Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2010

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG LỊCH SỬ


(Qua giải mã một vài biểu tượng tín ngưỡng và huyền tích nữ thần) 

Lâm Thị Mỹ Dung

Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam theo GS. Trần Quốc Vượng có ba đặc điểm chính: 1. Sự hỗn dung tôn giáo; 2. Đạo thờ cúng Tổ tiên; 3. Tâm thức vật linh- Đa thần. Thần điện dân gian Việt về cơ bản hình thành từ cơ tầng tín ngưỡng Đông Nam Á của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước với cơ cấu kinh tế tiểu nông mà trong đó người phụ nữ có vai trò rất lớn. Người phụ nữ làm nông nghiệp chẳng kém gì đàn ông, là người nắm “tay hòm chìa khoá” và nuôi dưỡng con cái.
Một số học giả như Phạm Quỳnh, Từ Chi, M.Durand và P. Huard- toàn đàn ông cả Việt, cả Tây- đã đưa ra công thức nổi tiếng về gai đình của người Việt: “Người chồng trị vì, người vợ cai quản”.

Do và từ nhiều nguyên nhân/điều kiện xã hội, tự nhiên, lịch sử... mà Thần điện dân gian Việt nam bị nhiều những lớp văn hoá tôn giáo từ bên ngoài (Phật - Đạo - Nho...) phủ lấp. Những tôn giáo này đậm dương tính đã là thách thức lớn đối với tín ngưỡng bản địa của người Việt vốn là tín ngưỡng nông nghiệp đậm âm tính. Tuy vậy, Tam giáo đã không thể làm mất đi tâm thức vật linh- cơ nền của tín ngưỡng bản địa Việt. Mặc dù bị các tôn giáo bên ngoài tác động - cưỡng bức hay tự nguyện - những tín ngưỡng này phần nào đã bị biến đổi. Song ý niệm biểu tượng về căn bản thay đổi không đáng kể. Nổi bật trong hệ thống này chính là tín ngưỡng nữ thần với nhiều biểu hiện khác nhau. Việc thờ nữ thần có gốc gác đa dạng- nhân thần, nhiên thần, thiên thần...- dù đã được dung hoá ở các cấp/mức độ khác nhau với những văn hoá, tôn giáo... bên ngoài - cũng chính là biểu tượng thể hiện vị thế của người đàn bà Việt- ảo - thực/ thiêng - phàm - trong đời sống gia đình và xã hội. GS. Trần Quốc Vượng đã gọi đó là “Nguyên lý Mẹ” của nền văn hoá Việt Nam.

Biểu tượng 1: Mỵ Châu (1)
Những truyền thuyết lưu truyền về Mỵ Châu dù có những biến thể khác nahu do xuất hiện không đồng đều trong thời gian, không gian và đã bị ảnh xạ qua lăng kính phụ hệ đều đồng thanh xác nhận rằng Nàng là người được giao trọng trách trông và cất Nỏ thần - và cho dù đây là nguyên nhân chính của bi kịch tình yêu - bi kịch lịch sử thì cũng chính là chìa khoá để giải mã biểu tượng văn hoá - biểu thị vai trò cao của người đàn bà và tính cách truyền dõi theo dòng mẹ của xã hội Việt thời cổ và ảnh hưởng của nó ở những giai đoạn lịch sử muộn hơn.

Biểu tượng 2: Âu Cơ

Truyền thuyết về nguồn gốc của người Việt và quá trình hoà hợp/đối kháng của hai bộ phận dân cư miền cao và miền thấp - theo tư duy lưỡng phân/lưỡng hợp - cho thấy vai trò mang tính ưu thế của yếu tố nữ - dòng mẹ: 50 con theo Mẹ Âu Cơ lên núi (tức là ở lại đất Tổ Phong Châu) - Làng Cả và suy tôn một người làm Vua (Vua Hùng), 50 con theo Cha Lạc Long Quân xuống biển. Sơn Tinh (Thánh Tản Viên - Ba Vì) ban đầu theo cha xuống Biển sau vì nhớ mẹ lại ngược sông về non theo Mẹ, để rồi luôn là vị Thánh đứng đầu trong Tứ Bất Tử của người Việt “Nhất cao là núi Tản Viên”...

Mặc dù ở những lớp phủ muộn hơn ta đã thấy quan điểm phụ hệ được điểm xuyết vào một cách lộ liễu - thông qua sự tích tết mùng 8 tháng 3 âm lịch ở vùng Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Tây). Vùng này còn tục nặn 100 viên bánh trôi, hình bầu dục, để tưởng nhớ đức Quốc tổ Lạc Long Quân và Âuu Cơ đã sinh trăm trứng. Làm lễ xong, người ta lấy 49 viên bánh cho vào chiếc thuyền bằng lá thả xuống sông Hát, cho thuyền trôi ra biển, gưỉ xuống Long cung với ý, đó là 49 người con trai theo Lạc Long Quân về biển (một con ở lại làm vua mặt đất, và 50 con theo Âu Cơ lên rừng).

Vua Hùng - Tổ dựng nước là ở trong số các con theo Mẹ. Chỉ mãi đến cuối thế kỷ 19 các tác giả sách “Việt sử thông giám cương mục” mới “chữa” lại là theo Cha ! đó là sự xuyên tạc “giả dân gian” (fakelore) về Truyền thuyết khởi nguyên. (Trần Quốc Vượng 1996: 43).

Biểu tượng 3: Man Nương và Tứ Pháp

Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo và hệ tư tưởng khác khi du nhập vào Việt Nam bằng các cách thức và con đường khác nhau đều được tiếp biến/giao thoa hay “vượt gộp” theo từng mức độ với những tín ngưỡng, triết lý bản địa. Trong “Lĩnh Nam chích quái” còn ghi lại chuyện Man Nương và Khâu Đà La (2), được giải mã một cách cơ bản như một sự kết hợp giữa tín ngưỡng bản địa và Phật giáo chính thống, để tạo ra Phật giáo Dâu - SƠN MÔN DÂU rát riêng, rất độc đáo. Tính riêng, tính độc đáo thể hiện ở yếu tố Nữ áp đảo - Một PHẬT MẪU MAN NƯƠNG, một hệ thống TỨ PHÁP: VÂN - VŨ - LÔI - ĐIỆN cũng toàn bà. Đây được coi là đặc điểm chung của tín ngưỡng vIệt. Cũng là biểu hiện của cái Sinh (Phồn thực Thiêng), chất Mẹ của người Việt cực kỳ sâu đậm bát chấp cả Phật giáo lẫn Khổng giáo. Đó chính là cốt lõi tâm hồn Việt, cái cốt lõi đó được bảo tồn trong dân gian. (Nguyễn Duy Hinh 1996: 210-213).

Có thể còn những cách giải mã khác nữa song đó lại là chủ đề của một nghiên cứu sâu. Chỉ xin lưu ý những từ in đậm trong đoạn trên để minh giải rõ hơn ý tưởng khi Phật giáo Ấn Độ (dương tính) tới nơi mà người đàn bà nắm vị trí chủ chốt đã buộc phải làm một sự dung hoà để có thể hội nhập. Tín ngưỡng bản địa của cư dân trồng lúa nước - biểu tượng là hòn đá cầu mưa thành Thạch Quang Phật, các phụ tính thiêng liêng của thần trở thành các Phật Mây, Mưa, Sấm, Chớp lấn át các Phật chính thức, tất cả có uy vũ đến đâu cũng phải chịu tôn xưng Man Nương là Tổ. (Tạ Chí Đại Trường 1989: 86-87).

Biểu tượng 4: Bà Chúa Ba - Phật Bà Quan Âm.

Những nhà nghiên cứu tôn giáo cho rằng một trong những đặc điểm của Phật giáo dân gian Việt Nam là tính Nữ nổi trội. Phật điện của chùa Việt có tới hàng trăm các vị Phật, đó là chưa kể những đại diện của Nho - Đạo - Tín ngưỡng dân gian khác, song cũng chỉ một Bà được dân kính nhớ: Quan Âm, thường được gọi bằng cái tên giản dị - Phật Bà.

Khởi nguyên Quan Âm hay Quan Thế Âm (Avalokitesvara), một trong hai Bồ tát phụ tá Phật A Di Đà mang dạng Nam. Rồi được nữ hoá trên đất Trung Hoa, nhất là từ thời Tống. Và không hẳn như một số nhà nghiên cứu Việt Nam khẳng định nguyên nhân nữ hoá là do khi nhập vào Việt Nam của cư dân nông nghiệp lúa nước, luôn đề cao bà Mẹ Đất và bà Mẹ Nước ... nên vị Bồ tát này đã được Việt Nam hoá để trở thành Phật bà Quan Âm (Nguyễn Minh Hoàng 1996: 58). Cũng không cần bàn nhiều về quá trình chuyển hoá này, chỉ cần lưu ý rằng do tính chất và vai trò của mình, Phật Bà quan Âm đã đáp ứng trọn vẹn những ước muốn, tâm tư của người Việt và đã được dung hoá nhiều lần với những nữ thần dân gian - những Bà, những Mẹ, những Mẫu, để rồi trong tâm thức dân gian chỉ còn đọng lại hình tượng Bà Quan Âm. Bà át cả Ông, đến nỗi người ta quên cả sự tồn tại của Quan Âm nam tính trong Phật điện Việt Nam. (Nguyễn Duy Hinh 1996: 213-214).
Khu di tích Hương Sơn gắn liền với sự tích Bà Chúa Ba - Phật Bà Quan Âm - hay Đức Nam Hải Quán thế âm mà bản Diễn ca gắn với vị Phật này được giải mã như một sự tổng hợp cả tín ngưỡng Tam giáo với truyền thống dân tộc mà nổi bật lên là thế ứng xử Hiếu - Nhân của con người. (Nguyễn Minh Hoàng 1996: 60).
Hương Sơn là cả một tổng thể - hay phức thể tôn giáo - văn hoá Việt nam cổ truyền. Ở toàn thể khu vực này, đặc biệt là ở khu vực Tuyết Sơn còn nhiều đền thờ Mãu Đệ nhị - Thượng ngàn (Bà Chúa Rừng xanh và Thế giới người đã khuất). Một số nhà nghiên cứu đã nhận định khá hợp lý rằng Bà Chúa Ba khu Hương Sơn là một hoá thân theo Phật đạo của Mẫu Thượng Ngàn. Một ví dụ tuyệt vời về sự dung hoá nhuần nhuyễn giữa cái nội sinh và cái ngoại sinh.

Và cũng không phải chỉ là một Phật Bà Việt như Bà Chúa Ba này, có thể kể một số trường hợp khác như Bà Trắng Chùa Dâu, các Thánh Mẫu... rồi cả Ỷ Lan Thái Phi được đồng nhất với Phật Quan Âm.

Biểu tượng 5: Bà Chúa KhoNhững thần nữ trong tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc đa dạng và ở mỗi khu vực khác nhau lại có những biến thái khác nhau. Trường hợp Bà Chúa Kho cũng nằm trong thông lệ đó. Ở châu thổ Bắc Bộ có hai nơi thờ tự Bà: Giảng Võ, Hà Nội và Cổ Mễ, Bắc Ninh. Huyền thoại về hai Bà mang những nét chung và riêng với huyền thoại về các nữ thần của người Việt.
Huyền thoại kể lại rằng cả hai Bà sinh thời đều làm nghề giữ kho, đều hoàn thành công việc xuất sắc, xứng đáng được lưu danh sử sách, đáng được muôn đời ghi nhớ. Huyền tích cũng nhấn mạnh vai trò nội tướng của các Bà Mẹ Việt trong cả sự nghiệp dựng/khai phá và giữ nước.

Dù rằng tín ngưỡng Bà Chúa Kho ở cả hai nơi đã được hội nhập với những tín ngưỡng dân gian khác... đặc biệt là tín ngưỡng Tam Toà - Tứ Phủ... song không vì thế mà vai trò của các Bà bị lu mờ. Ngược lại sự phối tự này (rất Việt) đã làm nổi bật vị trí trung tâm của bà Chúa Kho trong hệ thống thần linh Việt đầy tính nữ.
Biểu tượng 6: Mẫu Liễu Hạnh - Thiên Y A Na - Bà Chúa Xứ - Bà Đen...

Đạo thờ Mẫu

Theo Ngô Đức Thịnh tục thờ Mẫu “... hình thành và định hình đầu tiên ở Bắc Bộ, sau đó theo chân cư dân Việt vào Nam, hoà nhập với thần linh địa phương mang tính độc đáo, địa phương ở Huế, ở Nam Bộ...” (Ngô Đức Thịnh 1992: 17).
Khởi nguyên là tín ngưỡng thờ Mẹ: Mẹ Xứ sở, Mẹ Đất, Mẹ Nước... rồi theo dòng lịch sử qua sự hội nhập với các tín ngưỡng, tôn giáo và hệ tư tưởng khác mà đã hình thành Đạo thờ Mãu độc đáo với Thánh Mẫu Liễu Hạnh.Description: http://2.bp.blogspot.com/_nlZrIFQV82o/SnOND_QhroI/AAAAAAAAANo/pbYcgQLhXzQ/s400/Mau+Lieu+Hanh.jpg2.jpg
Tục thờ mẹ hiện diện ở nhiều dân tộc, mỗi một nơi lại có một bà Mẫu khởi nguyên, xem đó là tổ tiên của mình. Mẫu Âu Cơ của người Việt, Mẫu Thiên Y A Na của người Chăm... Và trong quá trình phát triển các tín đồ Mẫu lại tiếp nhận và tôn thờ thêm những hình tượng khác và Điện thờ Mẫu không phải chỉ có một vị Mẫu mà gồm nhiều vị. Diện mạo Mẫu khá đa dạng cả về nguồn gốc lẫn thành tích và công trạng, cũng như sự “hiển linh”. Hệ thống thần điện gồm nhiều nhiên thần và nhân thần trong đó có khá nhiều các nhân vật lịch sử - văn hoá không chỉ của tộc người Việt. Quá trình hội nhập và dung háo giữa các Mẫu Việt đặc biệt là Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các thần nữ - các Bà Mẹ Xứ sở của một số tộc người khác trong diễn trình lịch sử đã tạo ra nhiều hiện tượng độc đáo.

Hình tượng Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện vào thế kỷ 16 được nhiều nhà nghiên cứu gắn với sự quay trở về Nguyên lý Mẹ của văn hoá Việt cổ truyền. là sự phản kháng của dân gian chống lại tư tưởng độc tôn Nho giáo, trọng nam khinh nữ. Mẫu Liễu Hạnh còn là một trong những vị thánh “Tứ Bất Tử” Việt. Có thể còn có những nguyên nhân khác để giải thích sự phổ biến sâu rộng của vị nữ thần này như sự xuất hiện của Thiên Chúa giáo, của Nội Đạo và sự phát triển của thương mại đường biển... Dù lý do nào đi nữa chúng ta phải ghi nhận khuynh hướng thời đại lúc bấy giờ là tôn sùng nữ thần.

Trên Điện thần Mẫu, Mẫu Liễu Hạnh được đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên - Tiên Thiên Thánh Mẫu - lực lượng sáng tạo ra trời và đặt ra cách vận hành của bầu trời. Huyền tích về Bà chứa đựng những yếu tố phàm mà thiêng, bình thường mà phi thường. Bà là biểu tượng cho sức giải phóng, ý thức tự do và lòng nhân đạo của phụ nữ.

Hinh tượng Thiên Y Ana Ngọc Diễn Phi

Thiên Y Ana (YANGSPIRO NEGARA) tức Bà Mẹ Xứ sở (tiếng Việt) là vị nữ thần nổi tiến của người Chăm. Nơi thờ chính là Tháp Bà - Nha Trang, Khánh Hoà (3). Tại miền Trung, còn nhiều đền thờ Bà mẹ Xứ sở và thường được người Viẹt gọi tắt là đền bà “Yang” - Giàng như kiểu lùm Bà Dàng, đồi Bà Giàng, xứ Bà Yang...Description: http://2.bp.blogspot.com/_nlZrIFQV82o/SnONPVAj1YI/AAAAAAAAANw/JOscdW4opOA/s400/Thanh+TYAN1.jpg
Sự đồng cảm giữa hai tộc Việt - Chăm có cùng một cơ sở tín ngưỡng nông nghiệp thờ Mẹ đã là nguyên nhân chính của sự xuất hiện những Mẫu hai hoà Một - kết quả của sự dung hợp cả hai nền văn hoá. Có thể kể tới vị thần Nữ Tối Thượng ở Điện Hòn Chén rồi chùa Thiên Mụ - Huế, rồi tiếp theo hàng loạt là những Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi được thờ suốt dọc miền Trung. Uy thế của vị Nữ thần này thật sự sâu rộng và bên cạnh những cụm di tích thờ cúng có qui mô lớn như Điện Hòn Chén - Huế, Tháp Bà - Nha Trang hay những đền thờ riêng lẻ thì vị thần này được phối thờ rất nhiều, rồi lại được triều đình phong kiến sắc phong làm thần Thành hoàng của nhiều làng ở Miền Trung Việt Nam. Tư liệu điền dã của chúng tôi tháng 2 năm 2002 cho thấy trong bộ sắc phong gồm 34 đạo sắc đình Nam Thọ - Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng có niên đại từ Minh Mạng đến Bảo Đại thì đã có tới 5 đạo sắc của Bà Chúa Ngọc. 5/25 đạo sắc từ Minh Mạng đến Khải Định của đình Tuý Loan, xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng là của Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi . Tục thờ nữ thần in đậm đến mức từ tượng thần nam (Kubera - Chăm) được biến thành tượng Nữ thần - Phật Bà như ở Hội An mà chúng tôi đã phát hiện trong đợt điền dã tháng 8 năm 1989.

Ngay cả ở miền Bắc cũng lưu giữ vết tích Thiên Y A Na và những Nữ thần khác của dòng văn hoá Chăm chảy ngược được hội nhập vào văn hoá Việt dù không hoàn toàn tự nguyện, và tất nhiên cũng đã được Việt hoá theo cả hai cách Chính thông và Dân gian. Đó là trường hợp thần hậu thổ (thời Lý) ở Thăng Long với những danh hiệu phong tặng “Hậu thổ Địa kỳ Nguyên quân” năm 1258; “Nguyên Trung” năm 1288; “Ứng Thiên Hoá Dục” năm 1313. Huyền tích và tên gọi gợi nhắc nguồn gốc và tính chất Chăm của thần (Tạ Chí Đại Trường 1989: 114-115). Trường hợp nữa là vị thần được thờ ở Châu Lâm tự (tên nôm là chùa Bà Đanh-Bà Banh) cũng ở Thăng Long - thời Lê. Đây là nữ thần Po Yan Dari của người Chăm được Việt hoá. Nói như vậy để thấy một điều nữ thần ngoại tộc do đáp ứng được những yêu cầu sâu thẳm của đời sống tâm linh dễ được hội nhập và phổ biến rộng rãi hơn.

Hình tượng Bà Chúa Xứ, Bà Đen...

Bà Chúa Xứ có nguồn gốc ở Châu Đốc, điện thờ chính ở núi Sam (Châu Đốc - An Giang) có cùng gốc với Chúa Ngọc, Chúa Tiên, là biến thiên của Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi song đã được Nam Bộ hoá. Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen), điện thờ chính ở núi Bà Đen (Tây Ninh) lại là kết quả của sự hội nhập các yếu tố Khmer - Hoa - Phât... Những vị thần này cùng với hàng loạt các vị nữ thần địa phương khác có mặt thường nhật trong đời sống gia đình và xã hội của các cộng đồng cư dân Nam Bộ. Tín ngưỡng thờ Nữ thần in đậm dấu ấn trong tục thờ cúng ở gia đình, ở lễ hội, ở đình, chùa miếu...


Kết luận

Chỉ qua một vài biểu tượng chọn lựa ngẫu nhiên đã thấy sự đa dạng, đa nghĩa của các biểu tượng nữ thần. Bài viết do yêu cầu của đề tài cũng không đíi sâu vào việc phân tích nguồn gốc, tính chất và các lớp văn hoá khác nhau của mỗi một biểu tượng. Có thể thấy rằng cơ tầng văn hoá sâu và lâu bền nhất của người Việt thiên về tính nữ. Tính nữ bền vững tới mức dù chịu áp lực rất lớn của những hệ tư tưởng và tôn giáo từ bên ngoài của các dòng phụ hệ Đông và Tây để rồi lớp vỏ phải thay hình đổi dạng, thì vẫn bao bên ngoài của cái “Lõi Việt”. Khi ảnh hưởng của Nho giáo gia tăng, vai trò của người phụ nữ thực suy giảm, ta lại thấy có xu hướng gia tăng của tín ngưỡng thờ nữ thần. Theo thóng kê có tới 75 nữ thần chính. Trong Hội Chân Biên - một phái của đạo Nội, tuy tổ sư là một tiên ông (Chử Đồng Tử), nhưng tổng số nam thần chỉ là 13 so với 14 thần nữ. Nhiều đình làng Thành Hoàng là Nữ thần và như vậy có một nghịch lý giữa cái thực và cái thiêng, giữa phàm và ảo khi lui tới chốn đình chung trước đây chỉ là những người đàn ông!
Xã hội Việt, Văn hoá Việt đã trải qua bao thăng trầm, đã biết bao lần hội nhập, dung hoá với những luồng văn hoá, văn minh song vẫn lưu giữ cơ tầng bản địa với nguyên lý trọng Nữ (cả từ trong vô thức chứ không chỉ ý thức). Truyền thuyết về việc 50 người con theo Mẹ Âu Cơ ở lại vùng núi, lập Quốc, việc Trọng Thuỷ ở rể và Mỵ Châu coi giữ nỏ thần, hiện tượng Hai Bà Trưng, Bà Triệu... tín ngữơng thờ Nữ thần... đã chứng thực điều đó.

Cũng không rõ tại sao những nơi thờ nữ thần (bất kể có tên tuổi hay không) thường đông đúc và có xu thế ngày càng tấp nập. Có thể lấy ví dụ về Bà Chúa Kho, Bắc Ninh. Mẫu Liễu- Phủ Tây Hồ, hà Nội hay Bia Bà, hà Đông hiện nay...


Chú thích

1/ Mỵ Châu - theo nhiều nhà nghiên cứu không hẳn là tên riêng mà là tên chung của các bà chúa - mệ nàng theo kiểu Mị - Mê - Mệ, trong những tên gọi như Me - Ku nữ hoàng Lava, Mị Châu, Mị Nương... (Tạ đức 1999: 338).

2/ Thời Sĩ Nhiếp (Tây Hán) làm thái thú Giao Châu (178-226), nhà sư ấn Độ A-Đà-La (Khâu Đà La) tới trị sở của Sĩ Nhiếp ở Luy Lâu, được một người mộ đạo mời về nhà mình ở. Cô con gái (Man Nương-tên chỉ người đàn bà bản xứ) mang thai (không theo kiểu thông thường - mà là sự thai sinh gián tiếp trong không khí thần bí - kiểu thiêng hoá yếu tố phàm, ảo hoá yếu tố thực), sinh con gái, bế đi tìm trả Khâu Đà la. Sư niệm chú cho một cây lớn tách đôi ra, đặt đứa bé vào giữa hai mảnh cây khép lại. Bão giật đổ cây, nước lũ cuốn đến thành Luy Lâu. Sĩ Nhiếp cho kéo cây lên bờ, nhưng không được. Man Nương đến đẩy nhẹ, cây tự lăn lên bờ. Sĩ Nhiếp sai lấy gỗ tạc bốn pho tượng Tứ Pháp - tượng Nữ thần. Gặp năm hạn hán, ông cho bày 4 pho tượng ra làm lễ cầu đảo. Lễ xong, mưa to gió lớn, sấm chớp. Các tượng được đưa vào chùa dâu, chùa Đậu, chùa phi Tướng, chùa Trí Quả. đứa bé trong thân cây hoá đá (Thạch Quang Phật) đặt trước tượng Pháp Vân.
3/ Nữ thần Nagar (Thiên Y A Na) giáng sinh nhập vào cây gỗ trầm hương trôi trên biển. Gặp và kết hôn với một người, sinh hai con. Sau về với người Chăm và lên ngôi gọi là Po Nagar (Bà Chúa Xứ sở). Đền thờ ở tháp Bà Nha Trang.

Tài liệu sử dụng

1/ Tạ Đức 1999. Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn. Hội dân tộc học Việt Nam. Hà nội.

2/ Trần quốc Vượng 1996. nguyên lý Mẹ của nền văn hoá Việt Nam. Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật. Số 150. Hà Nội.

3/ Nguyễn Duy Hinh 19996. về hai đặc điểm Phật giáo Việt Nam. Trong Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay. NXBKHXH. Hà nội.

4/ Tạ Chí Đại Trường 1989. Thần, Người và Đất Việt. Văn Nghệ. California.
5/ Nguyễn Minh Hoàng 1996. Tư tưởng Phật giáo Việt Nam qua truyện Bà Chúa Ba - Phật Bà Quan Âm. Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật.Số 144. Hà Nội.
6/ Ngô Đức Thịnh 1992. Tục thờ Mẫu Liễu Hạnh - một sinh hoạt tín ngưỡng - văn hó acộng đồng. Tạp chí Văn hoá. Số 5. Hà Nội.


Lâm Thị Mỹ Dung
Được đăng bởi DzungLam vào lúc 17:14 Description: http://img1.blogblog.com/img/icon18_email.gif

Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

Hà Nội tiến nhanh về phía trước: không gian công cộng trong thành phố không tưởng

Lisa Drummond
( Đặng Thị Vân Chi dịch- Do trình độ Tiếng Anh có hạn, mong nhận được sự góp ý của các bạn để bản dịch được hoàn chỉnh- Xin cám ơn)
Lisa Drummond là một phó giáo sư  về đô thị học tại Đại học York ở Canada, Toronto và là một khách mời nghiên cứu  tại Trung tâm Nghiên cứu Đông  và Đông Nam Á ở Lund tháng 5 năm 2007.
Sau khi sống và làm việc tại Hà Nội, Việt Nam trong những năm 1990, Lisa đã hoàn tất một văn bằng về nhân học Địa lý tại Đại học Quốc gia Úc và một học bổng sau tiến sĩ được thực hiện tại Đại học Quốc gia Singapore. Nghiên cứu của bà tập trung chủ yếu vào đời sống xã hội đô thị Việt Nam, kể cả các phân tích về văn hóa bình dân, cụ thể trong loạt chương trình truyền hình và các tạp chí phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong xã hội Việt Nam, và áp dụng các khái niệm phương Tây  như công và tư  để chỉ về không gian trong các thành phố Việt Nam .
 Bà đồng chủ biên một số cuốn sách  về xã hội Việt Nam, gần đây nhất là  văn hóa tiêu thụ trong Khu đô thị  đương đại Việt Nam,cùng với Mandy Thomas, và  thực tiễn về giới trong  Việt Nam đương đại cùng với Helle Rydstrom. Lisa hiện đang nghiên cứu và viết một cuốn sách về không gian công cộng tại Hà Nội từ thời kỳ thực dân Pháp cho đến nay.
Hà Nội tiến nhanh về phía trước: không gian công cộng trong thành phố không tưởng
Lisa Drummond
Đại học York, Toronto, Canada
Nếu một thành phố có thể được coi là một cơ thể sống, thì không gian công cộng  là máu của nó. Không gian công cộng là không gian mà chúng ta chơi, đi bộ, gặp nhau tại đó, và chỉ đơn giản là nơi ghé qua- mang đến cho ta cuộc sống thành phố. Thật khó mà tưởng tượng rằng có thể sống trong một thành phố không có vỉa hè, không có công viên, không có chợ, không có đường phố. Thành phố sẽ  không có cuộc sống, lạnh lẽo và chết choc.
Không gian công cộng thì đa dạng, chúng mang các dáng vẻ khác nhau  trong các thời gian và địa điểm khác nhau.  Quy tắc về cách sử dụng không gian công cộng và cách cư xử ở “nơi công cộng”  cũng  được quy định cụ thể trong các không gian, văn hóa và  xã hội  khác nhau. Trong các xã hội phương Tây, không gian "tư "  chủ yếu được hiểu là không gian của ngôi nhà, nơi mà các hoạt động và hành vi được tự quy định, không có sự giám sát từ  bên ngoài, còn không gian "công"  được hiểu  là đối lập với nó:  ở bên ngoài, có thể tự do quan sát, là khu vực của tất cả mọi người, là đối tượng quy định của xã hội. Vì ý tưởng về không gian và thực hành không gian đã biến đổi theo  thời gian, hai lĩnh vực công  và tư  có xu hướng được hiểu là phân chia theo giới tính: không gian tư  trở thành không gian của phụ nữ (vốn là của phụ nữ và thuộc về người phụ nữ) và không gian công là không gian của nam giới. Nhiều học giả đã xem xét  không gian đã tồn tại và đã trải nghiệm thực tế  như thế nào và rõ ràng  là hiện nay công  và tư chưa bao giờ là hoàn toàn thuần túy và  đối lập về quyền lợi. Tuy nhiên, ý tưởng về công và tư  đươc khoanh lại trong các tập quán hàng ngày.
Trong ý nghĩa đơn giản nhất, không gian công cộng là những không gian mà tất cả các thành viên của xã hội, về mặt lý thuyết, có quyền sử dụng. Đôi khi, tuy nhiên, "tất cả" thì  nhiều tính độc chiếm hơn bao gồm. Thường  những không gian thuộc sở hữu tư nhân hoặc  những không gian đã được quản lý như quán cà phê, nhà hàng, rạp hát, rạp chiếu phim, hành lang khách sạn, trung tâm mua sắm..., cũng được coi là không gian công cộng, mặc dù quyền sử dụng tại các cơ sở này có thể bị hạn chế bởi khả năng chi trả hoặc diện mạo ( ví dụ người vô gia cư là rất hiếm khi được chào đón trong các nhà hàng hoặc trung tâm mua sắm, ). Những nơi này và công viên, quảng trường, vỉa hè, chợ, sân chơi, thư viện, vườn, nhà thờ, đền thờ, nghĩa trang, sân tập thể thao, hồ, bờ sông ... tất cả đều được coi là hoặc có thể là không gian công cộng. Điều mà tất cả các không gian công cộng đều có điểm chung là chúng là những nơi mà mọi người gặp gỡ, do nhu cầu hoặc do ngẫu nhiên, hay chỉ là ghé qua. Không gian công cộng là không gian của sự tụ họp trong thực tế hoặc còn ở dạng tiềm năng.
Chức năng quan trọng của chúng là  cung cấp các cơ hội gặp gỡ những người hàng xóm của chúng ta trong thành phố, những người mà chúng ta có thể không gặp ở những nơi khác, bởi vì chúng ta sống, làm việc, hoặc học tập ở những nơi khác nhau, hoặc vì những khác biệt về giai cấp hay tôn giáo. Không gian công cộng là vương quốc của sự hòa hợp, hội họp, giao lưuKhông có quyền sử dụng đối với không gian công cộng, chúng ta  cam chịu  chỉ gặp gỡ những người chúng ta biết  và những người giống như chúng ta. Chúng tmất nhiều cơ hội để tham gia cùng và có thể học hỏi từ những người chúng ta không biết hoặc những người không giống mìnhTuy nhiên, chuẩn mực xã hội và pháp luật có xu hướng phản ánh mong muốn có tính xã hội của những người có quyền lực,  thường rất cố gắng để giữ cho con người tách biệt nhau:  người nghèo cách xa những người giàu có, phụ nữ cách xa nam giới, giữ những người thuộc các tôn giáo hoặc dân tộc khác nhau trong không gian riêng của họ.
Vì vậy, làm thế nào để chúng tđảm bảo rằng sự hòa hợp có thể xảy ra? Làm thế nào để chúng ta ngăn những người giàu hoặc  giới thượng lưu  việc họ tự cách ly  hoàn toàn khỏi "công chúng"? Làm thế nào để chúng ta đảm bảo rằng người nghèo có quyền sử dụng không gian công cộng? Làm thế nào để chúng ta đảm bảo rằng chúng ta hoàn toàn cảm thấy thoải mái với những cách mà không gian công cộng được sử dụng bởi những người dân có  nền tảng giáo dục, sở thích  và khả năng khác nhau?
Không gian công cộng cũng là không gian trong đó xã hội  đặt  ra những hành vi  nào là có thể được chấp nhận. Chúng ta có công nhận hay bỏ qua những người xa lạ không? Làm thế nào để chúng ta thể hiện bản thân mình trước công chúng? Điều gì là chấp nhận được trong những quy định về quần áo hoặc thái độ? Những loại hoạt động nào thì được chấp nhận trong không gian công cộng? Ai có thể sử dụng không gian công cộng của thành phố và sử dụng cho các mục đích gì? Có sự đồng thuận về những gì là thích hợp hay có những cuộc tranh giành và  đối kháng về việc sử dụng không gian công cộng không? Lợi ích của những ai làm chủ trong việc sử dụng không gian công cộng và  đòi hỏi của ai thì bị bỏ qua?
Không gian công cộng của Hà Nội trong quá khứ và hiện tại
Hà Nội, Kinh đô, dường như đã có một ít không gian công cộng dành cho  những cuộc hội họp của công chúngThành,  như chỗ ở cho vua chúa, sẽ không  được mở cho người dân của thành phố để giải trí hoặc tụ họp. Tương tự như vậy đô-thị có đặc trưng đường phố chật hẹp, mỗi đường phố thuộc về một phường  thủ công mà mỗi phố đều có cổng và bảo vệ ở cả hai đầu. Hồ Hoàn Kiếm hầu như được bao quanh bởi  nhà ở tư nhân dọc theo con ngõ hẹp, hạn chế quyền sử dụng hồ. Không có công viên, như chúng ta biết, nhưng có rất nhiều các chùa và đền thờ và các ngôi nhà chung. Đây sẽ là các không gian chính cho việc tụ họptuy nhiên đây không phải là nơi được sử dụng tự do, mà được quy định theo giới tính và tình trạng hôn nhân. Các đường phố của phố chợ (khu phố cổ)  bình thường đã đông đúc với các cửa hàng và người bán hàng rongnhững người bán hàng và khách hàng của họVào những dịp đặc biệt có diễu hành đường phố và đám rước trong lễ hội tôn giáo, đám tang, hoặc những chuyến vi hành của Hoàng giaBan đêm các cổng phường  được đóng lại để bảo vệ chống lại kẻ trộm và kẻ cướp.
Kẻ chinh phục Pháp đã đưa những ý tưởng châu Âu về không gian đô thị và quy hoạch đô thị cho Hà Nội. Đường phố hẹp đã được mở rộng để phù hợp với các công sở lớn hơn của Pháp; Các cổng  phố đã được loại bỏ khỏi các phố phường với cùng một mục đích. Đối với người châu Âu, vỉa hè là không gian quan trọng cho cuộc đi dạo, nơi những người đi bộ có thể  giữ để khỏi bị  bùn và đất bẩn của các đường phố dính vào và giữ an toàn giao thông; một chương trình mở rộng các vỉa hè đã bắt đầu. Dự án phát triển đô thị  rộng lớn đã được thực hiện. Ví dụ: Khu vực xung quanh Hồ Hoàn Kiếm, đã  phá bỏ các ngôi  nhà ở tư nhân để tạo ra một công viên mới. Tường thành  đã bị phá bỏ và  các tòa nhà mới thuộc  chính quyền cai trị được xây dựng trên cùng một không gian. Chùa đã bị phá hủy hoặc bị chuyển đi để làm đường cho các tòa nhà mới, hoặc các công viên mới, chẳng hạn như chỗ Chùa Quan Thượng  hiện nay là Bưu điện. Các làng xung quanh thành phố đã dần dần nhập vào cảnh quan đô thị. Ý tưởng về  không gian công cộng là gì và làm thế nào để sử dụng chúng bắt đầu thay đổi. Cuộc đụng độ giữa các ý tưởng Pháp và Việt Nam về việc làm thế nào để tận dụng tốt nhất  vỉa hè, cho thoải mái, cho buôn bán, đã xảy ra hàng ngày.
Ý tưởng về không gian công cộng, việc sử dụng  và người sử dụng nó  đã được áp đặt bởi người Pháp tiếp tục ảnh hưởng đến việc sắp xếp và quy định về không gian công cộng tại Hà Nội ngày hôm nay. Các cuộc đấu tranh về việc sử dụng tốt nhất vỉa hè, các chợ, và các công viên và về  những người sử dụng được chấp nhận nhất đối với các không gian này diễn ra rất ác liệt. Nhưng dường như không gian công cộng ngày càng giảm thay vì ngày càng tăng ở thành phố hiện đại: vỉa hè bị chiếm làm rất nhiều bãi đậu xe, không gian xanh ở hai bên đường phố đang dần dần bị đốn đi để cho phép lưu lượng xe lớn hơn, có rất ít công viên mới xây dựng trong các khu dân cư mới của thành phố. Hầu như không có bất kì dấu hiệu thuận lợi nào cho một thành phố không tưởng trong tương lai .
Không gian công cộng của Hà Nội trong tương lai
Thành phố lý tưởng của tương lai là gì? Công bằng, bền vững, sinh động, phong phú, lành mạnh, an toàn ... Để  tất cả những điều này, nó sẽ cần khoảng không gian xanh, công viên, vườn hoa, cây, và không gian cho cuộc tụ họp, xem, chơi, gặp gỡ, kỷ niệm, học tập. Sẽ có những không gian  có thể mang lại cho cả người già và người trẻ của tất cả các tầng lớp, tín ngưỡng, và các nhóm lợi ích, và cả đàn ông và phụ nữ đều có thể  sử dụng một cách an toàn, bình đẳngTất nhiên, vấn đề là tìm chỗ cho những không gian này ... Có lẽcách duy nhất để bắt đầu là  lên trên.
Tôi tưởng tượng một Hà Nội trong tương lai với các không gian công cộng của nó nổi lên trên bầu trời: không gian công cộng trên tầng thượng của các tòa nhà, hoặc trên  các cây cầu giữa các tòa nhà, hoặc trên các mặt phẳng được xây dựng đặc biệt năm hoặc mười hay hai mươi  tầng ở trên. Các mặt đất sẽ được sử dụng cho  vận tải (giao thông công cộng, tất nhiên!) và cho sản xuất, công nghiệp, thương mại ... nhưng lơ lửng trên những không gian nhỏ trông dể thương, sẽ là mặt phẳng rộng  có chứa các công viên và khu vườn, quảng trường, quán cà phê, nhà hàng, chợ ngoài trời. Giống như một kết nối chưa hoàn chỉnh với quảng trường ngoài trời để ánh sáng vẫn có thể phủ trên bề mặt, và vì vậy mà  không gian công cộng vẫn còn  các bề mặt như Hồ Hoàn Kiếm -sẽ có bầu trời phía trên chúng. Tòa nhà cao tầng sẽ đặt các công viên trên mái nhà của họ, một số thậm chí có thể có vườn rau, vườn chung-  nơi cư dân đô thị có thể có chỗ đất riêng nho nhỏ của họ  để phát triển rau, quả, và hoa ...
Tôi mơ về một Hà Nội, nơi không gian công cộng thực sự là công cộng. Không gian mở cho tất cả các thành viên của công chúng, và công chúng tưởng tượng đó càng mở rộng  càng tốt. Trước khi có thể thực hiện các quyết định sẽ phải tìm xem bằng cách nào và ai quyết định việc sử dụng không gian được chấp nhận. Tầm nhìn của ai sẽ chi phối định nghĩa về "công cộng" và " có thể chấp nhận"? Làm thế nào những cái đó có thể được đàm phán công bằng và hòa bình?
Vì vậy, trong thành phố không tưởng của tôi, không gian công cộng là phong phú và đa dạng. Trong Hà Nội không tưởng của tôi, thành phố của hồ cũng là  thành phố công viên,  thành phố của đường phố chật hẹp và những đại lộ, vỉa hè để đi bộ và để xem  thế giới diễu qua, quảng trường cho các quán cà phê và  các ghế ngồi, không gian nghi lễ cho những cuộc diễu hành nghi lễ và nghi thức, và không hạn chế cơ hội cho  những cuộc gặp gỡ đô thị cũng như mở rộng chân trời.


Bạn Lê Thanh Hải góp ý về bản dịch ( Lưu ý là bạn Hải bên cạnh việc góp ý về phần dịch có bàn thêm về lý thuyết " không gian công cộng")
1- dấu gạch ngang trong essay rất quan trọng, nó là ký hiệu qui định một không gian được tách ra trong tư duy, ở đây cái -XX- dùng để định nghĩa cái khái niệm về không gian công đứng trước đó. Và tác giả nhắc đi nhắc lại chữ IN, ý nói là chơi trong đó, đi bộ trong đó, hoặc vào đó/đến đó để chơi. Lifeless không có sự sống, không có sinh khí, và cần tôn trọng thứ tự gốc
2.- evolution là tiến hóa, hơn là biến đổi theo nghĩa bình thường. Experienced in practice - được trải nghiệm trên thực tế. Nhưng ở đây chữ Practice là một phạm trù mà Michel de Certeau đã dùng, tức là nói đến các xoay sở của người bị động/ hưởng thụ và chiến lược do nhà cầm quyền đặt ra (coi note trước). THIS IDEA - cách tư duy NÀY/ĐÓ. Đây là khái quát hệ tư duy về private và public, mà Drummond từng nói rằng ở VN không hoàn toàn chia như vậy, vì người ta đem cái riêng tư ra ngoài - mặc áo rách tập thể dục trước lăng Bác, quần đùi đồ bộ trong nhà ra chạy bộ ở bờ hồ v.v. hay như Friere thì kiểu như là (đái đường và) làm tình trên yên xe máy. Vì Drummond là phụ nữ, cho nên cũng phát triển theo 1 xu hướng đương đại của nhân học là feminism, và nhìn thấy không gian qua mắt phụ nữ/đàn ông, tuy nhiên, chưa thấy có phát triển gì về mặt lý thuyết.

 3- sense cũng là một khái niệm đương đại của ngành sử sau khi khoanh tay cúi đầu trước nhân học - making sense of - theo cách hiểu đơn giản nhất, theo cách diễn giải đơn giản nhất ... Access là truy cập, có thể tạm coi là sử dụng, nhưng nếu dùng chữ sử dụng thì có thể bị coi là function trong structuralism. Lobbies là khu tiền sảnh của khách sạn, nơi khách bên ngoài gặp khách bên trong, nơi trung chuyển giữa các nhóm khác nhau, chứ hành lang khách sạn là nơi riêng tư rồi. Accident có nghĩa là tai nạn nhưng cũng có thể hiểu ở đây - on purpose or by accident, tức là cố tình đến để gặp nhau hoặc bị dàn xếp để người ta gặp, hoặc chẳng may rơi vào chỗ này, một cách hiểu "tai nạn" như thủ tướng buổi sáng ra Ba Đình tập thể dục bị gặp dân oan cũng ra đó để tập thể dục, hơn là bị xe tông. Passing - đi ngang qua, tức là nơi đó không phải là điểm đến để làm gì đó, bao gồm cả "gặp nạn". Congregation là tập họp, nhưng cũng là buổi lễ thánh Chủ Nhật, tức có thể hiểu như là nơi gặp để biểu tình. đang được dùng, hay nhiều khả năng sẽ được dùng v.v. Critical có thể dịch là quan trọng cũng được, nhưng nếu có thời gian có thể tìm hiểu thêm, có thể là biện chứng theo nghĩa phê và tự phê của Mác, có thể là nghiêm trọng tức là hơn cả quan trọng vì nó dùng để giải quyết xung đột. Khi nói một người đang trong tình trạng critical tức là người đó đang trong tình trạng nguy cấp có thể chết bất cứ lúc nào nhưng vẫn có nhiều khả năng cứu sống. Provide cũng có thể là tạo ra. Realm ở đây không phải là vương quốc, nó là một khái niệm triết học, một không gian, một thể chế, một cái gì đó. Mix là trộn lẫn, giống như việc tắt đèn trong đêm đóng ấn thánh Trần, phó thủ tướng thì cũng ngang TAO - bảo vệ hay phóng viên, tất cả đều trộn lẫn trong cái đám cướp giành nhau mấy mảnh vải bị làm dơ. Hòa hợp, hội họp và giao lưu là interpretation theo từ ngữ thường dùng hiện nay tại VN, thể hiện ý đồ của nhà cầm quyền, không phải cách nói trung dung trong văn bản khoa học - có những nguyên tắc để bảo đảm tư duy là cái cao nhứt. Doomed ở đây là bị buộc, khác với (tự nguyện) cam chịu. Những cơ hội khác với nhiều cơ hội, chỗ này có thể làm khác nghĩa. Emgage là một từ khá khó, nếu Mỹ engage vào công việc nội bộ của VN thì chị Nga sẽ lên phản đối Mỹ "can thiệp". Engage thông thường là tham gia vào, tương tác, nhưng nếu chỉ nói chữ tham gia không thì không rõ nghĩa bằng nhập hội, nhập bọn, giống như facebook là một không gian như vậy. Comment trên trang người khác là engage rồi, còn nếu chỉ đăng ký và đứng nhìn thì chưa thể coi là engage được. Law ở đây là luật lệ, để phân biệt, một cái là những lệ không thành văn, cái kia là văn bản, luật pháp thì là một hệ thống rồi. Và dấu phẩy cũng là thành phần quan trọng, mang tính định nghĩa, nhắc nhở ý muốn nói tới cái gì. Các qui định và luật lệ xã hội, vốn thường thể hiện phác thảo/kế hoạch/quyết tâm chính trị xã hội của giới quyền lức, rất thường vận hành theo hướng .... work không có nghĩa là cố gắng. tách riêng nghèo và giàu, đàn bà và đàn ông...

 4. Chữ Insulate ở đây rất là nặng, không đơn giản là "cách ly hoàn toàn", mà là đặt ra những lớp cách nhiệt, kiểu như muốn vào cửa quan phải qua thằng bảo vệ, rồi đến thằng thư ký, nhiều cửa nhiều tầng. Elite là thượng tầng, khác với nghĩa thượng lưu là người giàu. Elite ở VN tức là tổng bí thư, bí thư thường trực, chủ tịch nước, thủ tướng hê hê hê, giỡn chơi chút, chính xác hơn là tất cả những ai quanh các vị ấy. Thể chế gồm có nguyên thủ quốc gia và các lãnh đạo, và dưới nhóm đó tất cả là elite, từ cán bộ trung cao cấp cho đến sinh viên - những người thuộc tầng lớp trên và nằm trong bộ máy cầm quyền. Access - một lần nữa, ở đây là truy cập, khác với quyền sử dụng, vì không gian đã có đâu mà quyền sử dụng, Hà Nội có chỗ nào để tập thể dục đâu, cho nên người ta phải ra trước lăng HCM mà thể hiện các tư thế không được hay ho cho lắm. Câu bị động có thể dịch chuyển trở lại nhưng đó không phải là điều đáng quan tâm trong note này.

 Constitution là hiến pháp, tức không chỉ đặt ra, mà còn mang tính như tiên đề, tạo ra đầu tiên, tạo ra tiền lệ, phác thảo nên v.v. Acknowledge or ignore stragers phải hiểu là khi có người lạ, người KHÁC đến đây thì ta có NHẬN BIẾT họ hay không, tức là trong cái không gian đó có ai là người khác không, có bị nhận ra không, hay là nhận ra nhưng mọi người làm ngơ coi như không có kẻ khác đó, bởi vì khi còn kẻ KHác thì không gian đó vẫn chưa hoàn toàn là Công, bởi vì đã là Công thì Ai Cũng Có Thể là thành viên được, không thể Khác được. Contest cũng lại là một phạm trù triết học, Contesting Spaces là đề tài nhiều người đã viết. Confrontation thì không còn là tranh giành theo nghĩa contest (ví dụ dân HN ra "cướp" Ba Đình để tập thể dục là contest) mà là chia ra, tạo ra những khoảng không riêng để đánh nhau, chỗ này bắc loa chơi nhạc rap chỗ kia kể chuyện Kiều đối kháng nhau. Dominate ở đây là nghĩa bao trùm, là nhóm quyền lợi mạnh hơn trong xã hội, ở đây có nghĩa là "thắng thế"....

Bạn Lê Thanh Hải còn có nhận xét về trình độ và khả năng người dịch, nhưng thấy rằng nó nằm ngoài văn bản dịch nên chỉ xin trích dẫn những nội dung liên quan trực tiếp đến văn bản.
 Thực ra tôi dịch bài này chỉ để học tiếng Anh, để tập dịch, để khỏi quên tiếng Anh chứ không vì bất cứ lý do nào khác, vì vậy xin cám ơn bạn Hải về những góp ý của bạn cho bản dịch này.