Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

Vấn đề tự thể hiện của người Việt Nam.

Shawn Fredrick Mc Hale
Người dịch: Đặng Thị Vân Chi ( Bản nháp)
Trích từ chương 1: Sự biến đổi của văn hoá in ấn và đời sống công cộng, 1907-1945 sự sắp xếp lại các giá trị tượng trưng ...từ :" Print and power: Confucianism, Communisism, and Buddhism in the Making of Modern Vietnam, University ofHawai'i press, Honolulu"
Phần này tiếp theo phần "Việc viết lịch sử Việt Nam hiện đại"  đã đăng ở đây:

http://chuyencuachi.blogspot.com/search/label/Nghi%C3%AAn%20c%E1%BB%A9u%20VN%20c%E1%BB%A7a%20c%C3%A1c%20nh%C3%A0%20Vi%E1%BB%87t%20Nam%20h%E1%BB%8Dc%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%20ngo%C3%A0i?updated-max=2010-04-16T18:28:00-07:00&max-results=20


 Luận văn này đã phải đối mặt với một vấn đề nhận thức luận khó khăn là: nhiều tác phẩm của người Việt Nam trong quá khứ đã tiếp thu một phong cách Pháp để mô tả chính họ và lịch sử của họ. Chúng tôi không thể kết luận một cách đơn giản rằng những người này là những người Việt Nam ít đích thực hơn và vì vậy là tiếng nói ít có tính đại diện hơn. Luận văn này cũng bác bỏ một học thuyết bản chất luận  bao gồm cả những ý kiến nhìn nhận chủ nghĩa thực dân Pháp như một vết nhơ trên văn hoá gốc của người Việt Nam. Để giải thích nó là như thế nào cần một chút lạc đề. Như những tác phẩm của nhiều người Việt Nam khác nhau sống trong thời kì 1920-1945 cho thấy, người Việt Nam đang xây dựng những thái độ mới đối với thời gian, cuộc sống trí thức và sự tổ chức cuối thời kì thuộc địa. Sự thay đổi thái độ này thì đã diễn ra, tuy nhiên một phần của sự chuyển biến cơ bản của đời sống trí thức trong nửa đầu của thế kỉ XX, như các nhà văn Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng  và thể chế mới của Trung Quốc và phương Tây để thách thức với những tư tưởng và thể chế cũ. Trích dẫn sau cho thấy hai quan điểm về sự biến đổi to lớn này.
“ Nhân dân ta sống theo kiểu tự phát, và không biết giá trị của thời gian. Chúng ta cũng không  thích ứng với một kiểu  hay một khuôn mẫu sống mẫu mực hoặc người dân tự khuôn  mình trong trật tự để bảo vệ sự nghiệp vĩ đại và kéo dài. Chúng ta chỉ cần kiểm tra bât kì tổ chức cộng đồng nào của chúng ta cũng sẽ thấy sự kém cỏi như vậy. Các tổ chức của chúng ta được tạo ra từ một sự bùng nổ nhất thời và tất cả dần dần đi xuống và thoái trào.”
Chỉ trong 30 năm, văn học Việt Nam đã có sự tiến hoá rất nhanh chóng và đã phân chia thành đủ các loại văn thơ, như trong các nước từng có nền văn học được hình thành từ lâu rồi.
Trong các nước có nền văn học đã được hình thành vững chắc, chúng ta không thể phân biệt giữa văn xuôi và thơ trừ khi chúng đã ngoài 30 năm. Nhưng với chúng ta, một năm cũng như 30 năm đối với con người từ một thời gian khác nhau.”
Trong đoạn trích trên,  sự ám chỉ của sự tham chiếu là rõ ràng, so sánh với phương Tây và các  trào lưu văn học của nó, thành tựu của Việt Nam có vẻ như vừa không có thực vừa vô giá trị. Hoàng Đạo đã phàn nàn về thế nào là hành động tự phát và không có kế hoạch lâu dài của người Việt Nam, trong khi Vũ Ngọc Phan viết về đời sống ngắn ngủi của các trào lưu văn học của người Việt. Cả hai đoạn trích gây ra sự băn khoăn vì chúng gợi ra rằng cả hai nhà văn đều tin rằng người Việt Nam tự giới hạn không chống lại quá khứ của chính họ, mà chống lại  một quá khứ của nước ngoài. Trong khi người này đánh giá về người kia, cả hai tác giả đã bỏ rơi chuẩn mực của chiều kích  đặt nền tảng cho người Việt Nam.
Có một sự châm biếm sâu sắc trong lời bình luận  của cả hai nhà văn: Nếu tính cách tự phát và hay thay đổi của giới trí thức Việt Nam làm mất đi sự  gắn bó đối với tư tưởng của thời kì này, chúng cũng tiêu biểu cho một trong những thời kì sáng tạo nhất của lịch sử văn hoá Việt Nam hiện đại. Thời kì được định hình ít nhất bởi sự nổi lên và đi xuống của các trào lưu văn học hơn là bởi một phong trào dữ dội và kéo dài.
 Những người Việt Nam hiện đại đã  nối sự thay đổi của nghệ thuật với một sự quan tâm mạnh mẽ đối với cái mới. Hoàng Đạo, một thành viên của Tự lực văn đoàn và một người chủ trương Tây hoá mạnh mẽ đã tóm tắt thái độ này vào năm 1937 “ Theo mới , hoàn toàn theo mới, không chần chừ một phút” Kết quả: Người Việt Nam đã vấp phải một sự hoang mang đủ loại nhà tư tưởng trong sự  thành công một cách nhanh chóng, phá vỡ khung cảnh truyền thống, và thay đổi suy nghĩ của bản thân họ với sự bối rối sâu sắc. Nhượng Tống, nhìn lại trong năm 1945 về thời kì này, giành được kết quả hùng hồn nhất.
“ Tôi bắt đầu bằng việc học chữ Nho. Khi tôi còn nhỏ, tư tưởng của tôi một trăm phần trăm là người theo Khổng -Mạnh. Rôi tôi từ bỏ chữ Hán và bắt đầu học chữ Pháp, và đọc sách, báo để tự mình làm quen với tư tưởng của những nhà hiền triết khác. Bây giờ tôi so sánh với trước đây, tư tưởng của tôi đã thay đổi rất nhiều. Vì suy nghĩ của tôi trong thực tế, không  phải nhờ tôi mà tôi có nó. Nó là sự kết hợp tất cả những tư tưởng mà tôi đã đọc được . Đó là tất cả.
Hiện nay tôi có nhiều đặc tính tốt cũng như xấu mà trước đây tôi không có. Chúng là những điều tôi lấy được từ thầy giáo, bạn bè hoặc những người mà tôi thân thiết. Tính cách  của tôi nếu bạn rút lại nó, nó cũng không thuộc về bản thân tôi.
 Trong một khung cảnh nổi bật, Nhượng Tống đã nhìn thấy cá tính của ông như được định rõ bởi một bài luận được xuất bản đã hiện ra trước mắt ông. Chương này khảo sát tác động của các văn bản nói chung, kiểm tra sự hình thành của văn hoá xuất bản đã góp phần vào những tác phẩm chưa hoàn thành của Nhựơng Tống. Độc giả có được sự hình dung qua đoạn trích trên về đời sống văn học qua từ phong trào này tới phong trào khác (Vũ Ngọc Phan) của giới trí thức, những người đã được dựng lên bởi các văn bản đã tình cờ diễu qua trước mắt họ ( Nhượng Tống) và chuyển thẳng từ người nho giáo thành những trí thức đa cảm hiện đại..  Sự giải thích về quan điểm như vậy về cuộc sống của giới trí thức đó là những tác phẩm chưa hoàn thành, lộn xộn và không có trọng tâm rõ ràng và một vấn đề rõ ràng là hứng thú.
 Luận văn này nêu bật sự thay đổi liên tục này và mối quan hệ của nó với cấu trúc. Nó cố gắng trình bày “một câu truyện lịch sử trong tiến trình của sự biến chuyển và những hình thức nổi bật, của cuộc thảo luận giữa những quyền lực và tư tưởng địa phương và siêu địa phương”. Nó thừa nhận rằng vì một số trí thức sợ sự phát triển, đặc biệt những cơ sở của nó trong các đô thị, đời sống của giới trí thức trong những năm 1920 trở về sau thì  sôi nổi và lộn xộn, trong một quá trình tự khẳng định mình. Nhưng không phải tất cả giới trí thức cùng trải qua một quá trình và sự lộn xộn này tự do phát triển như là một sự thịnh vượng của văn hoá xuất bản.
Thay vì sự chấp nhận những phát biểu của Nhượng Tống và Vũ Ngọc Phan, và Hoàng Đạo về sự chuyển biến của giới trí thức như một sự thật  cho tất cả người Việt Nam, luận văn này đưa ra một cách phức tạp hơn về sự hiểu biết, cả óc sáng tạo lộn xộn của giới trí thức ở thời điểm này và sự tiến triển của lĩnh vực xuất bản đã chứa đựng và ảnh hưởng tới nó. Tôi sẽ giải thích sau đã phân tích  ba lĩnh vực của cuộc thảo luận như thế nào ( tôn giáo , chính trị và văn hoá và tuyên truyền bí mật) có thể giúp chúng tôi nhận thức được cấu trúc cơ sở tác động tới sự trao đổi tri thức. Cho đến hiện nay chúng ta đủ biết rằng không phải tất cả người Việt Nam đều muốn theo mới hay ý thức rằng đời sống của giới trí thức không chắc chắn được hình thành. Người Việt Nam đã chiếm lĩnh quá khứ, đối mặt với hiện tại và cố gắng thiết lập một hệ thống để hiểu được những kinh nghiệm theo cách phức tạp đưa đến cho lịch sử Việt Nam hiện đại một sự giầu có về kết cấu mà các nhà sử học và văn học thường bỏ qua.

Thứ Năm, 23 tháng 12, 2010

ĐẶNG XUÂN BẢNG (1828-1910): CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP



Ngày 21/12/2010 tại Văn Miếu Quốc tử giám đã diễn ra cuộc Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày mất danh nhân Đặng Xuân Bảng do Hội sử học Hà Nội tổ chức. 
Hội thảo đã nhận được 21 báo cáo của các nhà khoa học trong cả nước. Ngoài một số báo cáo giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Cụ như báo cáo đề dẫn của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, báo cáo của Nhà giáo nhân dân Đặng Xuân Đĩnh  Cuộc đời và sự nghiệp nhà Nho Đặng Xuân Bảng (1828-1910, báo cáo của PGS.TS Đặng Việt Bích Danh nhân Đặng Xuân Bảng từ mẫu người cận đại đến mẫu người hiện đại, chủ đề giành được nhiều sự quan tâm và thu hút sự chú ý của các nhà sử học chính là những đóng góp của Cụ trong lĩnh vực sử học. Có 5/21 báo cáo tập trung vào lĩnh vực này như:
- Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng- vị học giả uyên bác, nhà sử học xuất sắc của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX của PGS.TS Nguyễn Minh Tường
-Đặng Xuân Bảng , nhà sử học lớn thời cận đại của PGS.TS Chương Thâu
-Đặng Xuân Bảng, nhà sử học lớn cuối thế kỷ XIX của PGS.TS Tạ Ngọc Liễn
-Sử quan và phương pháp làm sử của Đặng Xuân Bảng- Tiếp cận từ lời bình trong Việt sử cương mục tiết yếu của PGS.TS Vũ Văn Quân và Th.s Vũ Đường Luân
-Quan điểm sử học tiến bộ của Đặng Xuân Bảng qua bộ Việt sử cương mục tiết yếu của TS Nguyễn Hữu Tâm
 Chủ đề được quan tâm thứ hai là đóng góp của Đặng Xuân Bảng trong lĩnh vực giáo dục (3/21 báo cáo)
- Vài nét về quan điểm giáo dục của Đặng Xuân Bảng của Th.s Đỗ Danh Huấn
- Đặng Xuân Bảng với giáo dục gia đình của TS. Đặng Thị Vân Chi
-Đôi điều thu hoạch từ Cổ nhân ngôn hạnh lục của Đặng Xuân Bảng về giáo dục gia đình của PGS.TS Nguyễn Hải Kế và CN Vũ Thị Minh Nguyệt
- Ngoài ra có  2 báo cáo về văn học :Đặng Xuân Bảng- cuộc đời và sự nghiệp qua thơ văn của GS. AHLĐ Vũ Khiêu, Về những bài ký của Đặng Xuân Bảng trong tác phẩm Thiện Đình văn chương của PGS.TS Phạm Thùy Vinh, báo cáo của TS. Đặng Kim Ngọc về Những đóng góp của Đặng Xuân Bảng về quan chế qua sách Sử học bị khảo,  Tác phẩm chữ Hán, chữ Nôm của Đặng Xuân Bảng văn bản và dịch thuật của PGS.TS Đinh Khắc Thuần, Tuyên Quang tỉnh phú- một chuẩn mực về nghiên cứu địa phương của Đặng Xuân Bảng của TS. Nguyễn Đức Nhuệ, Tìm hiểu giá trị khoa học trong tác phẩm Nam phương danh vật bị khảo của Đặng Xuân Bảng của PGS.TS Nguyễn Tá Nhí...
Báo cáo đề dẫn của GS.TS Nguyễn Quang Ngoc- chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hà Nội sẽ giới thiệu một cách khái quát về con người và sự nghiệp của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng.

"...Cụ Đặng Xuân Bảng tự là Hy Long, hiệu là Thiện Đình, sinh năm Mậu Tý (năm 1828) trong một gia đình có truyền thống Nho học hàng đầu ở một làng quê lừng lẫy xứ Nam - làng Hành Thiện. Hành Thiện có tên nôm là làng Keo (hay còn gọi là Giao) tức là hương Giao Thủy, nơi không chỉ là kết tinh của văn hóa Xứ Nam, mà còn là biểu trưng của nền văn minh Việt cổ, của tộc người Việt từ thuở các Lạc tướng, Lạc dân mở cõi ở vùng cửa sông ven biển “theo thủy triều lên xuống mà làm ruộng”.
Ngay từ thuở ấu thơ, Đặng Xuân Bảng đã nổi tiếng là người thông minh xuất chúng, chỉ học ở người cha trong cảnh bần hàn, bữa đói bữa no, vừa học vừa phải đỡ mẹ trông nom ruộng vườn và phụ giúp cha dạy cho lớp đàn em, mà thông thiên kinh vạn quyển. Chỉ qua hai vế ứng đối: “Đất không chân, đất biết chạy, quả đất xoay vần[1] và “Con hơn cha, nhà có phúc, chắc hẳn có cầu, có được, có ước, có nên[2], cũng có thể nhận thấy không chỉ kiến thức uyên thâm, ý chí và nghị lực phi thường, mà còn là thế đứng và bản lĩnh giữa thời buổi trời đất xoay vần của cậu bé 12 tuổi Đặng Xuân Bảng.
Năm 18 tuổi, Đặng Xuân Bảng đỗ Tú tài[3] và năm 22 tuổi đỗ Cử nhân, bắt đầu thực hiện được ước nguyện của một gia đình đại phúc. Cụ được bổ chức giáo thụ Ninh Giang (Hải Dương), bên cạnh việc dạy học, vẫn chăm chỉ học hành và năm 1856, khi tròn 28 tuổi, thi đậu Tiến sĩ với bài văn đình đối thẳng thắn can vua về thanh sắc và tuần du và với câu trả lời đầy tự hào về người cha, người thầy duy nhất rèn cặp từ những nét chữ đầu tiên cho đến khi trở thành Tiến sĩ. Đây là trường hợp hết sức đặc biệt không chỉ trong khoa thi Bính Thìn (năm 1856), mà trong toàn bộ lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam, nên vua Tự Đức mặc dù không khỏi khó chịu về lời can gián của cụ, vẫn khen tặng cho cả hai cha con là “Giáo tử đăng khoa”.
Sau khi đỗ Tiến sĩ, được tiếp nhận vào guồng máy quan chức cao cấp của triều đình Tự Đức trong bối cảnh vận nước đang vô cùng nguy nan, nhưng cụ Đặng Xuân Bảng dù làm việc trong triều đình Huế, hay được điều đi giữ trọng trách ở các địa phương (như Thanh Hóa, Tuyên Quang, Quảng Yên, Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Yên, Nam Định…, có nơi đổi đi đổi lại đến vài ba lần), thậm chí có đến 3 lần cầm quân ra trận, ở đâu cụ cũng đều tận tâm, tận lực, nổi tiếng thanh liêm, có nhiều sáng kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho dân. Sự nghiệp chính trị và quân sự của Đặng Xuân Bảng cần phải được đặt trong bối cảnh đất nước nửa cuối thế kỷ XIX và hoàn cảnh cụ thể của triều Tự Đức để nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, công bằng. Tuy chưa làm được như Phan Đình Phùng, cũng không bị rơi vào hoàn cảnh quá éo le như Phan Thanh Giản, Đặng Xuân Bảng đã tìm được cho mình một lối đi riêng “làm quan trong Kinh, ngoài Trấn 30 năm, đi đến đâu đều có thành tích tốt ở đó”.
Là người mê đọc binh thư, chăm chú tổng kết và vận dụng lý giải trên thực địa những trận đánh nổi tiếng của tổ tiên và trực tiếp điều quân khiển tướng đánh tan giặc cướp giữ yên vùng duyên hải Đông Bắc, Đặng Xuân Bảng được người đời ngợi ca là bậc “văn võ toàn tài”. Sự nghiệp của Đặng Xuân Bảng bao trùm lên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng nói đến Đặng Xuân Bảng trước hết phải nói đến một học giả kiệt xuất mà số lượng công trình dù đã bị thất lạc thì ngày nay vẫn có thể thống kê được không dưới 20 tác phẩm. Trước tác của của Đặng Xuân Bảng rất đa dạng gồm nhiều các lĩnh vực chuyên môn như Sử học, Địa lý, Thiên văn học, Văn học, Ngôn ngữ học, Triết học, Giáo dục học, Y dược và thơ ca. Chẳng hạn trong lĩnh vực Địa lý học lịch sử, một ngành học của Việt Nam được mở đầu bằng tác phẩm Dư địa chí của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi thế kỷ XV, được tiếp nối bằng nghiên cứu của các nhà bác học hàng đầu như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, được các Vương triều chú trọng tổ chức và quy vào nhiệm vụ của Quốc sử quán để có thể huy động cao độ trí tuệ của cả nước, thế mà khi làm tác phảm Đất nước Việt Nam qua các đời, GS Đào Duy Anh vẫn hoàn toàn có lý khi nhận định “Tác phẩm của Đặng Xuân Bảng có thể xem là một công trình nghiên cứu địa lý học lịch sử quan trọng nhất trong học giới nước ta ở thời phong kiến[4]. Không chỉ riêng mảng sách Địa lý học lịch sử, các mảng Văn thơ, Ngôn ngữ học, Triết học, Giáo dục học… ở mảng sách nào Đặng Xuân Bảng cũng đều có những thành công nổi bật. Nhưng dù có được đánh giá cao đến mức nào đi chăng nữa, thì các mảng sách chuyên môn này vẫn không thể sánh ngang với các công trình Sử học của cụ. Đặng Xuân Bảng vượt lên trên các nhà Sử học cùng thời, bên cạnh thái độ khách quan, tôn trọng sự thật, khảo cứu đến ngọn nguồn các chứng cứ lịch sử, là một cái nhìn khoa học tổng thể và phương pháp tiếp cận hệ thống và liên ngành, đúng như GS Hà Văn Tấn nhận xét Đặng Xuân Bảng “là một nhà Sử học có phương pháp gần với phương Tây hiện đại[5]. Sử học Việt Nam thế kỷ XX và thập kỷ đầu thế kỷ XXI càng ngày càng chứng minh tính ưu việt của phương pháp nghiên cứu liên ngành và vì thế có thể hình dung Đặng Xuân Bảng là một nhà Sử học đi trước thời đại.
Đặng Xuân Bảng sở dĩ cùng một lúc chiếm lĩnh được nhiều đỉnh cao, vì ông được tôi rèn trong một môi trường giáo dục chuẩn mực của truyền thống gia đình, dòng họ, quê hương và trở thành một người thầy mẫu mực “học vấn uyên bác, đức hạnh thuần khiết”. Theo cụ, cái gốc của giáo dục là sự rèn luyện tư cách phẩm chất cá nhân, là giáo dục gia đình, dòng họ và làng xóm. Cụ dạy người không biết mệt mỏi, nhiều người đỗ đạt cao, trong đó có đến 200 Cử nhân, Tú tài. Cụ thúc đẩy truyền thống hiếu học của làng Hành Thiện kết quả, khai hoa; đưa truyền thống dòng họ, gia đình sang một trang sử mới, mà cháu nội của cụ, Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) là đại diện tiêu biểu nhất. Nói như Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt ở đồng chí Trường Chinh có một sự hòa quyện giữa tính cách của một người sĩ phu với phẩm chất của người cách mạng và trong con người Trường Chinh luôn luôn tỏa sáng những đặc trưng đáng kính của một nhà Nho “tu thân, tề gia, trị quốc”. Dòng họ Đặng và làng Hành Thiện (xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) có những đóng góp to lớn và nổi bật vào trong dòng chẩy của lịch sử cách mạng Việt Nam, hẳn có công lao đắp móng, xây nền của cụ. Đây cũng chính là nét hết sức đặc biệt trong cuộc đời và sự nghiệp Đặng Xuân Bảng.
Không có mấy nhân vật lịch sử sau cả một thế kỷ trôi qua mà con người và sự nghiệp vẫn còn rõ ràng và hiển hiện như cụ Đặng Xuân Bảng. Bên cạnh những tác phẩm để lại cho đời đã in đậm dấu chân cụ ở Huế, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Quảng Yên, Hải Dương, Hà Nội và khắp mọi miền đất nước, đã đột khởi thăng hoa ở Đồn Vàng nơi cụ biến những năm tháng bị đày ải thành cơ hội chuyên tâm khảo cứu sách vở, đã lắng kết lại ở quê hương với cả một biển sách trong thư viện Hy Long, với lớp lớp học trò rợp bóng sân trường và và những tháng ngày mải mê trước tác..., còn có không ít các nguồn tài liệu khác.
Châu bản triều Tự Đức lưu trữ được ít nhất cũng với tới 36 văn bản gồm các loại dụ, tấu, tư, phúc của Nội các và các bộ Lại, Lễ, Hộ, Binh… do cụ soạn thảo hay nói về cụ hoặc có liên quan đến cụ.
Vì công lao trời biển của cụ đối với địa phương mà cụ đã được dân làng Tả Hành (thuộc Vũ Thư, Thái Bình) thờ làm Thành hoàng. Ngã ba Xuân Bảng ở địa đầu của thị trấn Xuân Trường chính là được đặt theo tên cụ. Hình ảnh cụ Bảng đã khắc đậm vào ký ức dân gian, thành huyền thoại, thành thơ ca, thành niềm tự hào của mỗi người dân địa phương.
Cụ Đặng Xuân Bảng có lẽ cũng là trường hợp hiếm hoi ở Việt Nam được khảo cứu và đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp dưới góc độ học thuật từ rất sớm. Năm 1897, khi cụ bắt đầu bước sang tuổi “cổ lai hy” thì con rể của cụ là Nguyễn Xuân Chức biên soạn cuốn sách Hành Thiện Đặng công hành trạng nói về công danh, sự nghiệp và các tác phẩm của cụ. Năm 1925, sau khi cụ qua đời 15 năm, con trai cụ là Đặng Xuân Viện (lấy bút danh Đặng Nguyên Khu) đã hoàn thành cuốn sách Hy Long di thặng gồm 23 hồi, bắt đầu “từ thưở nhỏ hàn vi” và kết thúc khi “lâm chung di chúc”, đã kể lại đầy đủ và khá chi tiết lịch sử một con người trải qua 8 triều vua nhà Nguyễn, cả thọ, cả danh, cả phúc đều trọn vẹn và đã để lại một tấm gương đạo đức cao thượng cho thiên hạ cùng soi.

Kính thưa toàn thể quý vị,
Năm 2008, kỷ niệm tròn 180 năm năm sinh của cụ, cũng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, Thành phố Hà Nội đã quyết định đặt tên đường phố Đặng Xuân Bảng tại khu đô thị mới Linh Đàm, quận Hoàng Mai, vinh danh cụ, một danh nhân Văn hóa lớn Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Ngày hôm nay, kỷ niệm tròn 100 năm ngày mất của cụ, tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, nơi hội tụ nguyên khí quốc gia gần một thiên niên kỷ, Hội Sử học Hà Nội, Trung tâm Văn hóa khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn di tích Cổ Loa - thành cổ Hà Nội và Ban Đại diện dòng họ Đặng Xuân phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học bước đầu giới thiệu những tư liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu mới về con người và sự nghiệp của cụ Đặng Xuân Bảng. Chúng tôi đã nhận được 20 báo cáo và sơ bộ biên tập, tập hợp trong Kỷ yếu nội bộ Hội thảo theo thứ tự từ những nhận xét, đánh giá chung cho đến sự nghiệp của cụ trên các lĩnh vực Sử học, Văn chương, Giáo dục và các lĩnh vực khác. Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do thời gian chuẩn bị quá gấp gáp và do chưa có điều kiện đầu tư nghiên cứu cơ bản, nên một số báo cáo mới còn đang ở dạng phác thảo, một số lĩnh vực hoạt động của cụ vẫn chưa được đề cập đến. Chúng tôi trông đợi các ý kiến bổ sung để hoàn chỉnh các báo cáo trước khi xuất bản chính thức tập Kỷ yếu và hoàn chỉnh quá trình chuẩn bị cho một kế hoạch xuất bản Toàn tập Đặng Xuân Bảng trong tương lai."



[1] Để đối lại câu “Trời có mắt, trời không xa, đèn trời soi xét”.
[2] Để đối lại câu “Bé chẳng vin, cả gẫy cành, nên phải học ăn, học nói, học gói, học mở”.
[3] Cùng khoa này người cha của cụ lại tiếp tuc đỗ Tú tài lần thứ 3 và thậm chí 4 lần tiếp sau vào các năm 1847, 1848, 1850, 1842 cũng vẫn chỉ dừng lại ở bậc Tú tài.
[4] Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005, tr 6.
[5] Dẫn trong Đặng Xuân Bảng: Việt sử cương mục tiết yếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr 6.





Thứ Bảy, 18 tháng 12, 2010

Giáo sư Trần Văn Giàu- Một học giả lớn!


Đinh Xuân Lâm - Phạm Hồng Tung

Ảnh hưởng và uy tín của Trần Văn Giàu trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận - hiện đại được khẳng định trước hết không phải bởi số lượng khổng lồ các công trình đã công bố, mà chính là ở cách tiếp cận và thái độ nghiêm túc nghề nghiệp ông thể hiện nhất quán trong tất cả các công trình đó. Có thể nói, Trần Văn Giàu là một sử gia mác-xít. Chất mác-xít - nói như lời của một học trò của ông, GS Trần Quốc Vượng, đã “ăn” vào máu thịt ông.

Giáo sư - Nhà giáo nhân dân - Anh hùng lao động Trần Văn Giàu là tác giả của những công trình được tuyển chọn và giới thiệu trong tập I và tập II của bộ sách quý Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) ấn hành năm 2003.

Các công trình được tuyển chọn và công bố trong tập I và II của bộ sách Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đương nhiên là những công trình tiêu biểu nhất của ông. Mặc dù hai tập sách đã rất đồ sộ (với tổng cộng 3.558 trang), nhưng đó cũng chỉ thể hiện được một phần những cống hiến học thuật mà Trần Văn Giàu đã dâng tặng cho cách mạng, dân tộc và nền khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam.
Điều cần nói rõ ở đây là: thế giới quan mác-xít được thể hiện theo một cách rất riêng trong phương pháp mà Trần Văn Giàu tiếp cận và nghiên cứu lịch sử. Chắc chắn là ông thuộc vào thế hệ những trí thức Tây học đầu tiên tự nguyện tiếp nhận phương pháp tư duy mác-xít một cách hoàn toàn duy lý, khoa học và đối xử học thuyết Mác – Lê-nin một cách khoa học - đúng như Mác từng đòi hỏi.
Nguyên tắc quan trọng nhất trong nhận thức và trình bày lịch sử của Trần Văn Giàu là tôn trọng sự thực. Đó là cách viết sử mà ông gọi là “việc có ngày tháng, người có tên tuổi”. Sách ông viết, từ Chống xâm lăng, Giai cấp công nhân Việt Nam (hai bộ) đến Miền Nam giữ vững thành đồng và Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam cứ ngồn ngộn tư liệu, tư liệu từ nhiều phía, khai thác từ nhiều nguồn.

Ông lại vốn rất cẩn trọng trong sưu tầm và sử dụng sử liệu, luôn luôn phê phán, so sánh, định rõ độ xác tín của chúng. Tư liệu ông đã dùng thường phải có chú dẫn rõ ràng. Phần nào chưa rõ, còn nghi ngờ, ông cũng nói rõ để người đọc thận trọng, tự kiểm chứng. Công trình của ông, dù ăm ắp những tư liệu nhưng người đọc không hề thấy nhàm chán, mà ngược lại bị cuốn hút mạnh mẽ do cách ông biện giải rất hùng hồn, mạch lạc.

Hai bộ sách của ông viết về lịch sử phong trào công nhân Việt Nam là những công trình được tham khảo và trích dẫn nhiều nhất ở cả trong nước và nước ngoài. Người ta tham khảo hai bộ sách này trước hết vì nó sống động và ngồn ngộn tư liệu, như đã nói ở trên.
Nhưng điều làm cho các bộ sách này được đánh giá cao, tham khảo rộng rãi còn chính là vì phương pháp, cách tiếp cận mà Trần Văn Giàu thể hiện trong các công trình nghiên cứu này. ở nước ngoài và nhất là ở Việt Nam có nhiều người đã tìm cách trình bày, lý giải các quá trình, sự kiện của lịch sử cận - hiện đại Việt Nam theo những cách khác nhau.
Tuy nhiên, trong phần lớn các công trình được phát hành bằng nhiều thứ tiếng ở nhiều nước ấy đều có chung cách nhìn, cách trình bày khiến cho lịch sử chỉ còn là lịch sử của các chính đảng, các lãnh tụ, các tôn giáo và các nhóm thượng lưu đủ loại. Chỉ có trong các công trình nói trên của Trần Văn Giàu thì lịch sử mới thực sự được trình bày như là “sự nghiệp của quần chúng nhân dân”, trong đó diện mạo, hình hài, tâm tư, nguyện vọng, hoạt động của quần chúng đã được tái hiện sinh động và cụ thể.
Cách viết sử ấy của Trần Văn Giàu rõ ràng đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức luận và các tiếp cận của nhiều học giả trong và ngoài nước. Ở Việt Nam, kế tiếp công trình của ông đã xuất hiện một số nghiên cứu khác rất có giá trị về công nhân, nông dân, phụ nữ... được thực hiện theo cách tiếp cận này.

Ngày nay, việc áp dụng các cách tiếp cận của nhân học, xã hội học và trình bày lịch sử theo kiểu “bottom up” (nhìn từ dưới lên) đang ngày một trở nên thịnh hành trong giới sử gia nhiều nước, và đã bắt đầu có dấu hiệu trở thành xu hướng cực đoan, “thấy cây mà không thấy rừng”. Chính trong bối cảnh này bộ sách Giai cấp công nhân Việt Nam của Trần Văn Giàu lại càng khẳng định được giá trị có tính phương pháp luận của nó.
Trong khi viết sử, dù lấy phong trào quần chúng làm đối tượng chính, Trần Văn Giàu vẫn duy trì được cái nhìn đa diện; đa chiều, không cực đoan, không thiên lệch. Nghiên cứu về công nhân mà chỉ ra cái ranh giới chính trị-xã hội vừa rõ ràng, vừa mong manh giữa hai lớp người, một lớp là “thầy”, lớp kia là “thợ”; chỉ ra được mối tương tác giữa chính thể, đoàn thể quần chúng và giai cấp công nhân thì ở Việt Nam chỉ có Trần Văn Giàu làm được.

Bộ sách khác của Trần Văn Giàu cũng rất nổi tiếng cả ở trong nước và ở nước ngoài chính là công trình gồm ba tập Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám mà ông công bố trong khoảng thời gian 1973-1993. Đây chính là bộ công trình mà ông dụng công, dụng tâm, dụng trí nhiều hơn cả để hoàn thành. Vốn chuyên viết giáo trình, khảo cứu và dựng lại lịch sử các phong trào quần chúng, khi bắt đầu bước sang lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam, Trần Văn Giàu biết rất rõ rằng ông đang tự mình đảm nhận một nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp.
GS Đinh Xuân Lâm - TS Phạm Hồng Tung

Báo Sài Gòn giải phóng ngày 21/11/2004


Vào lúc 17h20 ngày 16/12/2010, GS Trần Văn Giàu đã từ biệt thế giới này để đi vào cõi vĩnh hằng.
 GS Trần Văn Giàu là người thầy lớn của nhiều thê hệ những người làm sử Việt Nam, cũng là người Thầy của cha tôi. Kỷ niệm của tôi về Ông và cha tôi là cha luôn gọi Ông là thầy  và xưng con với một sự kính trọng đặc biêt. Những cựu sinh viên khoa sử cũng sẽ nhớ mãi lời dặn dò và tâm sự của Ông trong buổi lễ Khoa Sử đón nhận danh hiệu anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới và tiếng hô của GS Trần Quốc Vượng " Trần Văn Giàu muôn năm" trong buổi lễ hôm ấy... Nhưng tất cả đều hiểu rằng đó chỉ là mong muốn của chúng ta - còn sinh- tử là chuyện của muôn đời..
Đã có rất rất nhiều bài báo viết về Ong, nhưng tôi chọn đăng bài viết này ở đây vì đó là bài viết của những người đại diện cho hai thế hệ những người làm sử Việt Nam. Giáo sư Đinh Xuân Lâm, người học trò được GS Trần Văn Giàu trực tiếp đào tạo và PGS.TS Phạm Hồng Tung, thế hệ sau chỉ học Ông qua các công trình của ông và đã tu nghiệp 10 năm ở Cộng hòa Liên bang Đức nhìn nhận những công trình của GS Trần Văn Giàu dưới góc độ đóng góp về mặt lý thuyết và phương pháp.

Có thể đọc thêm tâm sự của GS Đinh Xuân Lâm về người Thầy lớn của mình ở đây:
Và một số bài viết khác ở đây:

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010

Dấu ấn thời gian và những kỷ vật kháng chiến


Đây là tên cuộc triển lãm khai mạc  chiều 15/12/2010 tại Bảo tàng Lịch sử quân sự. Tôi đã được dự cuộc khai mạc này một cách hết sức tình cờ. Đây là lần thứ 2 đến bảo tàng này cho buổi học trong  một chương trình cố định. Thứ sáu trước, chúng tôi đã đến, nhưng phải quay về vì là ngày đóng cửa theo lịch phục vụ của Bảo tàng. Hôm nay chúng tôi đến thì Bảo tàng cũng lại đóng cửa để phục vụ cho cuộc triển lãm chuyên đề Dấu ấn thời gian- Những kỷ vật kháng chiến nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22/12. Nhưng như các cụ nói, trong cái rủi có cái may, tôi gặp một người quen- một tiền bối, học trên tôi một khóa, hiện là một cán bộ của Bảo tàng đã nhận ra tôi sau khá nhiều năm và đã cho phép tôi và các em sinh viên vào dự lễ Khai mạc triển lãm, đồng thời cũng là Lễ trao giải cuộc thi Viết về Những kỷ vật kháng chiến.



Đây là chị Ngọc Lâm- TS Sử học, cán bộ của Bảo tàng, người bảo lãnh cho cô trò chúng tôi


Cắt băng khai mạc triển lãm là bác Lê Khả Phiêu. Đến dự cuộc triển lãm tôi còn thấy có Đại sứ Mỹ tại Việt Nam


 Và khá đông những vị khách , tôi đoán cũng từ Đại sứ quán Mỹ 

Cuộc triển lãm đã trưng bày nhiều kỷ vật của một thời chống Mỹ- có lẽ đó là lý do  của việc có nhiều người đến từ Đại sứ quán Mỹ.




Do bệnh nghề nghiệp, chắc vậy, tôi quan tâm tới tài liệu chữ viết. Triển lãm lần này đã trưng bày bản gốc Nhật ký bằng tranh của Lê Đức Tuấn ( Trung tâm tư liệu về chiến tranh Việt Nam ở Texas mới bàn giao cho Việt Nam, những trang nhật ký...) Chị Ngọc Lâm- trưởng phòng Trưng bày và tuyên truyền cho tôi biết thêm, nhật ký của chị Đặng Thùy Trâm hiện đang được bảo quản rất tốt tại Trung tâm tư liệu Việt Nam tại Texas. Việt Nam ta hiện chưa thể có điều kiện bảo quản tốt được như vậy


Nhiều cựu chiến binh cũng gửi tặng những kỷ vật của họ, những bức thư nối liền tình cảm giữa nhưng người ở hậu phương và những người ngoài tiền tuyến. Hôm nay, họ lại có mặt ở đây để gặp lại những kỷ vật của mình với niềm tin tưởng những tâm sự của họ sẽ giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về cuộc kháng chiến.


Tôi cũng chợt thấy xúc đông khi gặp lại chiếc mũ rơm vẫn theo chúng tôi trên đường tới trường trong những năm 1965-1968.



Các em sinh viên của tôi cũng đã được gặp những nhân chứng lịch sử: Vợ chồng người bác sĩ quân y



( Ảnh này có góc chụp tốt hơn- rõ mặt các em sinh viên của tôi hơn- tôi lấy từ báo Công an nhân dân)
Người Phi công lái chiếc mày bay Mic21 đã bắn rơi chiếc F4 của Mỹ trong trận đầu tiên của chiến dịch tập kích bằng mày bay B52 của Mỹ trong năm 1972, anh Nguyễn Hồng Mỹ. Anh đã kể cho sinh viên của tôi nghe về cuộc chiến đấu của anh trên bầu trời những ngày tháng  khốc liệt đó. Các em sinh viên đều hào hứng với câu chuyện của anh





Chúng tôi còn được gặp người  anh hùng huyền thoại Lê Mã Lương


Và trong những ngày như hôm nay, người cựu chiến binh năm xưa vẫn bồi hồi nhớ đến những người bạn đã ra đi. Anh Nguyễn Hồng Mỹ đã kể về người bạn của mình anh Vũ Xuân Thiều đã hi sinh khi lao thẳng máy bay vào maý  bay của kẻ thù trong một tình huống bất khả kháng. Đó là anh đã phải đối mặt với máy bay địch trong một cự lý quá ngắn. Anh Mỹ đã ngậm ngùi đọc một bài thơ anh làm về nỗi buồn của những người lính khi nhớ về những người đồng đội của mình đã không có mặt trong ngày chiến thắng. Tiếc rằng tôi đã không thể ghi lại bài thơ của anh, nhưng biết đó là một bài thơ hay vì nó được viết bởi một tình cảm chân thực của những con người đã cùng nhau cận kề cái chết.



Câu chuyện về anh Nguyễn Hồng Mỹ có thể đọc thêm ở đây:

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2010

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG LỊCH SỬ


(Qua giải mã một vài biểu tượng tín ngưỡng và huyền tích nữ thần) 

Lâm Thị Mỹ Dung

Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam theo GS. Trần Quốc Vượng có ba đặc điểm chính: 1. Sự hỗn dung tôn giáo; 2. Đạo thờ cúng Tổ tiên; 3. Tâm thức vật linh- Đa thần. Thần điện dân gian Việt về cơ bản hình thành từ cơ tầng tín ngưỡng Đông Nam Á của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước với cơ cấu kinh tế tiểu nông mà trong đó người phụ nữ có vai trò rất lớn. Người phụ nữ làm nông nghiệp chẳng kém gì đàn ông, là người nắm “tay hòm chìa khoá” và nuôi dưỡng con cái.
Một số học giả như Phạm Quỳnh, Từ Chi, M.Durand và P. Huard- toàn đàn ông cả Việt, cả Tây- đã đưa ra công thức nổi tiếng về gai đình của người Việt: “Người chồng trị vì, người vợ cai quản”.

Do và từ nhiều nguyên nhân/điều kiện xã hội, tự nhiên, lịch sử... mà Thần điện dân gian Việt nam bị nhiều những lớp văn hoá tôn giáo từ bên ngoài (Phật - Đạo - Nho...) phủ lấp. Những tôn giáo này đậm dương tính đã là thách thức lớn đối với tín ngưỡng bản địa của người Việt vốn là tín ngưỡng nông nghiệp đậm âm tính. Tuy vậy, Tam giáo đã không thể làm mất đi tâm thức vật linh- cơ nền của tín ngưỡng bản địa Việt. Mặc dù bị các tôn giáo bên ngoài tác động - cưỡng bức hay tự nguyện - những tín ngưỡng này phần nào đã bị biến đổi. Song ý niệm biểu tượng về căn bản thay đổi không đáng kể. Nổi bật trong hệ thống này chính là tín ngưỡng nữ thần với nhiều biểu hiện khác nhau. Việc thờ nữ thần có gốc gác đa dạng- nhân thần, nhiên thần, thiên thần...- dù đã được dung hoá ở các cấp/mức độ khác nhau với những văn hoá, tôn giáo... bên ngoài - cũng chính là biểu tượng thể hiện vị thế của người đàn bà Việt- ảo - thực/ thiêng - phàm - trong đời sống gia đình và xã hội. GS. Trần Quốc Vượng đã gọi đó là “Nguyên lý Mẹ” của nền văn hoá Việt Nam.

Biểu tượng 1: Mỵ Châu (1)
Những truyền thuyết lưu truyền về Mỵ Châu dù có những biến thể khác nahu do xuất hiện không đồng đều trong thời gian, không gian và đã bị ảnh xạ qua lăng kính phụ hệ đều đồng thanh xác nhận rằng Nàng là người được giao trọng trách trông và cất Nỏ thần - và cho dù đây là nguyên nhân chính của bi kịch tình yêu - bi kịch lịch sử thì cũng chính là chìa khoá để giải mã biểu tượng văn hoá - biểu thị vai trò cao của người đàn bà và tính cách truyền dõi theo dòng mẹ của xã hội Việt thời cổ và ảnh hưởng của nó ở những giai đoạn lịch sử muộn hơn.

Biểu tượng 2: Âu Cơ

Truyền thuyết về nguồn gốc của người Việt và quá trình hoà hợp/đối kháng của hai bộ phận dân cư miền cao và miền thấp - theo tư duy lưỡng phân/lưỡng hợp - cho thấy vai trò mang tính ưu thế của yếu tố nữ - dòng mẹ: 50 con theo Mẹ Âu Cơ lên núi (tức là ở lại đất Tổ Phong Châu) - Làng Cả và suy tôn một người làm Vua (Vua Hùng), 50 con theo Cha Lạc Long Quân xuống biển. Sơn Tinh (Thánh Tản Viên - Ba Vì) ban đầu theo cha xuống Biển sau vì nhớ mẹ lại ngược sông về non theo Mẹ, để rồi luôn là vị Thánh đứng đầu trong Tứ Bất Tử của người Việt “Nhất cao là núi Tản Viên”...

Mặc dù ở những lớp phủ muộn hơn ta đã thấy quan điểm phụ hệ được điểm xuyết vào một cách lộ liễu - thông qua sự tích tết mùng 8 tháng 3 âm lịch ở vùng Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Tây). Vùng này còn tục nặn 100 viên bánh trôi, hình bầu dục, để tưởng nhớ đức Quốc tổ Lạc Long Quân và Âuu Cơ đã sinh trăm trứng. Làm lễ xong, người ta lấy 49 viên bánh cho vào chiếc thuyền bằng lá thả xuống sông Hát, cho thuyền trôi ra biển, gưỉ xuống Long cung với ý, đó là 49 người con trai theo Lạc Long Quân về biển (một con ở lại làm vua mặt đất, và 50 con theo Âu Cơ lên rừng).

Vua Hùng - Tổ dựng nước là ở trong số các con theo Mẹ. Chỉ mãi đến cuối thế kỷ 19 các tác giả sách “Việt sử thông giám cương mục” mới “chữa” lại là theo Cha ! đó là sự xuyên tạc “giả dân gian” (fakelore) về Truyền thuyết khởi nguyên. (Trần Quốc Vượng 1996: 43).

Biểu tượng 3: Man Nương và Tứ Pháp

Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo và hệ tư tưởng khác khi du nhập vào Việt Nam bằng các cách thức và con đường khác nhau đều được tiếp biến/giao thoa hay “vượt gộp” theo từng mức độ với những tín ngưỡng, triết lý bản địa. Trong “Lĩnh Nam chích quái” còn ghi lại chuyện Man Nương và Khâu Đà La (2), được giải mã một cách cơ bản như một sự kết hợp giữa tín ngưỡng bản địa và Phật giáo chính thống, để tạo ra Phật giáo Dâu - SƠN MÔN DÂU rát riêng, rất độc đáo. Tính riêng, tính độc đáo thể hiện ở yếu tố Nữ áp đảo - Một PHẬT MẪU MAN NƯƠNG, một hệ thống TỨ PHÁP: VÂN - VŨ - LÔI - ĐIỆN cũng toàn bà. Đây được coi là đặc điểm chung của tín ngưỡng vIệt. Cũng là biểu hiện của cái Sinh (Phồn thực Thiêng), chất Mẹ của người Việt cực kỳ sâu đậm bát chấp cả Phật giáo lẫn Khổng giáo. Đó chính là cốt lõi tâm hồn Việt, cái cốt lõi đó được bảo tồn trong dân gian. (Nguyễn Duy Hinh 1996: 210-213).

Có thể còn những cách giải mã khác nữa song đó lại là chủ đề của một nghiên cứu sâu. Chỉ xin lưu ý những từ in đậm trong đoạn trên để minh giải rõ hơn ý tưởng khi Phật giáo Ấn Độ (dương tính) tới nơi mà người đàn bà nắm vị trí chủ chốt đã buộc phải làm một sự dung hoà để có thể hội nhập. Tín ngưỡng bản địa của cư dân trồng lúa nước - biểu tượng là hòn đá cầu mưa thành Thạch Quang Phật, các phụ tính thiêng liêng của thần trở thành các Phật Mây, Mưa, Sấm, Chớp lấn át các Phật chính thức, tất cả có uy vũ đến đâu cũng phải chịu tôn xưng Man Nương là Tổ. (Tạ Chí Đại Trường 1989: 86-87).

Biểu tượng 4: Bà Chúa Ba - Phật Bà Quan Âm.

Những nhà nghiên cứu tôn giáo cho rằng một trong những đặc điểm của Phật giáo dân gian Việt Nam là tính Nữ nổi trội. Phật điện của chùa Việt có tới hàng trăm các vị Phật, đó là chưa kể những đại diện của Nho - Đạo - Tín ngưỡng dân gian khác, song cũng chỉ một Bà được dân kính nhớ: Quan Âm, thường được gọi bằng cái tên giản dị - Phật Bà.

Khởi nguyên Quan Âm hay Quan Thế Âm (Avalokitesvara), một trong hai Bồ tát phụ tá Phật A Di Đà mang dạng Nam. Rồi được nữ hoá trên đất Trung Hoa, nhất là từ thời Tống. Và không hẳn như một số nhà nghiên cứu Việt Nam khẳng định nguyên nhân nữ hoá là do khi nhập vào Việt Nam của cư dân nông nghiệp lúa nước, luôn đề cao bà Mẹ Đất và bà Mẹ Nước ... nên vị Bồ tát này đã được Việt Nam hoá để trở thành Phật bà Quan Âm (Nguyễn Minh Hoàng 1996: 58). Cũng không cần bàn nhiều về quá trình chuyển hoá này, chỉ cần lưu ý rằng do tính chất và vai trò của mình, Phật Bà quan Âm đã đáp ứng trọn vẹn những ước muốn, tâm tư của người Việt và đã được dung hoá nhiều lần với những nữ thần dân gian - những Bà, những Mẹ, những Mẫu, để rồi trong tâm thức dân gian chỉ còn đọng lại hình tượng Bà Quan Âm. Bà át cả Ông, đến nỗi người ta quên cả sự tồn tại của Quan Âm nam tính trong Phật điện Việt Nam. (Nguyễn Duy Hinh 1996: 213-214).
Khu di tích Hương Sơn gắn liền với sự tích Bà Chúa Ba - Phật Bà Quan Âm - hay Đức Nam Hải Quán thế âm mà bản Diễn ca gắn với vị Phật này được giải mã như một sự tổng hợp cả tín ngưỡng Tam giáo với truyền thống dân tộc mà nổi bật lên là thế ứng xử Hiếu - Nhân của con người. (Nguyễn Minh Hoàng 1996: 60).
Hương Sơn là cả một tổng thể - hay phức thể tôn giáo - văn hoá Việt nam cổ truyền. Ở toàn thể khu vực này, đặc biệt là ở khu vực Tuyết Sơn còn nhiều đền thờ Mãu Đệ nhị - Thượng ngàn (Bà Chúa Rừng xanh và Thế giới người đã khuất). Một số nhà nghiên cứu đã nhận định khá hợp lý rằng Bà Chúa Ba khu Hương Sơn là một hoá thân theo Phật đạo của Mẫu Thượng Ngàn. Một ví dụ tuyệt vời về sự dung hoá nhuần nhuyễn giữa cái nội sinh và cái ngoại sinh.

Và cũng không phải chỉ là một Phật Bà Việt như Bà Chúa Ba này, có thể kể một số trường hợp khác như Bà Trắng Chùa Dâu, các Thánh Mẫu... rồi cả Ỷ Lan Thái Phi được đồng nhất với Phật Quan Âm.

Biểu tượng 5: Bà Chúa KhoNhững thần nữ trong tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc đa dạng và ở mỗi khu vực khác nhau lại có những biến thái khác nhau. Trường hợp Bà Chúa Kho cũng nằm trong thông lệ đó. Ở châu thổ Bắc Bộ có hai nơi thờ tự Bà: Giảng Võ, Hà Nội và Cổ Mễ, Bắc Ninh. Huyền thoại về hai Bà mang những nét chung và riêng với huyền thoại về các nữ thần của người Việt.
Huyền thoại kể lại rằng cả hai Bà sinh thời đều làm nghề giữ kho, đều hoàn thành công việc xuất sắc, xứng đáng được lưu danh sử sách, đáng được muôn đời ghi nhớ. Huyền tích cũng nhấn mạnh vai trò nội tướng của các Bà Mẹ Việt trong cả sự nghiệp dựng/khai phá và giữ nước.

Dù rằng tín ngưỡng Bà Chúa Kho ở cả hai nơi đã được hội nhập với những tín ngưỡng dân gian khác... đặc biệt là tín ngưỡng Tam Toà - Tứ Phủ... song không vì thế mà vai trò của các Bà bị lu mờ. Ngược lại sự phối tự này (rất Việt) đã làm nổi bật vị trí trung tâm của bà Chúa Kho trong hệ thống thần linh Việt đầy tính nữ.
Biểu tượng 6: Mẫu Liễu Hạnh - Thiên Y A Na - Bà Chúa Xứ - Bà Đen...

Đạo thờ Mẫu

Theo Ngô Đức Thịnh tục thờ Mẫu “... hình thành và định hình đầu tiên ở Bắc Bộ, sau đó theo chân cư dân Việt vào Nam, hoà nhập với thần linh địa phương mang tính độc đáo, địa phương ở Huế, ở Nam Bộ...” (Ngô Đức Thịnh 1992: 17).
Khởi nguyên là tín ngưỡng thờ Mẹ: Mẹ Xứ sở, Mẹ Đất, Mẹ Nước... rồi theo dòng lịch sử qua sự hội nhập với các tín ngưỡng, tôn giáo và hệ tư tưởng khác mà đã hình thành Đạo thờ Mãu độc đáo với Thánh Mẫu Liễu Hạnh.Description: http://2.bp.blogspot.com/_nlZrIFQV82o/SnOND_QhroI/AAAAAAAAANo/pbYcgQLhXzQ/s400/Mau+Lieu+Hanh.jpg2.jpg
Tục thờ mẹ hiện diện ở nhiều dân tộc, mỗi một nơi lại có một bà Mẫu khởi nguyên, xem đó là tổ tiên của mình. Mẫu Âu Cơ của người Việt, Mẫu Thiên Y A Na của người Chăm... Và trong quá trình phát triển các tín đồ Mẫu lại tiếp nhận và tôn thờ thêm những hình tượng khác và Điện thờ Mẫu không phải chỉ có một vị Mẫu mà gồm nhiều vị. Diện mạo Mẫu khá đa dạng cả về nguồn gốc lẫn thành tích và công trạng, cũng như sự “hiển linh”. Hệ thống thần điện gồm nhiều nhiên thần và nhân thần trong đó có khá nhiều các nhân vật lịch sử - văn hoá không chỉ của tộc người Việt. Quá trình hội nhập và dung háo giữa các Mẫu Việt đặc biệt là Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các thần nữ - các Bà Mẹ Xứ sở của một số tộc người khác trong diễn trình lịch sử đã tạo ra nhiều hiện tượng độc đáo.

Hình tượng Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện vào thế kỷ 16 được nhiều nhà nghiên cứu gắn với sự quay trở về Nguyên lý Mẹ của văn hoá Việt cổ truyền. là sự phản kháng của dân gian chống lại tư tưởng độc tôn Nho giáo, trọng nam khinh nữ. Mẫu Liễu Hạnh còn là một trong những vị thánh “Tứ Bất Tử” Việt. Có thể còn có những nguyên nhân khác để giải thích sự phổ biến sâu rộng của vị nữ thần này như sự xuất hiện của Thiên Chúa giáo, của Nội Đạo và sự phát triển của thương mại đường biển... Dù lý do nào đi nữa chúng ta phải ghi nhận khuynh hướng thời đại lúc bấy giờ là tôn sùng nữ thần.

Trên Điện thần Mẫu, Mẫu Liễu Hạnh được đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên - Tiên Thiên Thánh Mẫu - lực lượng sáng tạo ra trời và đặt ra cách vận hành của bầu trời. Huyền tích về Bà chứa đựng những yếu tố phàm mà thiêng, bình thường mà phi thường. Bà là biểu tượng cho sức giải phóng, ý thức tự do và lòng nhân đạo của phụ nữ.

Hinh tượng Thiên Y Ana Ngọc Diễn Phi

Thiên Y Ana (YANGSPIRO NEGARA) tức Bà Mẹ Xứ sở (tiếng Việt) là vị nữ thần nổi tiến của người Chăm. Nơi thờ chính là Tháp Bà - Nha Trang, Khánh Hoà (3). Tại miền Trung, còn nhiều đền thờ Bà mẹ Xứ sở và thường được người Viẹt gọi tắt là đền bà “Yang” - Giàng như kiểu lùm Bà Dàng, đồi Bà Giàng, xứ Bà Yang...Description: http://2.bp.blogspot.com/_nlZrIFQV82o/SnONPVAj1YI/AAAAAAAAANw/JOscdW4opOA/s400/Thanh+TYAN1.jpg
Sự đồng cảm giữa hai tộc Việt - Chăm có cùng một cơ sở tín ngưỡng nông nghiệp thờ Mẹ đã là nguyên nhân chính của sự xuất hiện những Mẫu hai hoà Một - kết quả của sự dung hợp cả hai nền văn hoá. Có thể kể tới vị thần Nữ Tối Thượng ở Điện Hòn Chén rồi chùa Thiên Mụ - Huế, rồi tiếp theo hàng loạt là những Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi được thờ suốt dọc miền Trung. Uy thế của vị Nữ thần này thật sự sâu rộng và bên cạnh những cụm di tích thờ cúng có qui mô lớn như Điện Hòn Chén - Huế, Tháp Bà - Nha Trang hay những đền thờ riêng lẻ thì vị thần này được phối thờ rất nhiều, rồi lại được triều đình phong kiến sắc phong làm thần Thành hoàng của nhiều làng ở Miền Trung Việt Nam. Tư liệu điền dã của chúng tôi tháng 2 năm 2002 cho thấy trong bộ sắc phong gồm 34 đạo sắc đình Nam Thọ - Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng có niên đại từ Minh Mạng đến Bảo Đại thì đã có tới 5 đạo sắc của Bà Chúa Ngọc. 5/25 đạo sắc từ Minh Mạng đến Khải Định của đình Tuý Loan, xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng là của Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi . Tục thờ nữ thần in đậm đến mức từ tượng thần nam (Kubera - Chăm) được biến thành tượng Nữ thần - Phật Bà như ở Hội An mà chúng tôi đã phát hiện trong đợt điền dã tháng 8 năm 1989.

Ngay cả ở miền Bắc cũng lưu giữ vết tích Thiên Y A Na và những Nữ thần khác của dòng văn hoá Chăm chảy ngược được hội nhập vào văn hoá Việt dù không hoàn toàn tự nguyện, và tất nhiên cũng đã được Việt hoá theo cả hai cách Chính thông và Dân gian. Đó là trường hợp thần hậu thổ (thời Lý) ở Thăng Long với những danh hiệu phong tặng “Hậu thổ Địa kỳ Nguyên quân” năm 1258; “Nguyên Trung” năm 1288; “Ứng Thiên Hoá Dục” năm 1313. Huyền tích và tên gọi gợi nhắc nguồn gốc và tính chất Chăm của thần (Tạ Chí Đại Trường 1989: 114-115). Trường hợp nữa là vị thần được thờ ở Châu Lâm tự (tên nôm là chùa Bà Đanh-Bà Banh) cũng ở Thăng Long - thời Lê. Đây là nữ thần Po Yan Dari của người Chăm được Việt hoá. Nói như vậy để thấy một điều nữ thần ngoại tộc do đáp ứng được những yêu cầu sâu thẳm của đời sống tâm linh dễ được hội nhập và phổ biến rộng rãi hơn.

Hình tượng Bà Chúa Xứ, Bà Đen...

Bà Chúa Xứ có nguồn gốc ở Châu Đốc, điện thờ chính ở núi Sam (Châu Đốc - An Giang) có cùng gốc với Chúa Ngọc, Chúa Tiên, là biến thiên của Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi song đã được Nam Bộ hoá. Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen), điện thờ chính ở núi Bà Đen (Tây Ninh) lại là kết quả của sự hội nhập các yếu tố Khmer - Hoa - Phât... Những vị thần này cùng với hàng loạt các vị nữ thần địa phương khác có mặt thường nhật trong đời sống gia đình và xã hội của các cộng đồng cư dân Nam Bộ. Tín ngưỡng thờ Nữ thần in đậm dấu ấn trong tục thờ cúng ở gia đình, ở lễ hội, ở đình, chùa miếu...


Kết luận

Chỉ qua một vài biểu tượng chọn lựa ngẫu nhiên đã thấy sự đa dạng, đa nghĩa của các biểu tượng nữ thần. Bài viết do yêu cầu của đề tài cũng không đíi sâu vào việc phân tích nguồn gốc, tính chất và các lớp văn hoá khác nhau của mỗi một biểu tượng. Có thể thấy rằng cơ tầng văn hoá sâu và lâu bền nhất của người Việt thiên về tính nữ. Tính nữ bền vững tới mức dù chịu áp lực rất lớn của những hệ tư tưởng và tôn giáo từ bên ngoài của các dòng phụ hệ Đông và Tây để rồi lớp vỏ phải thay hình đổi dạng, thì vẫn bao bên ngoài của cái “Lõi Việt”. Khi ảnh hưởng của Nho giáo gia tăng, vai trò của người phụ nữ thực suy giảm, ta lại thấy có xu hướng gia tăng của tín ngưỡng thờ nữ thần. Theo thóng kê có tới 75 nữ thần chính. Trong Hội Chân Biên - một phái của đạo Nội, tuy tổ sư là một tiên ông (Chử Đồng Tử), nhưng tổng số nam thần chỉ là 13 so với 14 thần nữ. Nhiều đình làng Thành Hoàng là Nữ thần và như vậy có một nghịch lý giữa cái thực và cái thiêng, giữa phàm và ảo khi lui tới chốn đình chung trước đây chỉ là những người đàn ông!
Xã hội Việt, Văn hoá Việt đã trải qua bao thăng trầm, đã biết bao lần hội nhập, dung hoá với những luồng văn hoá, văn minh song vẫn lưu giữ cơ tầng bản địa với nguyên lý trọng Nữ (cả từ trong vô thức chứ không chỉ ý thức). Truyền thuyết về việc 50 người con theo Mẹ Âu Cơ ở lại vùng núi, lập Quốc, việc Trọng Thuỷ ở rể và Mỵ Châu coi giữ nỏ thần, hiện tượng Hai Bà Trưng, Bà Triệu... tín ngữơng thờ Nữ thần... đã chứng thực điều đó.

Cũng không rõ tại sao những nơi thờ nữ thần (bất kể có tên tuổi hay không) thường đông đúc và có xu thế ngày càng tấp nập. Có thể lấy ví dụ về Bà Chúa Kho, Bắc Ninh. Mẫu Liễu- Phủ Tây Hồ, hà Nội hay Bia Bà, hà Đông hiện nay...


Chú thích

1/ Mỵ Châu - theo nhiều nhà nghiên cứu không hẳn là tên riêng mà là tên chung của các bà chúa - mệ nàng theo kiểu Mị - Mê - Mệ, trong những tên gọi như Me - Ku nữ hoàng Lava, Mị Châu, Mị Nương... (Tạ đức 1999: 338).

2/ Thời Sĩ Nhiếp (Tây Hán) làm thái thú Giao Châu (178-226), nhà sư ấn Độ A-Đà-La (Khâu Đà La) tới trị sở của Sĩ Nhiếp ở Luy Lâu, được một người mộ đạo mời về nhà mình ở. Cô con gái (Man Nương-tên chỉ người đàn bà bản xứ) mang thai (không theo kiểu thông thường - mà là sự thai sinh gián tiếp trong không khí thần bí - kiểu thiêng hoá yếu tố phàm, ảo hoá yếu tố thực), sinh con gái, bế đi tìm trả Khâu Đà la. Sư niệm chú cho một cây lớn tách đôi ra, đặt đứa bé vào giữa hai mảnh cây khép lại. Bão giật đổ cây, nước lũ cuốn đến thành Luy Lâu. Sĩ Nhiếp cho kéo cây lên bờ, nhưng không được. Man Nương đến đẩy nhẹ, cây tự lăn lên bờ. Sĩ Nhiếp sai lấy gỗ tạc bốn pho tượng Tứ Pháp - tượng Nữ thần. Gặp năm hạn hán, ông cho bày 4 pho tượng ra làm lễ cầu đảo. Lễ xong, mưa to gió lớn, sấm chớp. Các tượng được đưa vào chùa dâu, chùa Đậu, chùa phi Tướng, chùa Trí Quả. đứa bé trong thân cây hoá đá (Thạch Quang Phật) đặt trước tượng Pháp Vân.
3/ Nữ thần Nagar (Thiên Y A Na) giáng sinh nhập vào cây gỗ trầm hương trôi trên biển. Gặp và kết hôn với một người, sinh hai con. Sau về với người Chăm và lên ngôi gọi là Po Nagar (Bà Chúa Xứ sở). Đền thờ ở tháp Bà Nha Trang.

Tài liệu sử dụng

1/ Tạ Đức 1999. Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn. Hội dân tộc học Việt Nam. Hà nội.

2/ Trần quốc Vượng 1996. nguyên lý Mẹ của nền văn hoá Việt Nam. Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật. Số 150. Hà Nội.

3/ Nguyễn Duy Hinh 19996. về hai đặc điểm Phật giáo Việt Nam. Trong Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay. NXBKHXH. Hà nội.

4/ Tạ Chí Đại Trường 1989. Thần, Người và Đất Việt. Văn Nghệ. California.
5/ Nguyễn Minh Hoàng 1996. Tư tưởng Phật giáo Việt Nam qua truyện Bà Chúa Ba - Phật Bà Quan Âm. Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật.Số 144. Hà Nội.
6/ Ngô Đức Thịnh 1992. Tục thờ Mẫu Liễu Hạnh - một sinh hoạt tín ngưỡng - văn hó acộng đồng. Tạp chí Văn hoá. Số 5. Hà Nội.


Lâm Thị Mỹ Dung
Được đăng bởi DzungLam vào lúc 17:14 Description: http://img1.blogblog.com/img/icon18_email.gif