về chữ Thái Lai pao của người Thái Tương dương ( Trần Chí Dõi, & M.Ferlus); tiếng Nùng và chữ tày-Nùng( Mông ký Slay); Từ ngôn ngữ Thái đến các biến thể từ vựng trong tiếng Tày-Nùng" ( Vương Toàn); Tiếng Pọong- sự tiếp xúc ngôn ngữ đầu tiên giữa Việt và Thái"( Nguyễn Tương Lai)... Các vấn đề về  tộc người, văn hóa, phong tục, tập quán... như" Tìm về cội nguồn lịch sử người Thái" ( Lê Sĩ Giáo), đặc trưng tổ chức xã hội truyền thống Thái ( Hoàng Lương); về tên gọi và lịch sử cư trú của các nhóm Thái miền tây Nghệ An" (Vi Văn An); Văn hóa- các đặc trưng chủ yếu... ( Cầm Trọng), truyền thống ăn uống ( Ngô Đức Thịnh), Nguồn gốc và tập quán uống rượu cần" ( Hà Văn Ban), 50 món ăn thông thường của người Thái ( Vi Trọng Liên), nhạc khí cổ truyền ( Cầm Bích), Đặc trưng trong múa Thái (Dương Minh Sơn), Mỹ thuật dân gian (Phan Ngọc Khuê), Làm Vía, lễ thu Vía...


      Hội thảo Thái học  lần thứ ba năm 2002, các báo cáo đi sâu vào các chủ đề :Lịch sử-xã hội, văn hóa và giao lưu văn hóa, phong tục tập quán và tôn giáo tín ngưỡng, văn học nghệ thuật, ngôn ngữ văn tự. Trong Hội thảo lần 3 này các các tác giả đi sâu tập trung khảo sát tư liệu văn bản như " Chín Chúa tranh Ngôi", các truyền thuyết trở lại cội nguồn, truyện kể dân gian về quá trình di cư, định cư của người Thái, các câu chuyện dân gian về các nhân vật lịch sử như Nùng Trí Cao, niên biểu các thủ lĩnh người Thái... các tri thức bản địa, các nghề truyền thống, các tập quán cụ thể như đám cưới, tục thờ cũng tổ tiên, phong tục tang ma,... thế giới quan...
      Đặc biệt ngoài các báo cáo cá nhân của các tác giả theo các chủ đề, hội thảo đã dành một ngày để thảo luận góp ý cho đề tài " Nghiên cứu chữ Thái Việt Nam" do Đại học Quốc gia Hà Nội quản lý. "Đề tài đã khảo sát 7 tỉnh có người Thái cư trú là Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An để thu thập tư liệu về chữ Thái trong từng vùng, tiến hành so sánh, đối chiếu, phân tích, những chỗ đồng dị, xác lập cơ sở khoa học xây dựng bộ chữ Thái thống nhất cho cộng đồng các nhóm người Thái ở Việt Nam" ( Phan Huy Lê- báo cáo đề dẫn)


      Nhìn chung cả 3 lần Hội thảo đầu tiên đều được tổ chức ở Hà Nội và không theo định kỳ cụ thể, từ sau khi Viện Việt Nam học và khoa học phát triển được thành lập, Ban lãnh đạo Viện và Ban điều hành Chương trình Thái học nhận thấy, chương trình đã đi qua những bước " mò mẫm, thăm dò dư luận để tìm lối đi và những nội dung chính" ( Hoàng Lương- báo cáo đề dẫn năm 20I2) chương trình cần có những bước đột phá mới mà mỗi kỳ Hội thảo sẽ là một "điểm nhấn" trong lộ trình đi tới những nhận thức ngày càng đầy đủ và khách quan hơn.
      Trên cơ sở đó Hội thảo Thái học lần thư tư năm 2006  được tổ chức ở Cao Bằng với chủ đề: Đóng góp của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày -Thái trong tiến trình Lịch sử Việt Nam". Với chủ đề trên, Hội thảo đã đi sâu vào đóng góp của các nhóm tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái  trong các giai đoạn Lịch sử từ : Thời kỳ dựng nước, thời kỳ Bắc thuộc, đến thời kỳ phong kiến từ thế kỷ X-XVII, thế kỷ XVIII-XIX, thời kỳ từ năm I930-cách mạng tháng Tám năm I945, trong kháng chiến chống Pháp, các vấn đề về ngôn ngữ, văn hóa, văn học, sử thi.  


     Hội thảo Thái học lần thứ 5 được tổ chức năm 2009 tại Điện Biên phủ với chủ đề "Địa danh và những vấn đề lịch sử văn hóa của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái' trọng tâm của Hội thảo là đi sâu vào nghiên cứu nguồn gốc lịch sử văn hóa các tộc người Tày- Thái qua các di tích, truyền thuyết và nhất là qua tư liệu địa danh Tày Thái. Các vùng Tây Bắc, đặc biệt khu vực Điện Biên, với xứ Mường Thanh được coi là quê gốc của các bộ tộc Thái, vùng Việt Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An đều có nhiều bài viết về địa danh và di tích, ngoài ra Hội thảo cũng nhận được nhiều bài viết có liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử...là những ghi chép về về vùng đất và con người nổi tiếng được xếp vào mục có tiêu  đề " Những vùng đất và con người qua ký ức dân gian". Tuy những bài viết này không được chuẩn bị và hoàn thành dưới dạng một bài nghiên cứu, nhưng rất có giá trị  cung cấp sử liệu, thông tin khách quan xác thực giúp người đọc có thể nhận diện lịch sử, văn hóa các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày-Thái.


      Hội thảo Thái học lần thứ sáu vừa được tổ chức trong hai ngày 6-7/6/20I2 tại Thanh Hóa với chủ đề " Cộng đồng các tộc người ngữ hệ Thái-Kadai ở Việt Nam- truyền thống, hội nhập và phát triển." Hội thảo lần thứ 6 đã nhận được 73 tham luận của hơn 70 tác giả, tập trung vào các vấn đề Lịch sử, văn hóa, kinh tế-xã hội, môi trường hội nhập và phát triển.
    Kỷ yếu Hội thảo lần thứ 6.


Danh mục các bài tham luận




Hội thảo đã tập trung thảo luận những vấn đề đặt ra trong việc nghiên cứu:

Người Thái xứ Thanh: Nguồn gốc, quá trình tộc người, mối liên hệ văn hóa tộc người, không


 gian văn hóa các mối quan hệ trong khu vực Tây Bắc Việt Nam, quan hệ với các nhóm Thái


Lào.

Văn hóa Đông Sơn văn hóa Tày Thái: Biểu tượng; vấn đề họ ngôn ngữ văn hóa tiền


sử
Văn hóa Thái trong bức tranh văn hóa các tộc ngườiTây Bắc Việt Nam; khắp Thái, văn hóa 


cộng đồng người TháiMường So…
Tộc danh, địa danh trong nghiên cứu lịch sử trao đổi về một số tộc danh, địa danh
Lịch sử qua sử thi Thái.
Sự khác biệt giữa các ngành NùngViệt Nam.
Vấn đề xây dựng các công trình thủy điệnkhu vực Tây Bắc, tây Thanh Hóa, Nghệ An ảnh 
hưởng của đến sinh kế văn hóa truyền thống của người Thái tái định .
Kinh tế, văn hóa - hội cộng đồng người TháiThanh Hóa.
Hôn nhân gia đình của người Bố Y ở Giang.
Đổi mới phương pháp nghiên cứu Thái học theo hướng tiếp cận Liên ngành gắn với Khu vực 
học Khoa học phát triển
Sử dụng quản tài nguyên đất rừng. Vấn đề con người rừng.
Nghề làng nghề truyền thống trong phát triển bền vững.
Bảo tồn phát huy văn hóa tín ngưỡng truyền thống.
Người Thái Sơn La trên con đường đổi mới phát triển.
Cần tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu hơn bản chất hơn giữa cộng đồng các tộc người 
Thái - Kadai với văn hóa Đông Sơn.
Cần đánh giá đầy đủ, cụ thể tổng thể tác động (tích cực, tiêu cực) của các công trình thủy
điện đến kinh tế, hội văn hóa của cộng đồng các tộc người Thái.
Nghiên cứu bảo tồn phát huy các giá trị truyền thống.
Nghiên cứu các nguồn lực (tự nhiên, hội, con người) phục vụ phát triển bền vững. Phát triển 
nâng cao chương trình Thái học Việt Nam phục vụ phát triển vùng Thái Tây Bắc.
Quan tâm nghiên cứu các tộc người ít người.
Xây dựng Nhà Bảo tàng văn hóa các dân tộc xứ Thanh.

Hội thảo cũng nhất trí đề xuất hướng nghiên cứu và chủ đề cho Hội thảo tiếp theo:



Chủ đề: Phát triển kinh tế hội bảo vệ môi trường (hay nguồn lực phục vụ phát triển bền
vững vùng Thái Tây Bắc), trong đó lấy Sơn La trọng điểm.

Yêu cầu: Gắn với Chương trình Khoa học Công nghệ Nhà nước về vùng Tây Bắc.
Quy : 80-100 báo cáo/ tác giả, từ 5-10% báo cáo/ tác giả quốc tế.
Thời gian: 2014.
Địa điểm: Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Chủ trì: Viện VNH&KHPT, ĐHQGHN (Chương trình Thái học Việt Nam) UBND tỉnh Sơn La.
Kinh phí tổ chức hội nghị hoạt động thường xuyên của Chương trình Thái học Việt Nam. 

     Một số hình ảnh tại Hội thảo lần thứ sáu tại Thanh Hóa

    GS.TS Trương Quang Hải Viện Phó Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển lên giới thiệu, khai mạc Hội thảo.


Phó Bí thư tỉnh ủy Tỉnh Thanh Hóa đọc diễn văn chào mừng.



PGS.TS Hoàng Lương, chủ nhiệm chương trình Thái học Việt Nam chuẩn bị báo cáo đề dẫn.




GS.TS Nguyễn Quang Ngọc-Viện trưởng  Việt Nam học và Khoa học phát triển  đọc báo cáo tổng kết


Các đại biểu tham dự Hội thảo


Một số hình ảnh Thành nhà Hồ.