Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

Đi coi phụ nữ đá banh

Đây là bài báo tường thuật của nữ phóng viên Nguyễn Thị Kiêm về trận thi đấu bóng đá nữ đầu tiên ở Việt Nam đăng trên báo Phụ nữ tân văn năm 1933. Đội bóng đá nữ đầu tiên ở Việt Nam là đội Cái Vồn do Kỹ sư Phan Văn Sửu thành lập. Theo ông Phan Văn Sửu lý do thành lập đội bóng đá nữ là để giúp phụ nữ rèn luyện thể lực, đặc biệt là giúp phụ nữ trở nên dạn dĩ, sau có thể tham gia các hoạt động xã hội và hoạt động từ thiện. Điều đặc biệt của trận thi đấu này là đội bóng đá nữ Cái Vồn thi đấu với đội bóng đá nam!:)
"Ngày Chúa Nhật 30 Juillet, ai ai cũng trông cho tới 3 giờ chiều đặng đi coi hội phụ nữ đấu cầu với hội Paul Bert. Song từ 11 giờ trưa, trời xân một đám mưa lớn riết tới 3 giờ mấy. Đến 4 giờ mới dứt hột. Tiếng mưa vừa bặt thì ngoài đường tiếng kèn xe máy, xe hơi xe ngựa inh ỏi. Người ta, kẻ dù, người áo mưa đi đông như hôm Hội chợ Pháp-Việt. Trên mấy con đường tấp nập tiếng người xôn xao bàn luận: " Lần thứ nhất có phụ nữ đá banh tại Sài gòn mình không đi coi thì dại lắm... đàn bà mấy làm hơi mà đá banh ta!...cha... dạn dữ! Quá bộ dưới Cái Vồn lên đây,", để coi ăn  mấycái  Goll cho biết.Tới cửa sân banh không biết bao nhiêu người ta. Có người vô được nói rằng: " Thiệt là vô cửa " sanh tử" lắm phải chơi sao!"
Tôi vô được leo lên Tribune thấy đàn bà vô coi đông lắm, có nhiều ông lão , bà lão cũng đi coi, người Pháp cũng bộn.
Ban đầu hai đội banh Marine và đội Port Commerce  đấu chiến với nhau. Rốt cuộc Marine thua một bàn ( Port Commerce 3- Marine" 2).
Kế đó Hội phụ nữ Cái Vồn sấp hàng ra sân. Được 11 người  mà 2 phần là các bạn gái lối 14-15 tuổi. Chị em mặc đàng hoàng chứ không có gì là "Lỗi" như  nhiều người  nói. Đầu có trùm  Béret xanh dợt, áo tráng Col Danton, cổ cũng giềng màu xanh dợt. Trôn áo  nhét vô quần. Quần thì vải đen cụt ống. Chơn mang vớ cụt giày bố trắng. Công chúng thấy phụ nữ thì vỗ tay, người khen, người chộ.
Hội Paul Bert ra sân công chúng thấy vóc rạc hai bên thì cười rùm: Đá banh gì nít nhỏ quá!" Hai Hội Nam nữ lớp quỳ, lớp đứng cho 5-6 máy chụp hình lấy ảnh. Xong Atbit ( Artbitre) thổi dấu hiệu, hai đội banh về thành sấp ra chiến. Hội phụ nữ Cái Vồn đã còn yếu lắm banh chẳng đặng  đưa bổng chỉ chạy gần gần rồi ngừng, nhưng chị em chạy cũng khá lắm, biết cách lừa giao banh. bên hậu tập đà hay hơn hết. Cô Merithe thủ quân cũng giỏi. Chị em lừa banh trật hay là đá hụt thì vẫn cười coi dạn dĩ chớ chẳng vì tiếng cười, tiếng la lối của công chúng mà khiếp, cách chạy, cách đá cũng tự nhiên không gì là coi kỳ. Hội Paul Bert thì nhường cho Phụ nữ đá tới hãm thành kẻ nghịch và thủ thành cũng kịch liệt. Người đi coi hay la lớn: " đá tới chị Hai, chạy mau nó chị Ba" làm công chúng vui cười mà chị em cũng cười. Rốt cuộc Paul Bert thắng Phụ nữ 1 bàn ( 2 à). Ra về công chúng rần rần, rộ rộ, chê đá dở cũng có mà khen phụ nữ dạn dĩ, chạy khá. Tuần tới 6 Aout, hai Hội phụ nữ đấu chiến ắt xen rõ tài chị em hơn vì đồng sức nhau. Chị em, anh em nên tới xem đặng Chúa Nhựt tuần tới
 Nguyễn Thị Kiêm"

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Chuyện của mẹ: Gặp gỡ



Hôm qua là ngày giỗ mẹ.  Nhớ lại ngày sau khi mẹ mất, xem xét những đồ vật mẹ để lại, tôi đã tìm thấy quyển hồi ký của mẹ. Tôi cũng đã tranh thủ gõ lại và lưu trên máy tính. Hôm nay, nhớ mẹ, tôi đưa lên đây một đoạn mẹ kể về cuộc gặp gỡ giữa mẹ và bố  mà nhờ có cuộc gặp gỡ đó mà tôi có mặt trên cõi đời này. Bố mất cách đây đã 42 năm, mẹ ra đi cũng tới 16 năm rồi, vậy mà mỗi khi nhớ đến bố mẹ, tôi đều không cầm được nước mắt. Có thể nói cuộc đời của bố mẹ mang đậm dấu ấn lịch sử văn hóa của  gia đình, dòng họ, và vùng đất quê hương cũng như chịu sự tác động của những biến cố trong lịch sử của đất nước. Mẹ tôi sinh vào đúng ngày 1 Tết nguyên đán năm Ất Hợi ( tức ngày 4/2/1935). Thật kì lạ, năm nay, 1 Tết lại cũng rôi vào ngày 3/2. Và bài viết này vừa là kỷ niệm ngày sinh và ngày giỗ của mẹ. Dưới đây là phần trích trong hồi ký của mẹ tôi.
"Một buổi chiều cuối tháng 10 năm 1950, nhà tôi có khách. Đó là bác Cả Tắc, con dâu cụ Hậu Lô ở xóm 12. Bác vừa là bạn thân, vừa là chị dâu họ của mẹ tôi. Bác đến chơi và ngỏ lời với mẹ tôi, xin tôi cho người cháu gọi bà bằng dì ruột- anh Đặng Dương Viêm (1), con giai thứ của ông bà Hai Tiến ở xóm 8. lúc ấy tôi vừa bước sang tuổi 16. Anh Viêm lớn hơn tôi 5 tuổi, đã tốt nghiệp trung học, học xong năm thứ hai chuyên khoa ở Ninh Bình, Pháp nhảy dù Phát Diệm anh bạt sang Thái Bình, sau quay về Nam Định, đi dạy ở xã Liêu Đông- chính quê của vú nuôi tôi. Hiện anh đang dạy ở trường làng và là hiệu trưởng trường cấp 1.
Mẹ tôi trả lời bác Cả Tắc rằng nay mai bố tôi ở Hả Nội về, ông bà Hai Tiến cứ cho anh xuống chơi để bố mẹ tôi biết mặt anh. Còn tôi đây là một sự kiện lớn khiến tôi xao xuyến, bồi hồi. Nhưng cho đến hôm ấy tôi cũng chưa biết mặt anh Viêm. Ít hôm sau đó , được tin bố tôi dã về, anh Viêm đi cùng với anh Cầu ( người em con cậu ruột của anh) xuống nhà tôi. Anh Cầu trước đây là cán bộ phụ trách của  chúng tôi, khi đội thiếu nữ tiền phong Xuân trường còn đang hoạt động. Anh Cầu yêu một người bạn trong đội của chúng tôi là Ngọc, rồi lấy Ngọc làm vợ.
Bố mẹ tôi tiếp 2 anh ở nhà ngoài. Tôi chui vào căn nhà thờ nhìn người chồng tương lai của tôi qua khe cửa. Trông anh Viêm rất hiền nhưng không vào loại " Bạch diện" tuy rất " thư sinh". Bố tôi lại trở lên Hà Nội vì trên ấy bố đã cũng với ông Lệ (2) mở một phòng chẩn mạch ở số 42 Hàng Bông. Tôi vẫn ngày ngày ra chợ giúp mẹ bán hàng. Khách mua vải của chúng tôi không chỉ có bà con trong làng mà cả những người trong bộ máy chính quyền và quân đội ngụy, song họ không biểu lộ một cử chỉ nào suồng sã với tôi..
Cho đến một lần, Ngọc bạn tôi và là vợ anh Cầu, em dâu anh Viêm- xuống nhà tôi. Ngọc đưa cho tôi lá thư của anh Viêm. Anh nói rằng tuy chưa có điều kiện trực tiếp nói chuyện với tôi, nhưng anh đã nhận ra ở tôi một cô gái mà anh mơ ước, rằng anh yêu tôi và hi vọng tôi cũng yêu anh. Anh thổ lộ cùng tôi những hoài bão của anh về tương lai sự nghiệp, anh tin là sẽ thực hiện được hoài bão của mình dẫu rằng hiện nay anh vẫn phải tạm thời chấp nhận cuộc sống của một thầy giáo trường làng. Không còn nhớ ngày ấy tôi đã trả lời bức thư ấy của anh ra sao, chỉ biết rằng từ đó chúng tôi tiếp tục viết thư cho nhau và không còn ai khác, cũng chính  Ngọc (2) là người giúp  đỡ chúng  tôi.
Cuối mùa đông năm 1950 ấy, có người báo tin là anh Định tôi gửi thư về. Mẹ bảo tôi vào xóm Trong tìm cô Mỵ con cụ Năm Thêm để nhận thư...
Anh Định tôi viết rằng anh được điều vào quân tình nguyện sang chiến đấu ở chiến trường Hạ Lào, sau một thời gian chiến đấu ở chiến trường khu 5; rằng lần này anh được cử về nước công tác và tình cờ anh và anh Tiễu gặp nhau ở Đô Lương. Hai anh em cùng nhau chụp một tấm ảnh gửi về... Mẹ tôi bảo ngày ở nhà anh bướng bỉnh, nghich ngợm thế mà bây giờ viết thư về chững chạc quá, người lớn quá. Mẹ có biết rằng con trai mẹ lúc ấy dù mới ở tuổi 20 nhưng đã là cán bộ chỉ huy của cả một đại đội quân tình nguyện.
Qua mấy tháng mở chung phòng chẩn mạch với ông Lệ , chừng như không tiện, bố tôi đã xuống Hải Phòng. Có một bà giàu có, biết bố tôi giỏi nghề mới bỏ tiền ra thuê nhà, mở một hiệu thuốc ở số nhà 1 bến tàu Quảng Đông, mời bố tôi cộng tác. Mẹ tôi một mặt vẫn giữ chỗ bán vải ở chợ Hành Thiện cho tôi, một mặt mẹ đi đi về về giữa Hải Phòng và Hành Thiện.
Bỗng một việc xảy ra. Một người là trưởng phòng tư pháp của Ty công an Bùi Chu gửi thư cầu hôn với tôi. Lá thư được gửi đến tận nhà tôi giữa lúc mẹ tôi đi Hải Phòng chưa về. Tên anh ta là V P- một người chuyên tra tấn những cán bộ Việt Minh bị sa vào tay bọn chúng. Tôi không quen anh ta, thỉnh thoảng anh ta ghé vào chợ, đi thủng thỉnh qua dãy hàng vải không nói không rằng. Chỉ có một lần anh ta đi cùng một người khác đến nhà tôi và bảo với mẹ tôi: " Bà có muốn nhận thư của con trai bà thì mời bà lên ty công an mà nhận". Mẹ tôi trả lời: " Bây giờ chính tôi cũng chẳng biết mấy đứa con tôi đang ở đâu". (3) 
Anh ta lặng im không, không nói gì nữa. Với nước da tai tái, đôi mắt có cái gì xảo quyệt đằng sau cặp kính cận gọng kền làm cho ai nhìn cũng thấy chờn chợn. Thế mà bây giờ lá thư cầu hôn một cách lạnh lùng đày trịch thượng đang ở trước mặt tôi :
" Gửi cô Hồng Vân
Tôi được biết cô từ lâu và tôi cũng đã đến thăm gia đình cô. tôi muốn hỏi cô làm vợ. 6 giờ chiều mai tôi sẽ cử người đến nhận thư trả lời của cô
 VP
 Trưởng phòng tư pháp Ty công an tỉnh Bùi Chu"
Đêm ấy tôi lo lắng bồn chồn không yên. Mẹ tôi đi vắng, tôi đã nhận lời yêu anh Viêm tuy 2 chúng  tôi chưa trực tiếp gặp nhau và 2 gia đình chưa chính thức làm những thủ tục ban đầu. Làm thế nào đây? Nhưng dù sao vẫn phải trả lời lá thư này. Nghĩ mãi tôi cũng viết một lá thư cũng ngắn và gọn ghẽ như thế này:
" Kính gửi ông VP
Tôi đã nhận được thư của ông chiều hôm nay. Trước hết tôi xin cảm ơn ông đã có thiện cảm với tôi. Song tôi còn ít tuổi, hơn nữa hôn nhân là việc hệ trọng, tôi không thể tự quyết định mà không có ý kiến của cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi lại không ở nhà, vậy mong ông thông cảm
Kính thư 
Nguyễn Hồng Vân"
Chiều hôm sau không thấy VP cho người ra lấy thư trả lời mà mãi 3 ngày sau đó.
Ngọc bạn tôi báo tin cho tôi biết bọn công an Bùi Chu đang tung tin có thể bắt anh Viêm, anh đang lo, đang dao động. Tôi hỏi ý kiến cô giáo Trung, cô bảo tôi phải báo ngay ra Hải Phòng cho bố mẹ tôi biết. Buổi chiều, tôi lên chợ Hôm gặp bác giáo Tuynh ( chị họ của mẹ). Cứ chiều chiều bác lại mang vải ra chợ Hôm bán. Tôi nhờ bác làm cách nào gửi giúp tôi lá thư ra Hải Phòng cho mẹ tôi. Bác bảo bác sắp đi và sẽ mang hộ.
Cho đến lúc ấy anh Viêm và tôi vẫn chưa dám gặp  nhau. Mỗi buổi chiều tôi đi chợ về lại xuống bến sông ở đầu xóm 10 rửa chân, từ đó nhìn về phía trường học ở cạnh đình làng, tôi thấy anh đứng khoanh tay đứng tựa vào cửa lớp học nhìn vể phía tôi. Anh luôn mặc sơmi trắng và quần âu trắng. Có lần anh gửi qua Ngọc cho tôi một tập thơ anh làm, có lần anh dịch ra tiếng Việt gửi cho tôi một câu truyện của Pháp " Paul et Virginie", và có lần anh tặng tôi một chiếc khăn san màu xanh nước biển, kèm theo là quyển " Hồn bướm mơ tiên" của Khái Hưng. Qua 25 lá thư trong suốt thời gian ấy, anh đã dần dần kể cho tôi nghe về gia đình anh, về người chị cả và các cô em gái của anh. Anh cũng luôn nhắc đến Mẹ với tất cả tình cảm trìu mến thiết tha và tấm lòng biết ơn sâu sắc.
(Xóm 10 là nơi có nhà cụ ngoại của tôi, là cụ Cử Kép ( 2 lần đỗ cử nhân), đối diện cổng xóm có bến sông đào chạy dọc theo đường chính của làng, nơi mẹ tôi thường rửa chân)
Ở Hành Thiện quê tôi, con trai và con gái gặp nhau là điều dư luận xã hội không thể chấp nhận, ngay cả sau mấy năm sau cách mạng Tháng Tám. Cho nên chúng tôi không có cách nào khác là gửi gắm tâm sự cho nhau qua những trang thư.
Bác Giáo Tuynh ra đến Hải Phòng tìm đến cửa hàng thuốc Bắc của bố mẹ tôi ở bến tầu Quảng Đông. Ngay ngày hôm sau tôi nhận được bức điện của mẹ đánh về " giao hàng cho cô Giáo Trung, mua vé máy bay ra ngay Hải Phòng".
Đêm ấy, hai cô cháu tôi thức đến khuya để đo lại những súc vải, tính ra thành tiền và cô thanh toán cho tôi đầy đủ. Sáng hôm sau tôi lên xóm 8 tìm vào nhà Ngọc. Hai chúng tôi kéo nhau ra cổng nói chuyện. Tôi đưa bức điện cho Ngọc đọc và nhờ Ngọc báo cho anh Viêm biết hôm nay tôi lên Nam Định để ra Hải Phòng. Đang nói chuyện chợt thấy anh Viêm ôm mấy quyển sách đi qua cổng. Thấy tôi anh hơi sững lại, mặt đỏ bừng lên rồi đi tiếp.
11 giờ trưa tôi đáp ô tô ở bên kia cầu Phủ lên xe đi Nam Định. Hành lý mang theo chỉ có một cái bị cói, trong đựng 2 bộ quần áo và 25 lá thư của anh Viêm. Tôi đi rồi chỉ còn em Kim, em Mai và vú Mai chờ mẹ tôi về thu xếp đi sau.
Ghi chú :
1. Viêm là tên khai sinh của bố, sau này ra làm việc bố đổi lại tên có lẽ để giữ gốc họ Đặng Huy và lấy tên có cùng vần với tên của mẹ! Thế đủ biết bố đã yêu mẹ như thế nào!:)
2. Không biết có phải vì nhớ tới người bạn tên Ngọc này không mà tên lúc mới sinh của tôi có đệm Ngọc. Và cũng không biết có phải vì vốn có tên đệm Ngọc nên cô bạn thân nhất của tôi từ hồi  còn bé tý cũng tên là Ngọc và sau này tôi cứ hay để ý đến anh nào tên là Ngọc và chỉ thôi để ý đến anh tên Ngọc sau khi đã chọn một anh tên Ngọc cho mình! :))
 3. Ông Lệ là cháu ngoại của cụ Tôn Thất Thuyết và là chú của ông ngoại tôi.
4. Ba anh trai của mẹ tôi đều tham gia Vệ quốc đoàn ngay từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến:- bác cả đã hi sinh trong kháng chiến chống Pháp, bác thứ hai sau phục viên về làm việc ở bộ giao thông vận tải vì trước cách mạng bác học trường công chánh, bác thứ ba khi về hưu là đại tá chủ nhiệm chính trị của Bộ tư lệnh Hải quân


Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

Hội thảo Đô thị Quảng Yên: truyền thống và định hướng phát triển

Ngày 18/1/2011, tại thị trấn Quảng Yên (huyện Yên Hưng, Quảng Ninh) đã diễn ra Hội thảo khoa học  "Đô thị Quảng Yên: truyền thống và định hướng phát triển". Đây là cuộc hội thảo do Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam và Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đồng tổ chức. Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 27 báo cáo khoa học của 35 tác giả trong nước và 1 tác giả quốc tế là các vị Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau ở Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Kiến trúc, Viện Khảo cổ học, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh, Huyện Yên Hưng và Trường Đại học Quốc gia Hiroshima (Nhật Bản).  

 Báo cáo đề dẫn của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển sau khi điểm  lại các chặng đường lịch sử của đô thị Quảng Yên, đã rút ra mấy nhận xét sau:
"- Thứ nhất: Đô thị Quảng Yên hình thành và phát triển ở vùng cửa ngõ sông nước trọng yếu nhất của đất nước, nó vừa là quan ải che chắn, bảo vệ cho Kinh đô Thăng Long ở phía sau, vừa là nơi các vương triều đóng đô ở Thăng Long đặt làm cơ sở triển khai các chiến lược vươn ra đại dương, trấn giữ các vùng biển đảo.
- Thứ hai: Đô thị Quảng Yên có quá trình hình thành và phát triển lâu dài gắn liền với các lỵ sở của chính quyền địa phương (cấp phủ, lộ, trấn, tỉnh). Xung quanh Quảng Yên là những địa phương có cơ sở kinh tế hàng hóa mạnh, có quan hệ giao thương rộng với các thị trường trong nước quốc tế, làm nên sức sống của đô thị trong trường kỳ lịch sử.
- Thứ ba: Đô thị Quảng Yên là trung tâm của vùng chiến trường Bạch Đằng năm 1288, nơi hình thành và ghi dấu sâu đậm của truyền thống Bạch Đằng, truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, truyền thống khai thác và bảo vệ biển đảo, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.
- Thứ tư: Đô thị Quảng Yên là một đô thị có lịch sử lâu dài (chỉ đứng sau đô thị Thăng Long-Hà Nội) và đã đạt đến hình thái phát triển đặc trưng của các loại hình đô thị trung đại, cận đại Việt Nam.
- Thứ năm: Tuy từ năm 1964 cho đến nay, đã gần một nửa thế kỷ chỉ còn là một thị trấn, nhưng Quảng Yên vẫn luôn phát huy vai trò của một đô thị trung tâm, có những đóng góp to lớn vào quá trình phát triển của huyện Yên Hưng, của tỉnh Quảng Ninh và của cả vùng Đông Bắc".
Căn cứ vào nội dung các báo cáo, hội thảo đã lắng nghe và tập trung thảo luận theo 3 nhóm vấn đề như sau:
 1 . Đô thị Quảng Yên: Nguồn gốc, chức năng, quá trình hình thành, phát triển 
 2.  Không gian văn hóa đô thị Quảng Yên 
 3.  Điều kiện và nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội cho phát triển đô thị
Nhóm vấn đề thứ nhất: Đô thị Quảng Yên: Nguồn gốc, chức năng, quá trình hình thành, phát triển gồm có 8 báo cáo. 
Báo cáo của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc trình bày về quá trình xây dựng và thực thi chiến lược  đối với vùng biển đảo miền Đông Bắc của Tổ quốc của các triều đại phong kiến Việt Nam mà vị vua đầu tiên là Lý Anh Tông (1138-1175) với việc xây dựng hành dinh trại Yên Hưng.
 Các báo cáo của TS. Lê Thị Liên ( Viện Khảo cổ học) và TS. Nguyễn Việt ( Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á) và các cộng sự đã công bố các kết quả khai quật Khảo cổ học vùng đất này nhằm nhận diện chiến trường Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo trong cuộc kháng chiến chống Nguyên -Mông lần thứ ba năm 1288. 

Đặc biệt báo cáo của TS. Nguyễn Việt đã cho biết thêm những phát hiện mới nhất về các hiện vật gốm sứ và di cốt người tại vùng bãi cọc Bạch Đằng hứa hẹn sẽ mang lại những nhận thức mới về những người lính của một thời kỳ  hừng hực hào khí Đông A.

Có 1 báo cáo của GS.TS Yao Takao thông qua việc giới thiệu về hai tấm bia có niên đại Hồng Đức: 1470 và 1479 đã cố gắng trả lời câu hỏi: "Tại sao các chính quyền trung ương lại phải xếp đặt chế độ hành chính? Mục đích chủ yếu là nhằm để thiết lập một sự quản chế mạnh của chính quyền trung ương lên các địa phương. Nội dung của hai tấm bia này cho thấy công cuộc khai hoang của các làng mới lập và chúng cũng cho chúng ta thấy hoạt động của các quan chức cao cấp từ trung ương và những người đứng đầu địa phương đã xử sự với các làng này thế nào, đồng thời hai tấm bia đó cũng cho thấy sự tương phản giữa các ý tưởng của trung ương và tình hình thực tế ở địa phương" . 
TS. Hoàng Anh Tuấn báo cáo về vùng Quảng Yên trong chiến lược thương mại của Công ty Đông Ấn Hà Lan 
Bằng cách tiếp cận lịch sử và khu vực học, báo cáo của Ths.Vũ Đường Luân về "Hệ thống cửa sông vùng ven biển Đông Bắc và việc lựa chọn địa điểm xây dựng cảng lớn ở Bắc Kỳ nửa cuối thế kỷ 19" muốn nhìn lại quá trình lựa chọn và những tác nhân của quá trình hình thành đô thị cảng ở vùng duyên hải đông bắc Bắc Bộ trong khoảng ba thập niên nửa cuối thế kỷ XIX. Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra những hệ quả của nó đối với sự phát triển các hải cảng sau này. Điều này không chỉ góp phần làm rõ những đặc trưng cơ bản của các đô thị cảng ở vùng duyên hải Đông Bắc mà chắc hẳn những kinh nghiệm lịch sử sẽ có những đóng góp quan trọng trong xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này hiện nay".  
Đại tá TS. Cao Thanh Tân, Ths. Tống Văn Lợi, TS. Phạm Văn Lợi và Đặng Ngọc Hà làm rõ hơn quá trình phát triển của huyện Yên Hưng từ cuối thế kỷ 19  cho tới ngày nay.
PGS.TS Lâm Mỹ Dung, Phó chủ tịch Hội khảo cổ học Việt Nam chủ trì tiểu ban


Nhóm vấn đề thứ hai là Không gian văn hóa đô thị Quảng Yên gồm 8 báo cáo, trong đó có 2 báo cáo bắt đầu từ văn hóa Bạch Đằng và khảo tả khu vực này như là trung tâm văn hóa của vùng Đông Bắc, ( của TS Nguyễn Việt, Lê Đồng Sơn) 3 báo cáo đi sâu vào di tích thành, phố và kiến trúc đô thị ( PGS.KTS Tôn Đại về " Một số ý kiến về Kiến trúc Pháp tại Quảng yên", TS Nguyễn Việt về " Khảo cổ học biệt thự Pháp tại Quảng Yên), 1 báo cáo khảo tả về Tri thức dân gian về nghề vận tải biển ( Đặng Ngọc Hà) và 2 báo cáo bàn về vấn đề quy hoạch và bảo tồn di tích chiến trường Bạch Đằng, di tích văn hóa huyện Yên Hưng phục vụ phát triển bền vững đô thị( PGS.TS Đặng Văn Bài và Trịnh Công Lộc).

- Nhóm vấn đề thứ ba là Điều kiện và nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội cho phát triển đô thị gồm 10 báo cáo  của các nhà khoa học  tập trung vào lịch sử hình thành, biến đổi và những đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên vùng cửa sông Bạch Đằng và huyện Yên Hưng, thực trạng kinh tế xã hội, những tiềm năng và thách thức, dự báo những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu đến khu vực đất thấp ven biển và gợi mở hướng phát triển đô thị bền vững ở khu vực Quảng Yên - Yên Hưng.
 PGS.TS Vũ Văn Phái trình bày về " Một số đặc điểm tự nhiên huyện Yên Hưng và sự biến đổi của chúng trong thời gian gần đây"
TS. Nguyễn An Thịnh thay mặt cho nhóm tác giả GS.TS Nguyễn Cao Huần, Ths. Trần Văn Trường, PGS.TS Đặng Văn Bào, GS.TS Trương Quang Hải, Ths Dư Vũ Việt Quân trình bày báo cáo về" Đánh giá biến đổi của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường khu vực đất thấp ven biển Hà Nam, huyện Yên hưng, tỉnh Quảng Nam dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu"
GS. TS Trương Quang Hải trình bày báo cáo về" Phân tích lợi thế và hạn chế trong phát triển kinh tế của huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh"
Ngoài ra còn một số báo cáo về " Kinh tế Yên Hưng từ góc nhìn sinh thái- Nhân văn" của TS.Phạm Văn Lợi, " Định hướng hoạch định không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng đất thấp Hà Nam, huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh" của các GS.TS Trương Quang Hải, Nguyễn Cao Huần, Đặng Văn Bào, Phạm Quang Anh...
Một số hình ảnh về Hội thảo


GS.TSKH Vũ Minh Giang, Phó giám đốc Đại học Quốc gia tổng kết hội thảo

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2011

Hoạt động của công ty Đông Ấn Hà Lan tại Việt Nam


Tại sao? ( Nhị Linh Phỏng vấn TS. Hoàng Anh Tuấn- tác giả của cuốn sách: "Silver and silk")
TS.Hoàng Anh Tuấn và Ths. Lê Thùy Linh tại Hội thảo Hà Nội tháng 10 năm 2010


Tại sao lại là các Công ty Đông Ấn?
Tôi xin trả lời dài dòng một chút. Công việc nghiên cứu của tôi khởi đầu bằng đề tài nghiên cứu ở bậc đại học và cao học về hoạt động thương mại biển của Vương quốc Chămpa thế kỷ VII-X trong bối cảnh quan hệ thương mại và giao lưu văn hóa khu vực. Tiếp sau đó là một cơ duyên: năm 1998, Chính phủ Hà Lan dự định tổ chức đại lễ kỷ niệm 400 năm thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) vào năm 2002. Họ muốn hoạt động này thực sự có chiều sâu, gắn liền với khoa học và đào tạo, nên đã lập Chương trình TANAP và giao cho Đại hoc Leiden tổ chức đào tạo tiến sĩ cho khoảng 20 nhà nghiên cứu trẻ của các nước phương Đông (nơi VOC từng có quan hệ buôn bán). Tôi may mắn là một trong số những người đó, sang Leiden từ năm 2002 và đến năm 2006 tôi hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh. Vì vậy, có thể nói rằng tôi đã mở rộng hướng nghiên cứu hải thương của mình từ người Chăm sang người Việt nói chung, trong mối quan hệ với nước ngoài.
Tại Đàng Ngoài, Hà Lan thành công hơn Anh

Các Công ty Đông Ấn (ngoài Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập năm 1602, tồn tại cho tới năm 1799 còn có Công ty Đông Ấn Anh - EIC - xuất hiện cùng khoảng thời gian) có thể coi là những huyền thoại trong lịch sử châu Âu, nhưng rõ ràng đây là đề tài rất mới đối với giới sử học Việt Nam.

Thành tựu nghiên cứu gắn liền với các Công ty Đông Ấn ở các nước phương Tây rất nổi bật, nhưng đây quả là một hướng đi tương đối mới mẻ tại Việt Nam. Nói tương đối mới mẻ là vì việc đặt nền móng cho hướng nghiên cứu này đã được tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ trước. Ngay sau Hội thảo quốc tế về Hội An, vào những năm 1990, GS. Phan Huy Lê và GS. Nguyễn Quang Ngọc đã được Đại học Leiden mời sang nghiên cứu để khảo sát kho tư liệu Hà Lan về Việt Nam. Trong dịp này, hai giáo sư đã thu thập và mang về nước được một số phim chụp về tư liệu VOC, bản đồ cổ… Đặc biệt, GS. Nguyễn Quang Ngọc đã sang tận Thư viện Quốc gia Anh để trao đổi với cố TS. Anthony Farrington về khối tư liệu EIC về Việt Nam. Trên cơ sở những quan hệ hữu hảo đó, vào năm 2002, hai Giáo sư đã giới thiệu để tôi sang Đại học Leiden học tập và nghiên cứu. Đến thời điểm đó, bên cạnh một số bài viết, đã có ít nhất hai công trình nghiên cứu quan trọng liên quan đến VOC-Đại Việt: luận án tiến sĩ Công ty Đông Ấn Hà Lan và Đàng Trong: Mối quan hệ giữa Hà Lan và Annam trong thế kỷ XVII của Wilhelm Buch (1929) và chuyên khảo Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Đông Dương cũng do Buch công bố trên tạp chí của Trường Viễn đông Bác cổ (BEFEO, 1936/7).
GS Trần Quốc Vượng và TS Nguyễn Quang Ngọc thảo luận với  TS. Anthony Farrington về hoạt động của các Công ty Đông Ấn tại Hội thảo về Phố Hiến năm I992

Thế nhưng, nếu đọc cuốn sách Tư liệu các Công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII do anh biên soạn vừa được ấn hành (NXB Hà Nội), thì Công ty Đông Ấn Hà Lan có quan hệ chủ yếu với Đàng Ngoài chứ không phải Đàng Trong…

Đúng vậy, cũng không rõ tại sao Buch lại chọn hướng nghiên cứu đó, vì xét về mặt thống kê, tài liệu của VOC liên quan đến Đàng Trong ít hơn nhiều, lại không được liên tục về mặt thời gian. Chúng ta cũng chỉ có thể phỏng đoán về lý do lựa chọn của Buch. Tuy nhiên, như đã nói, trong chuyên luận trên BEFEO, Buch có đề cập đến cả Đàng Ngoài, dù chủ yếu là điểm lại dưới dạng biên niên hoạt động của VOC ở Kẻ Chợ chứ chưa khảo tả và phân tích chi tiết về mặt định lượng. Cuốn sách của Buch cũng từng được các nhà nghiên cứu Việt Nam tham khảo, như trong công trình Về ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX (1961) của Thành Thế Vỹ.

Công ty Đông Ấn Hà Lan và Công ty Đông Ấn Anh đều hoạt động ở Việt Nam trong thế kỷ XVII nhưng người Hà Lan thành công hơn nhiều so với người Anh, tại sao? (Chúng ta biết rằng người Anh lập Công ty Đông Ấn trước người Hà Lan).

Theo tôi, nguyên nhân cần được nhìn rộng hơn mức độ các sự kiện đơn thuần diễn ra trong phạm vi Đại Việt. Khởi đầu của người Hà Lan tại Việt Nam không hề thuận lợi: ở Đàng Trong người Hà Lan thiệt hại cả trăm người và hàng vạn ghin-đơ trong khi ở Đàng Ngoài khó khăn và tổn thất cũng luôn luôn thử thách họ. Thế nhưng họ lại nhanh chóng thiết lập được thương điếm, duy trì quan hệ với Đàng Ngoài suốt 64 năm và có được những thành công không nhỏ, mặc dù Đàng Ngoài là một trong những xứ khó buôn bán bậc nhất ở phương Đông, do đặc điểm của hệ thống quan liêu, cũng như tổ chức xã hội có nhiều đặc thù phức tạp. Tất nhiên, nhu cầu của Phủ Chúa về tiền bạc và vũ khí trong thời gian nội chiến đóng một vai trò quan trọng nhưng trong nghiên cứu lịch sử thương mại, rất nhiều yếu tố cần phải tính đến. Người Hà Lan biết tổ chức một mạng lưới buôn bán liên hoàn. Người Hà Lan lại rất chặt chẽ, kỷ luật, kiên nhẫn và khôn ngoan, trong khi người Anh tổ chức công việc buôn bán ở phương Đông tương đối lỏng lẻo. Hơn nữa, chiến lược thương mại của mỗi bên cũng khác nhau; ở quãng thời gian đó, tiềm lực của Anh tại khu vực Đông Nam Á nhỏ hơn so với Hà Lan.

Người Hà Lan thậm chí còn thành công đến mức Carel Hartsinck (giám đốc thương điếm Đàng Ngoài từ 1637 đến 1641) còn được chúa Trịnh Tráng nhận làm con nuôi, một câu chuyện hiếm thấy.

Đây tất nhiên là một câu chuyện thú vị, cho thấy sự cởi mở nhất định của họ Trịnh (các chúa Nguyễn ở Đàng Trong còn cởi mở hơn thế). Tuy nhiên, đây cũng có thể chỉ nên được coi là một cử chỉ ngoại giao, bằng chứng là mối quan hệ giữa ông con nuôi và ông bố nuôi chẳng mấy suôn sẻ. Điều đáng để suy nghĩ ở đây là: các nghiên cứu theo hướng này khiến chúng ta cần nhìn lại định kiến về sự “co cụm”, “đóng cửa”, “yếm thế”… của Việt Nam trong lịch sử thương mại và bang giao khu vực. Thêm nữa, vị trí và vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại khu vực và quốc tế hồi đó không đơn thuần là một sự may mắn, mà có sự chủ động nhất định từ phía chính quyền. Cấu trúc thương mại về cung-cầu ở khu vực cũng luôn luôn cần được tính tới: chẳng hạn như Nhật Bản có nhu cầu lớn về lụa trong khi sản lượng tơ lụa Trung Quốc lại sụt giảm do thay đổi triều chính Minh-Thanh nên Việt Nam có điều kiện trở thành nhà cung cấp tơ lụa lớn. Việt Nam cần được đặt vào bức tranh chung: muốn nghiên cứu thương mại của nước ta gắn liền với VOC thì nhất thiết phải đồng thời nghiên cứu hoạt động của VOC tại đại bản doanh Batavia, Nhật Bản, Đài Loan, xa hơn là biến động chính trị tại Trung Quốc, thay đổi thương phẩm tại Bengal (Ấn Độ), thay đổi sở thích của người Anh ở London và người Hà Lan ở Amsterdam… và rộng hơn là đặt Đại Việt trong cấu trúc thương mại toàn cầu ở thời kỳ này.

Nghiên cứu lịch sử thuộc địa không thể bỏ qua lĩnh vực thương mại

Rõ ràng các nguồn tư liệu mới đã đánh động nhận thức của chúng ta về lịch sử thuộc địa: khi thành tố thương mại được thêm vào bên cạnh những thành tố đã được nghiên cứu rất nhiều như chính trị, quân sự, tôn giáo, ngôn ngữ, mối quan hệ thực dân-thuộc địa đã không còn thuần túy là những cuộc xâm chiếm, mà phức tạp và tế nhị hơn thế. Rồi thương mại lại dẫn tới chính trị và quân sự, như chúng ta đã thấy Phủ Chúa rất muốn xây dựng một liên minh quân sự với VOC…

Ở đây có lẽ nên nhắc tới những quan điểm tương đối đa chiều trong giới nghiên cứu cả trong và ngoài nước. Không ít người cho rằng khi tới phương Đông, người phương Tây đã sẵn có trong đầu mưu đồ thực dân. Tuy nhiên, nếu nhìn vào lịch sử thương mại gắn liền với các Công ty Đông Ấn, thì có thể chắc chắn rằng ít nhất cho tới nửa đầu thế kỷ XVIII khó có thể nói đến mưu đồ thực dân như cách hiểu hiện đại sau này. Mối quan hệ thương mại có thể đi trước mọi thứ khác. Giới nghiên cứu gần đây cũng tranh luận nhiều về cách hiểu từ “soldat” (lính) trong cách dùng của Cố Alexandre de Rhodes: các nhà truyền giáo tới Việt Nam tự coi mình là những “người lính” theo nghĩa đen hay thực chất cần phải hiểu từ này theo nghĩa ẩn dụ? Tôi thiên về cách hiểu thứ hai hơn. Điều nên tránh là để cho mối quan hệ thương mại-thực dân bị chi phối bởi “tình cảm dân tộc”.

Nghiên cứu lịch sử theo hướng thương mại có bị “chán” không, khi mà ở mảng này hình như vai trò của các cá nhân khá là mờ nhạt, ta hiếm khi thấy những nhân vật nổi bật như ở lĩnh vực chính trị hoặc quân sự?

Cũng có những nhân vật hấp dẫn đấy. Một ví dụ tiêu biểu là trường hợp nhân vật Hoàng Nhân Dũng (người Hà Lan gọi làOngiatule: Ông già Tư Lễ), một hoạn quan hồi thế kỷ XVII, đã tìm cách “lobby” Phủ Chúa hòng thâu tóm, lũng đoạn toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu của người Hà Lan ở Kẻ Chợ. Thậm chí ông ta còn dựa vào thế lực của thế tử và phối hợp với thương nhân Nhật Bản Resimon để thực hiện mưu đồ của mình.

“Hết tơ lụa thì chuyển sang gốm sứ, hết gốm sứ thì chuyển sang xạ hương…”

Dù sao thì ngành nghiên cứu của anh cũng rất mới mẻ và hứa hẹn.

Tôi đã thực hiện thống kê và nhận thấy rằng trong 50 năm (1954-2004), tạp chí Nghiên cứu Lịch sử rất mỏng ở lĩnh vực thương mại, bang giao ở giai đoạn người châu Âu bắt đầu xuất hiện. Tôi gọi đây là một khoảng lặng, tạo nên một sự mất cân đối khá nghiêm trọng nếu so với mảng nghiên cứu về ruộng đất, thể chế, quân sự… Nguyên do chính là thiếu tài liệu nước ngoài, bởi các bộ thông sử ghi chép rất ít về thương mại, nhất là ngoại thương, trong khi việc tiếp cận tư liệu phương Tây lại hết sức khó khăn trong thời điểm đó. Nguồn tài liệu từ nước ngoài, đặc biệt là tư liệu phương Tây, vì vậy trở nên đặc biệt quan trọng và cần được khai thác triệt để hơn nữa.

Nhưng làm thế nào để hợp tác có hiệu quả với nước ngoài trong nghiên cứu lịch sử?

Các đơn vị nghiên cứu nước ngoài đã hỗ trợ rất lớn cho công việc đào tạo và tiếp cận tư liệu trong khoảng mười năm qua. Hiện nay, Khoa chúng tôi vẫn còn ba cán bộ đang học tiến sĩ và thạc sĩ tại Đại học Leiden (Hà Lan) và hứa hẹn sẽ bổ trợ cho hướng nghiên cứu này. Tuy nhiên, phải nói một cách khách quan rằng không thể chỉ dựa vào hỗ trợ của nước ngoài. Phía bạn có thể hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu ngắn hạn. Các nghiên cứu mang tính trường quy và quy mô lớn dựa trên việc khai thác tư liệu phương Tây vẫn rất cần có sự đầu tư kinh phí tương xứng từ trong nước. Có như vậy chúng ta mới có thể khai thác được triệt để nguồn tư liệu quý đó để soi sáng nhiều khía cạnh của lịch sử dân tộc thời kỳ này.

Nhìn vào con đường nghiên cứu khoa học của anh, có thể thấy rất rõ là anh đi chuyên sâu hoàn toàn vào một chủ đề. Ngay cả khi dịch sách, anh cũng chọn các tác phẩm của William Dampier (Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, NXB Thế giới, 2007) và Samuel Baron (Mô tả vương quốc Đàng Ngoài, 1683, NXB Hà Nội, 2010) là những nhân vật có liên quan nhiều đến các Công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan.

Có lẽ cá nhân tôi phần nào chịu ảnh hưởng của “trường phái Leiden” vốn đề cao việc khai thác các nguồn sử liệu gốc để tập trung tìm hiểu sâu một lĩnh vực cụ thể, sau đó mới bắt đầu nhìn rộng ra một chút để tìm hiểu các mối liên hệ đa chiều ở phạm vi khu vực hoặc rộng hơn nữa là hệ thống toàn cầu.

Đã đi một chặng đường dài với các Công ty Đông Ấn, anh có nghĩ đến việc quay trở lại với Chămpa thế kỷ VII-X, đề tài nghiên cứu ban đầu của anh không?

Chắc là không thể, cho dù tôi vẫn luôn luôn quan tâm đến Chămpa nhưng ở giai đoạn muộn hơn (thế kỷ XVI-XVIII) vì tài liệu của Anh và Hà Lan cũng có đề cập không ít tới Chămpa trong bối cảnh của các mối quan hệ chính trị và thương mại đa chiều khu vực Đông Nam Á lục địa. Con đường đi của tôi sẽ nhất quán như vậy: hết tơ lụa thì chuyển sang gốm sứ, hết gốm sứ thì chuyển sang xạ hương hoặc quế… Tôi quan niệm rằng sự chuyên sâu không loại trừ khả năng nhìn rộng bởi những nghiên cứu cụ thể luôn cần được đặt trong quan điểm so sánh khu vực và thế giới, chừng nào chúng ta còn có thể sử dụng các nguồn sử liệu gốc phong phú và cập nhật được các thành tựu nghiên cứu của sử học khu vực và quốc tế.
TS. Hoàng Anh Tuấn đang trình bày báo cáo tại Hội thảo khoa học quốc tế!







Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

Osaka tháng 6 năm 2009


Hôm nay tình cờ gặp mấy cái ảnh về Hội thảo ở Osaka năm 2009 em Giang đăng trên FB của em nên tôi viết bài  này, trước hết là để lưu lại mấy cái ảnh đã, vì tôi nhận thấy đăng ảnh ở đây là nhanh và tiện nhất ( hiện FB không thể post ảnh được và thứ hai là mạng là nơi lưu giữ ảnh tốt nhất. Tôi đã mất nhiều ảnh khi cất ở USB và máy tính:))
Cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 2009, tôi đã đến Osaka để dự Hội thảo  có chủ đề " Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thế giới " trong khuôn khổ của Đại hội lần thứ nhất Hội nghiên cứu châu Á của các nhà sử học thế giới ( AAWH). 
Đây là bài giới thiệu về Hội thảo đăng trên mạng ngày12/6/2009 của GS Patrick Manning từ đại học  Pittsburgh, Hoa Kỳ, một trong những người của Ban điều hành  AAWH mà tôi vô tình bắt gặp khi lên mạng:
"First Congress: Asian Association of World Historians (AAWH) 


Patrick Manning, University of Pittsburgh 

E-Mail: <pmanning@pitt.edu>
At the opening General Assembly, over 70 members adopted the statutes of the organization and elected officers, after reports from the international committee that founded the organization in Tianjin in May 2008. By all accounts the congress was a rousing success: more than 150 registrants from 11 countries attended 14 sessions including over 100 individual presentations.
Outstanding presentations from the opening plenary included Yoichi Kibata (Seijo University) on world history from a Japanese Perspective and Anthony Reid (National University of Singapore) on the historian’s contemporary responsibility.
Among the many individual presentations at the conference, Bin Yang explored the long-term history of cowrie shells as currency in Eastern Eurasia, Thi Van Chi Dang presented on women’s newspapers in colonial Vietnam, Lucio Silva on Europeans and slavery in sixteenth-century Asia, Momoka Maki analyzed Ethiopia in World War II, Giorgio Riello spoke on cotton textiles as a global commodity, and Alejandra Irigoin presented on American intermediation in China’s silver trade. In other panels, Shinobu Ikeda led a session on representing women and the memory of Japanese imperial rule; Jie-hyun Lim organized a wide –ranging panel on science, technology, and the nation; and three high school teachers presented on the Meiji Restoration in world history.
At the concluding plenary session on teaching, outstanding presentations included that by Yang Biao (East China Normal University) on teaching a new world history curriculum in Shanghai; and Shiro Momoki on the Osaka University collaboration of teachers and professors for teaching world history.
Officers elected were Shingo Minamizuka (Hosei University), president; and board members Ahmed Abushouk (International Islamic University, Malaysia), Adapa Satyarayana (Osmania University), Ji-Hyung Cho (Ewha Woman’s University), Patrick Manning (University of Pittsburgh), Anthony Reid (now moving to Australian National University), and Zhang Weiwei (Nankai University). Shigeru Akita (Oska University) was reappointed as executive secretary by the board.
The Japan-based organizing committee and conference staff, including faculty, postdocs, and graduate students, gained appreciation from all for the smoothness of Congress procedures. The next Congress will be in 2012 at Ewha Women’s University, Seoul. Ji-Hyung Cho will become executive secretary and director of the next congress".
Kontakt:
The Asian Association of World Historians
Department of World History
Graduate School of Letters
Osaka University
1-5, Machikaneyama-cho,
Toyonaka-city, Osaka
560-8532, JAPAN
URL:http://www.let.osaka-u.ac.jp/seiyousi/


Nguồn:http:http://hsozkult.geschichte.hu-berlin.de/tagungsberichte/id=2657
Đoàn Việt Nam tham gia Hội thảo có 3 người: PGS.TS Nguyễn Văn Kim hiện là Hiệu phó Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, lúc đó đang là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Inha Hàn Quốc từ Hàn Quốc sang, em Đỗ Trường Giang cán bộ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, hiện đang là NCS tại Đại học quốc gia Singapo và tôi. 
Ngày 28/5, tôi và PGS.TS Nguyễn Văn Kim từ Hàn Quốc bay sang Nhật Bản, em Giang từ Singapo đã đến đó trước 1 tiếng. Sau khi đi ăn trưa, chúng tôi đi thăm Bảo tàng Osaka và thành cổ Osaka
Chụp trước thành cổ Osaka

Sau khi thăm Bảo tàng, buổi tối các bạn Việt Nam học Nhật Bản chiêu đãi đoàn Việt Nam tại nhà hàng Việt Nam. Thực ra các bạn Nhật Bản đều là những người thân quen với chúng tôi
Trước cửa nhà hàng


Còn đây là ảnh chụp trong phiên toàn thể kết thúc hội thảo. Đoàn Việt Nam chụp vơi chụp với  anh thư ký của Hội thảo


Còn đây là ảnh của tôi, chụp cùng với những người quan tâm đến báo cáo của tôi trong tiểu ban

Đây là tấm ảnh ở hành lang HT quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 tháng I2/2008 lấy trên BBC,đưa tạm vào đây


Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2011

Di cư cưỡng bức: Người lao động Đông Dương tại Pháp ( 1939-1952)

(Bài này đăng đã lâu trên một trang cá nhân của tôi, nay đăng lại ở đây để các em sinh viên có thể tham khảo trong quá trình học tập của mình)
14 giờ 30 ngày 23/6/2010, tại phòng Multimedia, nhà D, 336 Nguyễn Trãi, Pierre Daum nhà báo Pháp, cộng tác viên của tờ Monde diplomatique (Thế giới ngoại giao) đã giới thiệu công trình nghiên cứu của mình- cuốn sách Immigrés de force: Les travailleurs indochinois en France (1939 – 1952) / Di cư cưỡng bức: Những người lao động Đông Dương tại Pháp ( 1939-1952) được ấn hành bởi Nhà xuất bản Actes Sud năm 2009 (Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đã mua bản quyền để in bằng tiếng Việt trong năm 2010.). Người dịch buổi hôm nay là nhà báo Đào Hùng- tạp chí Xưa – Nay
Là người chuyên tâm tìm hiểu các vấn đề lịch sử Đông Dương thuộc Pháp, ông thấy phải nhanh chóng tìm hiểu về đời sống của những người lao động thuộc địa đã đóng góp cho lịch sử nước Pháp trước khi quá muộn và ông bắt đầu tìm lại những nhân chứng sống, cả ở Pháp và Việt Nam, nghe họ kể về cuộc đời của họ, đồng thời khổ công tìm kiếm trong các kho văn khố của chính quyền thuộc địa Pháp, Pierre Daum đã lật lại một trang sử bị lãng quên trong suốt 60 năm qua: việc cưỡng bức di cư sang Pháp, điều kiện sống và làm việc gần như nô lệ của 20.000 lính thợ Đông Dương ngay tại các vùng khác nhau của nước Pháp trong giai đoạn 1939 - 1952…
Câu chuyện của ông bắt đầu từ 1/9/1939, khi Pháp  tuyên chiến với nươc Đức, nhu cầu về lao động đã khiến Pháp phải huy động nhân lực từ các nước thuộc địa ở châu Phi, Madagasca, Đông Dương...
Hầu hết những người này (90%) bị cưỡng bức sang Pháp, chỉ có 10% là tự nguyện. Họ là những người nông dân nghèo từ nhiều vùng đất nước với hi vọng sự ra đi của họ sẽ giúp gia đình họ bớt đi một miệng ăn trong thời buổi khó khăn. Cũng có những người thuộc gia đình khá giả, được học hành, ra đi vì hi vọng sẽ có được địa vị như người Pháp và nhờ đó họ thoát khỏi những trói buộc trong tương lai. Công việc của họ là làm phiên dịch- cầu nối giữa những người lao động và chính quyền thực dân.

Là những người nông dân nghèo khổ, chưa một lần ra khỏi làng quê của mình, họ phải chịu một áp lực rất lớn khi đến nước Pháp. Thực ra, ngay từ khi còn trên tàu, nhiều người đã có ý định tự tử...
Đến Pháp, họ được đưa vào những trại lớn, phân thành những nhóm 250 người một, phụ trách trại thường là một cựu sĩ quan quân đội thuộc địa, những người đã quen với việc đối xử với người dân bản xứ. Bên dưới người quản lý chính còn có khoảng 10 người giúp việc thường là những người lai Pháp. Quan hệ giữa những người Việt với những người trung gian này rất khó khăn.
Đây là chân dung một cựu sĩ quan quản lý trại
Họ bị hạn chế đi lại, và trong thực tế,  cuộc sống của họ giống như sống trong  nhà tù. Họ được cung cấp thực phẩm, nhưng thường xuyên bị những người quản lý ăn chặn để đem bán ra chợ đen. Đói là nỗi ám ảnh xuyên của họ. Sau nhiều ngày bị đói, họ đã đấu tranh, gặp những người quản lý để đề đạt ý kiến. Đây là hình ảnh của một cuộc gặp gỡ giữa những người lao động và những người phụ trách trại. Một người phiên dịch can đảm đã thay mặt những người lao động kiến nghị.
Mỗi người được cấp một sổ Lao động. Sổ có ghi tên, tuổi, số hiệu gồm  ký hiệu  chữ cái chỉ khu vực ?quê hương và số lính, những thứ được cấp phát... Sau 70 năm, nhiều người không còn nhớ được gì nhiều, nhưng số của họ thì họ vẫn nhớ. Pierre Daum đang giới thiệu ảnh một người lao động Đông Dương với mã số ghi xuất thân của anh ấy là Bắc Kỳ.
Họ phải làm việc trong các xưởng thuốc súng, dễ gặp tai nạn và mắc bệnh ngoài da. Lương của họ rất thấp: 1Fr /1 ngày làm việc, trong khi lương hạng bét của một công nhân Pháp là từ 40-50Fr một ngày.

Tháng 6 năm 1940, nước Pháp từ bỏ cuộc chiến ( Thực ra là Pháp đầu hàng Đức, chính phủ kháng chiến được thành lập, nhưng phải lưu vong ở Anh), vì vậy lẽ ra những người Đông Dương phải được hồi hương, tuy nhiên do đường biển bị cắt do điều kiện chiến tranh, còn 15.000 người mắc kẹt tại nước Pháp. Họ được đưa đi lao động ở các nơi, trong đó có vùng Carmagne, miền Nam nước Pháp. Những người nông dân quen trồng lúa Đông Dương đã biến vùng hoang vu Carmagne của nước Pháp thành một vùng trồng lúa. Và cho đến bây giờ, nơi đây vẫn là vùng trồng lúa và là trung tâm nghiên cứu giống lúa của nước Pháp.

Năm 1945, Việt Nam tuyên bố độc lập, nhưng Pháp không công nhận nền cộng hòa non trẻ của Việt Nam, và từ tháng 6-9/1946, Hồ chí Minh và phái đoàn của chính phủ VN DCCH sang Pháp để dự Hội nghị Phongtenblo. Những người lao động Đông Dương đã tổ chức nhiều cuộc mit tinh để đòi Việt Nam độc lập, tạo nên cuộc đấu tranh phản đối chính phủ Pháp ngay trong lòng nước Pháp. Vì vậy những người lao động Đông Dương trở thành đối tượng bị theo dõi và đàn áp của cảnh sát Pháp. Có những cuộc xung đột đã nổ ra và một số người bị giết, 20 người bị bắt giam... Những người lao động trong trại đã tổ chức ra đội tự vệ. Cũng xuất hiện khuynh hướng Trotkit trong những người này.

Từ năm 1948, Chính phủ Pháp bắt đầu thực hiện kế hoạch hồi hương những người lao động Đông Dương. Chương trình hồi hương những người Việt nam diễn ra chậm chạp và đến năm 1952 mới hoàn thành. Trong số 20.000 người Đông Dương sang Pháp vào năm 1939, có khoảng 1000 người đã bị thiệt mạng, 1000 người ở lại định cư tại Pháp, 18.000 người đã trở về Việt Nam. Lúc này ở VN cuộc chiến tranh Đông Dương vẫn đang tiếp diễn, vì vậy họ trở thành đối tượng bị nghi ngờ và nhiều người đã buộc phải che giấu quá khứ của họ...

Ngày 10/12/2007, Lễ vinh danh những người Lao động Đông Dương đã được tổ chức vì những đóng góp của họ cho nước Pháp.

Trong cuốn sách này, tác giả cũng đã đề cập tới những người trotkit. Bản thân tôi cho rằng đã đến lúc giới sử học VN xem xét lại vị trí của những người Trotkit trong lịch sử dân tộc. Tác giả đã đồng ý với ý kiến của tôi với lý do không phải vì anh ấy là người trotkit mà vì cần phải nghiên cứu lịch sử một cách toàn diện.

Cuối buổi, đại diện nhà trường cảm ơn tác giả, tặng hoa và quà lưu niệm.