Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

Bài báo về phiên tòa xử vụ án giết người dưới thời Pháp thuộc


Điên vì tình: Cô  Vũ Thị Cúc là người bị hại về ái tình hay là kẻ đã phạm một tội ác của văn minh
 ( Báo Trung Bắc chủ nhật năm I940)


Câu chuyện cô Vũ Thị Cúc đâm chết tình nhân sảy ra đã năm rưỡi nay mà dư luận xứ này, nhất là trong đám phụ nữ vẫn chú ý đến một cách đặc biệt và hôm thủ phạm ra trước Tòa Đại hình số người nhất là các bà các cô kéo đến xem đông đặc chật hết vòng trong vòng ngoài trong phòng tòa xử lại đầy cả phòng nghỉ chân liền đấy. Quan chánh án phải ra lệnh đuổi bớt đi một phần rôi mới bắt đầu xử đến. Tại sao vụ án mạng này lại được dư luận chú ý đến thế?
       Trước hết vì vụ  này là một vụ án mạng vì tình, những án vì tình bao giờ cũng li kỳ.
       Điều làm cho người ta để ý hơn là kẻ bị giết, một người có học thức và có một địa vị khá cao trong xã hội. Sau cùng người ta lại muốn biết mặt nữ thủ phạm, một thiếu nữ chân yếu tay mềm đã dám đâm tình nhân một lúc 35-36 nhát dao cho đến chết, đầy tớ trong nhà cũng phải sợ không dám can thiệp để cứu chủ.
       Đã mười tám tháng nay người ta nóng lòng mong đợi kết quả  vụ án mạng vì tình này trước pháp luật.  Trong số những người đi xem  xử án hôm 7 tháng 6  ( I940) vừa rồi chia làm 2 phái: phái cổ thì mạt sát nữ thủ phạm đã giết tình nhân một cách có thể gọi là tàn nhẫn. Theo như tập quán của ta xưa, người đàn bà dù có bị hắt hủi, bạc đãi hay bị thất vọng vì tình đến đâu chăng nữa, cũng phải cắn răng mà chịu không được phép tiết lộ ra, nhất là bằng một cách khác thường như cô Cúc, nhất là cô này chỉ là tình nhân của ông huyện Nguyễn Xuân Trường, một người đã có vợ cả rồi. Bổn phận một người đàn bà Việt Nam dẫu ở giai cấp nào trong xã hội cũng phải lấy nhẫn nại, nhu mì làm đầu. Các bà thuở xưa có bà bị chồng duồng bỏ, nịch ái hầu thiếp, tuy bề trong uất ức đến cực điểm nhưng lúc nào cũng phải điềm đạm vui vẻ trước mặt đức lang quân để lấy đức mà hóa người chồng
       Phái thứ hai là phải mới thì thương hại và bênh vực cho thủ phạm và hi vọng thủ phạm trắng án hoặc kết án rất nhẹ. Phái này dựa vào mối tình chân thật của cô Cúc đối với tình nhân trong bao nhiêu năm. Vì mối tình đó mà Cúc đã hi sinh tất cả thân thể và cái quý nhất của một thiếu nữ là trinh tiết. Cúc đã quá yêu tình nhân, đem hết cả vốn liếng tư  cấp cho người tình  khỏi thiếu thốn trong  lúc còn là một học trò nghèo. Cúc lại còn tin vào lời thề trước đền Hàng Trống, một ngôi đền rất linh thiêng, thờ một vị linh thần chuyên  chủ trương về  ái tình nên đã yên trí từ bao giờ rằng  tình nhân không thể phụ bạc mình được . Trong cái óc non nớt và quá tin vào sự thần bí kia chỉ biết có tình nhân, chỉ nghĩ đến ông Huyện Nguyễn Xuân Trường mà cô đã hi sinh hết mọi thứ ở đời. Những người thương hại cho Cúc lại nghĩ đến sự phụ bạc của tình nhân cô, một người đã yêu vì tiền chứ không phải vì tình. Đã chơi hoa rồi lúc chán thì bỏ mặc cho hoa tàn nhị rữa, một tay chơi đã mấy cánh phù dung. Người ta đã nghĩ đến sự đau đớn uất ức của cô Cúc  khi bị tình nhân dày vò để tống tiền và nhất là khi biết tình nhân đã duồng bỏ mình để định lấy một thiếu nữ khác hợp hơn giàu có hơn. Thôi thế là hết cả một đời cái xuân xanh của người con gái đã qua không bao giờ trở lại nữa. Sự thất vọng của Cúc khi đó đã lên tới cực điểm.
       Trở về trên là ý kiến của 2 phái mới cũ và cái cảm tưởng của 2 phái với  cái tình cảnh  và sự hành động của cô Cúc. Nhưng Tòa Đại hình xử vụ này đâu có dựa vào dư luận mà chỉ bằng vào pháp luật. Trước khi kết luận, tòa đã xét hết cả những trường hợp trước và trong khi sảy ra vụ án mạng này. Tòa lại cần xét xem trong khi phạm tội giết người Cúc có đủ trí khôn chăng hay chỉ hành động dưới một dục vọng mãnh liệt và đã bị cảm xúc một cách quá đáng. Cúc có phải chịu hoàn toàn trách nhiệm mà cô đã gây ra chăng? Đó là câu hỏi mà các vị quan tòa và các vị bồi thẩm băn khoăn tìm câu giả lời trong  khi ngồi xử cô thiếu nữ yếu ở  kia.
       Sau khi Tòa kết án cô hai năm tù án treo, ở phòng án bước ra có người phụ nữ đã hỏi bà Tạ Thị Lan vợ cả của ông huyện Trường, kẻ bị giết:” Sao tòa lại xử nhẹ thế?” Tôi dám chắc trong người đi xem, nhiều người đồng ý với bà kia. Chắc các bà đã không để ý Tòa đã miễn nghị  cho cô Cúc tội cố ý sát nhân và cả tội ám sát mà chỉ xử cô về tội đâm chết người, một khinh tội có thể xử ở tòa tiểu hình và chỉ có thể kết án từ 6 tháng đến 2 năm tù. Quan tòa lại xét ra trong vụ này có trường hợp giảm đẳng nên mới cho  thủ phạm hưởng án treo.
        Trong khi ngồi xem xử vụ án vì tình này, nhiều người khác  chắc cũng như tôi để ý ( kiểm duyệt xóa)… những tiếng khóc nức nở đầy sự uất ức của cô (… kiểm duyệt xóa) Những tiếng khóc đố Luật sư Mayet bênh vực cho cô đã nói đến và viện ra để tỏ ra cô Cúc đã quá cảm  xúc và thất vọng vì tình mà sinh điên,  mất cả lương tri mà chính sự điên đó đã làm cho cô phạm tội. Luật sư Mayet đã nói: “ tôi đã dò xét để ý thiếu nữ có tấm linh hồn trong sạch và huyền bí kia, tôi đã cố hỏi cô nhiều lần trong nhà pha, trong phòng dự thẩm, ở nhà thương,  và trong phòng giấy của tôi, lúc nào tôi cũng chỉ thấy cô khóc nức nở không già lời ra tiếng. Mà thực thế, ngay trước vành móng ngựa cô Cúc vừa khóc vừa đáp lại câu hỏi của quan tòa, không mấy lúc là mắt cô ráo nước mắt. Một lần tôi đã gặp cô ở phòng quan dự thẩm Hà Nội đi về nhà pha Hỏa Lò, tôi nhận thấy mắt cô đỏ hoe và vẫn đầy, ngấn lệ. Có lẽ sau ngày I8tháng II, năm I938 cô phạm vào tội giết tình nhân, suốt I9 tháng cho đến khi cô bị đem ra tòa xử, cô Cúc đã khóc cho đến hết nước mắt, và có lẽ từ nay cho đến về sau cô sẽ còn khóc mãi, mỗi khi nghĩ đến lời thệ hải minh sơn và mối tình rất nặng của cô  cùng sự  phụ bạc của tình nhân. Luật sư Mayet đã kết luận lời cãi  cho cô bằng câu sau này:” Một người như thế không thể đem xử ở các tòa án mà chỉ nên đem chưa bệnh ở các bệnhviện, cô Cúc chỉ là người đáng thương không phải người đáng tội. Thủ phạm vụ này là người đã quá cố chúng tôi không muốn nói đến. Cô Cúc là một người bị hại về ái tình chứ không phải là người đã phạm một “ tội ác của văn minh” ( Creamede le civilization) như lời luật sư Tavernier bênh vực cho bên nguyên đơn đã nói."

(Bài chép lại nguyên văn trên báo nên có nhiều từ quy cách về chính tả hiện nay đã thay đổi)


Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

Tư liệu bản đồ của Phương Tây xác định Hoàng Sa-Trường Sa thuộc về Việt Nam


TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam

56 tấm bản đồ cổ do người phương Tây vẽ trong quá trình phát kiến hàng hải, giao thương, truyền giáo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương vừa được TS Trần Đức Anh Sơn (Đà Nẵng) và nhóm nghiên cứu sưu tầm, phát hiện đã tiếp tục khẳng định quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh công tác sưu tầm, phát hiện và nghiên cứu các nguồn tư liệu liên quan đến quá trình khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo trong lịch sử Việt Nam, từ đầu năm 2010, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng đã triển khai nghiên cứu đề tài Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa - Thành phố Đà Nẵng. Đề tài do tiến sĩ lịch sử Trần Đức Anh Sơn (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng kiêm Tổng biên tập Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng) làm chủ nhiệm đề tài, với nguồn kinh phí do UBND TP Đà Nẵng cấp.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được nghiệm thu vào tháng 12/2011 và chuyển giao cho UBND huyện Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) quản lý. Đề tài đã thiết lập một “font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, bao gồm những tư liệu đã được công bố từ trước đến nay và những tư liệu vừa được nhóm nghiên cứu tìm kiếm, sưu tầm trong thời gian thực hiện đề tài, liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa trong lịch sử, tập trung thành 4 thư mục: tư liệu văn bản, tư liệu hình ảnh, tư liệu bản đồ và tư liệu nghe nhìn.
Ngày 24/7, TS. Trần Đức Anh Sơn đã gửi cho báo điện tử Infonet bài viết giới thiệu những tấm bản đồ mà nhóm nghiên cứu đã sưu tầm và tập hợp trong thư mục tư liệu bản đồ của Font tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa - TP Đà Nẵng:
HOÀNG SA TRÊN NHỮNG TẤM BẢN ĐỒ CỔ CỦA PHƯƠNG TÂY
Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, ngoài việc tập hợp, sưu tầm các bản đồ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa có trong các nguồn thư tịch cổ đã được các học giả trong và ngoài nước sưu tầm và công bố trong những năm gần đây, nhờ mối liên hệ với các đồng nghiệp ở nước ngoài và nhờ sự hỗ trợ tích cực của Internet, chúng tôi đã sưu tầm được nhiều bản đồ do người phương Tây vẽ và xuất bản trong các thế kỷ XVI - XIX, có liên quan đến chủ đề này, để đưa vào “font tư liệu Hoàng Sa”.
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613
Đây là những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải do người phương Tây vẽ trong quá trình phát kiến hàng hải, giao thương, truyền giáo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có ghi nhận về lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam trong lịch sử.
Trên những tấm bản đồ này, quần đảo Hoàng Sa luôn được thể hiện bằng hình vẽ ở trong vùng biển Đông của nước ta, với kinh tuyến và vĩ tuyến khá chính xác, và được ghi danh là: Paracel Islands, Paracel, Paracels, Pracel, Parcels, Paracelso... tùy theo ngôn ngữ của từng nước phương Tây. Còn vùng bờ biển Quảng Nam - Quảng Ngãi, song song với quần đảo Hoàng Sa thì được ghi nhận là Costa da Paracel (bờ biển Hoàng Sa).“Đó là cách mặc nhiên thế giới nhận Hoàng Sa đích thực thuộc chủ quyền của Việt Nam ít nhất từ 5 thế kỷ nay” (nhận xét của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu).
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645
Theo nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, một chuyên gia hàng đầu về bản đồ cổ Việt Nam, thì ông đã sưu tập được 30 bản đồ cổ của phương Tây, có niên đại từ năm 1489 đến năm 1697, có thể hiện hình vẽ và địa danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Theo đó, “từ tấm bản đồ thứ 4 từ năm 1507 đều có ghi vẽ đất nước ta với biển Đông và quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Tùy theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ. Sau thấy bên Ấn Độ có thành phố tên là Cochin, nên người ta gọi nước ta là Giao Chỉ gần Chi Na và ghi thành Cauchichina, Cauchinchina, Cachuchina, Conchinchina, Cochinchina, Cochinchine... Lần đầu tiên trên bản đồ Frères Van Langren 1595, chúng ta thấy Đại Việt chia ra 2 miền: Đàng Ngoài được Tây phương ghi là Tungkin (Đông Kinh, tên thành Thăng Long từ 1430) và Đàng Trong được ghi là Cochinchina (Giao Chỉ gần Chi Na, 1 địa danh cũ chỉ toàn quốc Đại Việt)(Nguyễn Đình Đầu, Giới thiệu một số bản đồ cổ thềm lục địa và hải đảo Việt Nam, http://www.viet-studies.info).
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do Homann Heirs vẽ năm 1744
Điều này cho thấy là từ thế kỷ XVI, người phương Tây đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam khi vẽ và ghi chú các địa danh các quần đảo này trên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ.
Với 56 tấm bản đồ cổ phương Tây mà chúng tôi sưu tầm được, sự thật hiển nhiên này càng được thể hiện rất rõ. Ngoài việc thể hiện tọa độ địa lý của quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine..., trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa còn được còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn:
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Taberd vẽ năm 1838
- Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613, thể hiện quần đảo Pracel (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng;
- Bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645 thì quần đảo Pracel (Hoàng Sa) được vẽ nối liền với các đảo: Pulo Secca de Mare (Cù Lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh), Pullo Canton (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong);
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do Visscher vẽ năm 1680
- Bản đồ do Homann Heirs vẽ năm 1744 thì hình vẽ quần đảo Hoàng Sa được ghi chú là “I. Ciampa”, viết tắt của chữ “Islands Ciampa”, nghĩa là “quần đảo (thuộc vương quốc) Ciampa”Ciempa hay Campa là tên các nước phương Tây lúc bấy giờ gọi xứ Đàng Trong, do họ cho rằng đây là đất cũ của vương quốc Champa;
- Bản đồ do Van de Kusten vẽ năm 1754, có tên là Kaart van Cochinchine, van Tunquin (Bản đồ Đàng Trong, Đàng Ngoài), đã thể hiện toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những phần lãnh thổ thuộc vương quốc Cochinchine;
Phát hiện 56 bản đồ cổ phương Tây vẽ Hoàng Sa của Việt Nam
Bản đồ do Mariette vẽ năm 1790
- Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ: Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ: “Paracel seu Cát Vàng”, nghĩa là“Paracel hoặc là Cát Vàng”. Cũng chính Giám mục Taberd trong bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 cũng đã khẳng định: “Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa - Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina”. (James Prinsep, F.R.S. [Ed.], The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol. VI, Calcuta, 1837, p. 745).
Theo nhiều sử liệu cổ của Việt Nam, từ trước thế kỷ XVI, người Việt đã đặt chân đến vùng đảo, đá ngầm, bãi ngầm ở giữa biển Đông, mà họ đặt tên là Bãi Cát Vàng (�� 葛 鐄) hay Cồn Vàng (�� 鐄). Còn trong các nguồn sử liệu của Việt Nam viết bằng chữ Hán thì địa danh Bãi Cát Vàng được ghi bởi nhiều chữ khác nhau như: Hoàng Sa Châu (黃 沙 洲), Hoàng Sa Chử (黃 沙 渚), Hoàng Sa (黃 沙). Đó chính là quần đảo Hoàng Sa ngày nay.
Những bản đồ cổ phương Tây do chúng tôi sưu tầm và tập hợp trong “font tư liệu Hoàng Sa” có niên đại trải dài hơn 3 thế kỷ, từ những bản đồ được vẽ rất sớm, như bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560, bản đồ do Gerard Mercator vẽ vào nửa sau thế kỷ XVI, bản đồ do Giovanni Botero vẽ vào đầu thế kỷ XVII..., cho đến những bản đồ được vẽ vào cuối thế kỷ XIX như: bản đồ Indochina vẽ năm 1886, bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891… đều có thể hiện bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết vị trí của quần đảo Hoàng Sa với nhiều tên gọi khác nhau, ở trong vùng biển của nước ta. Điều này chứng tỏ từ thế kỷ XVI, nhiều người phương Tây đã biết đến vùng biển đảo Hoàng Sa và đã ghi nhận quần đảo này là một phần lãnh thổ của Việt Nam (mà bấy giờ họ gọi là Cochinchine, Cochinchina, Annam…)
Như vậy, ngoài những sự kiện lịch sử đã được chứng thực, cùng với các nguồn tư liệu thành văn với nhiều ngôn ngữ khác nhau, thì những tấm bản đồ cổ của phương Tây nói trên đã góp phần chứng minh rằng từ hơn 5 thế kỷ trước, Việt Nam đã xác lập chủ quyền quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa). Chủ quyền này đã được các nhà bản đồ học, các nhà hàng hải, nhà phát kiến địa lý... phương Tây thừa nhận và ghi dấu lên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ.
Vì thế, những tấm bản đồ này là những tư liệu quý, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa), mà hiện nay đang có một số quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền.
56 bản đồ cổ phương Tây trong ”Font tư liệu Hoàng Sa”
Bản đồ do Gerard Mercator (1512 - 1594) vẽ; Bản đồ Giovanni Botero (1540 - 1617) vẽ; Bản đồ do Giovanni Antonio (1555 - 1617) vẽ; Bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560; Bản đồ do Petrus Bertius (1565 - 1629) vẽ; Bản đồ do Abraham Ortelius vẽ năm 1580; Bản đồ do Fernao Var Dourado vẽ năm 1590; Bản đồ do Gerard de Jode vẽ năm 1593; Bản đồ do Petrus or Pieter vẽ năm 1594; Bản đồ do Van der AA vẽ năm 1594; Bản đồ do Van Lanngren vẽ năm 1595; Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613; Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613; Bản đồ do Willem Janszoon Blaeu vẽ năm 1617; Bản đồ do John Speed vẽ năm 1626; Bản đồ do Orientalis Oceanus Mercator vẽ năm 1630; Bản đồ do Insulae Indiae vẽ năm 1632; Bản đồ do Janssouius vẽ năm 1632; Bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1633; Bản đồ do Van Lochem vẽ năm 1640; Bản đồ do Janssouius vẽ năm 1645; Bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645; Bản đồ do Vincenzo Maria Coronelli vẽ năm 1650; Bản đồ Oost Indien vẽ năm 1660; Bản đồ do F. De Wit vẽ năm 1662; Bản đồ do Guillaume Delisle (1675 - 1726) vẽ; Bản đồ do Visscher vẽ năm 1680; Bản đồ do Van Keulen (1680 - 1735) vẽ; Bản đồ do Emanuel Bowen (1693 - 1767); Bản đồ do Alexis Hubert Jaillot vẽ năm 1696; Bản đồ do VOC Octrooigebied vẽ năm 1700; Bản đồ do Jacques Nicolas Bellin (1703 - 1772) vẽ; Bản đồ do Jacques Nicolas Bellin (1703 - 1772) vẽ; Bản đồ do Ottens vẽ năm 1710; Bản đồ do Alexis Hubert Jaillot vẽ năm 1720; Bản đồ do Seutter vẽ năm 1720; Bản đồ do Homann Heirs vẽ năm 1744; Bản đồ do S. Van Esveldt vẽ năm 1745; Bản đồ do Jean Baptiste d'Anville vẽ năm 1752 ; Bản đồ do Van Keulen vẽ năm 1753; Bản đồ Cochinchine Tunquin do Van de Kusten vẽ năm 1754; Bản đồ l'islle de Buache vẽ năm 1779; Bản đồ do Clouet Mondahare vẽ năm 1785; Bản đồ do Mariette vẽ năm 1790; Bản đồ do Bowen & Gibson vẽ năm 1792; Bản đồ do Abbé vẽ năm 1806; Bản đồ do J. Carry vẽ năm 1811; Bản đồ do John Thomson vẽ năm 1814; Bản đồ do John Thomson vẽ năm 1817; An Nam đại quốc họa đồ do giám mục Taberd vẽ năm 1838; Bản đồ Greenleaf East India vẽ năm 1843; Bản đồ vẽ năm 1876; Bản đồ Indochina vẽ năm 1886; Bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891; Bản đồ do Bartholomen Velho vẽ (không rõ năm vẽ) và Bản đồ India Orient (không rõ tác giả và không rõ năm vẽ).
TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Giới thiệu Nhật kí Lê Anh Xuân


         Vào những ngày cuối năm 1964, có một giảng viên sử học của Đại học Tổng hợp Hà Nội cùng đoàn cán bộ gồm các ngành văn hoá, giáo dục, y tế, điện ảnh… lên đường vào Nam. Trong đoàn cán bộ dân sự đi B năm ấy, anh thuộc số trí thức tình nguyện cầm súng lên đường nhưng không phải “xếp lại bút nghiên”. Ba lô vào trận của anh nặng vì sách giáo trình, chuyên luận. Anh lên đường với tư cách một nhà sư phạm, một nhà sử học để cùng các chuyên gia trong đoàn đảm nhận một trọng trách chung, là: Phát triển giáo dục cho các địa phương vùng giải phóng và xây dựng đội ngũ giảng viên cho một trường đại học chuẩn bị thành lập trên căn cứ địa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nhiều người nhận ra anh. Đó là Ca Lê Hiến – tác giả bài thơ Nhớ mưa quê hương, năm 1960 đã đoạt giải Nhì cuộc thi thơ báo Văn Nghệ.
        Con đường đi bộ vượt Trường Sơn vào Nam cheo leo, trùng điệp nhưng chính là con đường trở về quê mẹ. Cuộc chiến đấu gian lao và hi sinh phía trước buộc mỗi người phải chọn một mật danh hoặc một bút danh và anh đã chọn Lê Anh Xuân làm bút danh cho mình.
        Là người con của quê hương Bến Tre, theo cha tập kết ra Bắc, được học hành, đào tạo chu đáo, Lê Anh Xuân rất sớm trưởng thành. Tốt nghiệp khoa Lịch sử, anh được giữ lại trường, trong bộ môn Lịch sử thế giới. Là một cán bộ giảng dạy trẻ, thông minh, tài hoa thiên bẩm, anh đã được Nhà nước chọn đi nghiên cứu sinh nước ngoài. Con đường thành đạt cá nhân và một sự nghiệp khoa học đã mở ra thênh thang trước mặt, nhưng Lê Anh Xuân lại từ chối. Anh chọn con đường thứ hai bí mật vượt Trường Sơn, trở về quê mẹ. Đường ra trận, trong lòng anh, đã thành con đường hội tụ của hai tình yêu lớn: Tình yêu quê hương và tình yêu đất nước.
          Năm 1965, Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, châm ngòi cho một cuộc chiến tranh cục bộ hết sức khốc liệt. Cục diện chiến trường thay đổi, Trung ương Cục Miền Nam quyết định gác lại kế hoạch xây dựng trường đại học. Từ Tiểu ban Giáo dục, Lê Anh Xuân chuyển sang Tiểu ban Văn nghệ, bắt đầu làm việc với tư cách một nhà báo, một phóng viên mặt trận.
         Khát khao cống hiến, khát khao khám phá hiện thực và sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ không chịu ngồi yên trong căn cứ địa. Anh tìm mọi cơ hội tham gia các trận đánh, không bằng lòng với chỗ đứng an toàn, tuy rất chính đáng của một nhà thơ. Anh không muốn chỉ làm người đứng ở đằng xa, làm chứng nhân lịch sử.Từ năm ấy, những nẻo đường giao liên, những lòng thông hào chiến trận bắt đầu in dấu giày nhà báo Bến Tre yêu nước. Nhờ cảm quan sử học và trái tim thi sĩ, Lê Anh Xuân nắm bắt được rất nhanh cái chiều sâu triết học và chiều sâu thơ ca của hiện thực cách mạng miền Nam. Viết báo, làm thơ, viết kí, kể chuyện các anh hùng, bút danh Lê Anh Xuân đã thành cái tên quen thuộc, yêu thương đối với độc giả Tạp chí Văn nghệ giải phóng và đồng bào hai miền Nam, Bắc. Các tập thơ Tiếng gà gáy (1965), Không có đâu như ở miền Nam (1965), trường ca Nguyễn Văn Trỗi (1968) tập truyện kí Giữ đất, các bài thơ sau này in trong tập Hoa dừa (1971)… đã làm đồng bào và chiến sĩ cả nước xúc động và nhận ngay ra phong cách của một tài năng đã từng báo hiệu qua Nhớ mưa quê hương năm xưa. Lê Anh Xuân vẫn rong ruổi trên các nẻo đường chiến trận. Các bài thơ Dừa ơi, Về Bến Tre, Trở về quê nội, Không đâu như ở miền Nam… liên tục được phát trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đã lay động tâm hồn đồng bào, chiến sĩ cả nước.
          Năm 1968, Lê Anh Xuân lên đường, bước vào đợt II của chiến dịch Tổng tấn công Mậu Thân. Trước khi xuất phát, anh gửi lại cho Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Giải phóng một bài thơ anh đã thức viết thâu đêm. Đó là bài thơ viết về cái chết anh hùng, hiên ngang và bi tráng của một chiến sĩ vô danh trên sân bay Tân Sơn Nhất: Bài thơ Dáng đứng Việt Nam.
         Thật đau lòng, tác giả đã không bao giờ trông thấy bài thơ của mình in trên mặt báo nữa. Ngày 24 tháng 5 năm 1968, Lê Anh Xuân đã hi sinh trên mặt trận phía tây Sài Gòn.
        Lê Anh Xuân ra đi nhưng Dáng đứng Việt Nam của anh ở lại. Bài thơ nhanh chóng trở thành bài ca yêu thích đầu lòng của lớp lớp những người cầm súng. Khi hình dung, tưởng tượng về người giải phóng quân hi sinh trong tư thế đứng bắn ở đường băng, ra đi không để lại tên tuổi…, nhiều cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đồng khoa thuộc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lại tưởng nhớ tới dáng người thanh mảnh, khuôn mặt tươi sáng của thầy Ca Lê Hiến năm nào trên đất Bắc. Vì Tổ quốc cần, anh đã gác lại một sự nghiệp khoa học. Nhưng bù vào đó anh đã tạo cho mình một sự nghiệp thi ca. Và điều quan trọng nhất, là bằng thơ ca và bằng tấm gương chiến đấu hi sinh, anh đã góp mình “làm nên lịch sử”. Nửa thế kỉ qua, trong tâm niệm của hàng triệu học sinh, sinh viên và độc giả thơ Việt Nam, Lê Anh Xuân là một anh hùng.
         Để tri ân và lưu giữ những kỉ vật tinh thần vô giá của các liệt sĩ vốn là cán bộ, sinh viên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm xưa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã xuất bản cuốn Còn lại với thời gian. Trong danh sách tiểu sử và các trang văn liệt sĩ, bên cạnh các tên tuổi: Nhà văn, Anh hùng LLVT – Liệt sĩ Chu Cẩm Phong, Nhà báo – Liệt sĩ Hồng Tân (người hi sinh bên cạnh Lê Anh Xuân), Nhà thơ – Liệt sĩ Nguyễn Trọng Định, Nhà thơ – Liệt sĩ Vũ Dũng … tên tuổi Lê Anh Xuân đã khai trang, sáng lên với tư cách một nhà giáo – nhà thơ chiến trận.
         Ngày 18 tháng 5 năm 2011, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức cuộc toạ đàm về cuộc đời và sự nghiệp Lê Anh Xuân. Tại diễn đàn văn hoá và thi ca này, cán bộ và sinh viên Nhà trường rất xúc động và phấn khởi khi biết tin Thành uỷ và UỶ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Thành phố xây dựng hồ sơ để đề nghị Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho Liệt sĩ Lê Anh Xuân.
        Cũng chính từ cuộc toạ đàm này, những trang nhật kí của Lê Anh Xuân, qua giọng đọc của nhà giáo, NSUT Ca Lê Hồng (người chị gái của Liệt sĩ) đã làm hội trường xúc động. Các cán bộ khoa học, cán bộ giảng dạy, sinh viên và Lãnh đạo nhà trường ý thức ngay rằng, Nhật kí Lê Anh Xuân là một kỉ vật vô giá. Công việc được khẩn trương triển khai. Nhờ những nỗ lực sưu tầm, tìm kiếm, liên lạc của Hội Cựu chiến binh, của Ban Giám hiệu Nhà trường, nhờ sự hợp tác giúp đỡ của gia đình Liệt sĩ, của Bảo tàng tỉnh Bến Tre, bản thảo Nhật kí Lê Anh Xuân đã lên khuôn chữ ấn loát. Việc xuất bản Nhật kí là đáp ứng nguyện vọng, mong mỏi chung của nhiều cơ quan văn hoá, khoa học, các tổ chức chính quyền địa phương và độc giả yêu thơ cả nước.
         Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tình nguyện xuất bản cuốn nhật kí này. Ngoài mục tiêu giới thiệu một di sản văn hoá – tư tưởng, đối với Nhà xuất bản, cuốn sách còn có ý nghĩa như một sự tri ân đồng nghiệp. Bởi vì Tạp chí Văn nghệ Giải phóng, nơi nhà thơ Lê Anh Xuân làm việc, chính là tổ chức văn hoá tiền thân của Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay.
        Trong lần xuất bản này, chúng tôi chưa thật yên tâm về phương diện văn bản học. Lí do là vì trong nguyên bản Nhật kí còn rất nhiều quãng thời gian bỏ trống (có thể do cuộc chiến đấu căng thẳng mà việc ghi nhật kí bị gián đoạn hoặc cũng có thể những khoảng thời gian này được ghi ở những cuốn sổ khác?). Bên cạnh đó, còn khá nhiều câu chữ tác giả viết theo kiểu kí hiệu, không thể giải mã. Khi ghi nhật kí, tác giả không thể biết những chuyện riêng tư, “độc thoại” của mình lại có ngày ra ngoài ánh sáng, thành chuyện chung cho triệu người cùng biết. Tuân thủ quy luật đặc thù của thể loại nhật kí và tôn trọng tính chân thực của nguyên tác, chúng tôi đề nghị Nhà xuất bản giữ nguyên nội dung hiện trạng.
        Nhân dịp Nhật kí Lê Anh Xuân ra mắt bạn đọc, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn xin trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Văn hoá văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vì sự thịnh tình hợp tác, chân thành cảm ơn gia đình Liệt sĩ đã hết sức giúp đỡ, cảm ơn sự phối hợp, hỗ trợ thông tin và các tư liệu lịch sử của các nhà văn: Anh Đức, Lê Văn Thảo, Viễn Phương, Từ Sơn, Lê Quang Trang, đặc biệt là các cán bộ Bảo tàng Bến Tre – tỉnh Bến Tre trong quá trình biên tập cuốn sách này.
       Nhân dịp xuất bản cuốn nhật kí, chúng tôi thiết tha mong mỏi tiếp tục được nhận về phòng Truyền thống Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội) các kỉ vật, ảnh lưu niệm, các trang văn di cảo của Liệt sĩ Lê Anh Xuân có thể còn đang được lưu giữ rải rác trong sổ tay các nhà văn, nhà báo và các đồng chí, đồng nghiệp cùng công tác, chiến đấu với Liệt sĩ năm xưa.
        Trong khi chờ đợi cơ hội sẽ được bổ sung thêm những tư liệu và những trang nhật kí mới, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn xin trân trọng giới thiệu Nhật kí Lê Anh Xuân với các cán bộ, sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn đọc gần xa.
Hà Nội, nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam năm 2011
Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, Hội Cựu chiến binh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Vụ án báo chí đã làm thay đổi tình hình báo chí Việt Nam thời thuộc địa


Đặng Thị Vân Chi  ( biên soạn và giới thiệu).
Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Ngày 6/6/1884, Triều đình Huế ký bản Hiệp ước Patenotre chính thức thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Viêt Nam. Theo điều ước này, Việt Nam bị chia thành 3 vùng với 3 chế độ chính trị khác nhau. Năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm Việt Nam và và Campuchia. năm 1899 Lào được sát nhập vào Liên bang Đông Dương. Về thể chế chính trị ở Đông Dương có 3 loại hình: thuộc địa ( Nam kì), Bảo hộ ( Bắc kì, Trung kì, Campuchia và Lào), lãnh địa thuê ( Quảng Châu loan). Tuy nhiên toàn bộ Đông Dương được đặt trong phạm trù thuộc địa, thuộc Bộ Hải quân và  Thuộc địa. Năm 1894, khi Bộ Thuộc địa được thành lập, Đông Dương thuộc Bộ Thuộc địa. Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
Năm 1881, Luật Báo chí được ban hành ngày 29/7 . Theo các điều 5,6,7 của đạo luật này thì báo chí dù xuất bản bằng tiếng Pháp hay tiếng bản xứ đều tự do, ( không cần xin phép trước, không phải nộp tiền kí quỹ) ngoài việc viên quản lý báo có quốc tịch Pháp và đã thành niên. Điều 10 của đạo luật này cũng cho phép áp dụng đạo luật này tại chính quốc và các xứ thuộc địa như Angieri và Nam kì.
Ngày 30/12/1898, Toàn Quyền Đông Dương ra Sắc lệnh báo chí buộc tất cả các báo Tiếng Việt, tiếng Hoa và các tiếng khác phải có giấy phép trước khi xuất bản và chịu sự kiểm duyệt chặt chẽ của bộ máy chính quyền (*)
Dưới đây là một bài báo đăng trên báo Việt báo . Bài báo này đã tường thuật lại một vụ án báo chí đã làm thay đổi tình hình báo chí Việt Nam trong những năm 1936-1939. Nhờ sự kiện này, báo chí ở Sài Gòn được xuất bản tự do, đây là cơ hội cho báo chí của Đảng Cộng sản được phát hành công khai. Số tờ báo được phát hành trong thời kì này tăng lên so với trước. Theo Lịch sử báo chí của Đỗ Quang Hưng (CB) thì tới năm 1936 có 180 tờ báo mới ra đời, cùng với khoảng 30 tờ báo có từ trước tiếp tục xuất bản thì năm 1936 có tất cả 210 tờ báo. Cuối năm 1936 tăng lên 277 tờ, năm 1937 là 289 tờ, và năm 1938 là 308 tờ. Nhiều tờ báo của Đảng Cộng sản được phát hành công khai trong thời kì này đã góp phần tạo nên phong trào đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh , một bước chuẩn bị quan trọng cho sự thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Dưới đây là toàn văn bài báo .
Đứng về mặt pháp luật các báo quốc ngữ ở Nam Kì đã được tự do xuất bản.
Sau khi tòa thượng thẩm tha bổng ông Cendrieux, chủ nhiệm báo Dân quyền:


Sáng thứ ba Tòa phúc án Sài gòn đã tuyên án về vụ báo Dân quyền và ông Cendrieux, chủ nhân của báo ấy được trắng án.Vụ án Dân quyền chắc bạn đọc vẫn còn nhớ, vì bản báo cũng như các báo hàng ngày đã tường thuật khi vụ ấy đem ra xử tại Tòa tiểu hình.

Tờ báo Dân quyền của ông Cendrieux bị thu giấy phép. Song ông không chịu thôi, ông cứ mạnh dạn cho báo xuất bản như thường. Sở Mật thám hay tin ấy liền tới thu hết tờ báo mà ông Cendrieux đã in ra sau khi bị cấm.
Ông Cendrieux bị quan Biện lý truy tố. Năm ngóai, vụ án Dân quyền đã đem ra xử ởtại Tòa Tiểu hình.
Trạng sư Couget bênh vực cho bị cáo nhân cãi rằng thân chủ của ông đã đứng trong phạm vi luật pháp mà cho xuất bản tờ Dân quyền. Theo đạo luật 1881 về báo chí thì muốn xuất bản một tờ báo khỏi phải xin phép trước, chỉ cần khai với Tòa án trước 24 giờ, Đạo luật ấy cũng có khoản nói rằng cho đem thi hành ở thuộc địa.
Song ở Đông Dương, chính phủ có ra Đạo sắc lệnh năm 1898 buộc báo chí quốc ngữ trước khi xuất bản phải xin phép trước. Báo chí quốc ngữ bấy lâu đều theo sắc lệnh ấy.
Song một Đạo sắc lệnh không thể ngăn cản được một đạo luật, tòa Phá án bên Pháp đã công nhận điều ấy trong vụ án về tờ báo Opinion ở Madagascar, chủ nhiệm tờ báo này đã in một tờ phụ trương bằng tiếng bản xứ và bị truy tố tại Tòa án ở Madagascar. Ông ấy bị án và chống sang Tòa Phá án thì tòa này bác bản án đã xử ở Madagascar. Vậy là ông chủ nhiệm báo Opinion kia có quyền ra báo bằng chữ bản xứ và chỉ theo luật năm 1881 mà không Đạo sắc lệnh nào cản trở được.
Trạng sư Couget đem những luật chứng trên này ra mà bênh vực cho báo Dân quyền.
Thế rồi, Tòa Tiểu hình hoãn đến 5, 6 lần mới tuyên án phạt ông Cendrieux 25 quan tiền phạt vạ.
Ông chủ nhiệm báo Dân quyền chống án lên Tòa Phúc án thì phiên tòa bữa qua do ông Larrigues làm Chánh án và ông Vidil ngồi ghế Chưởng lý đã cho ông Cendrieux được trắng án.
Vụ án Dân quyền rất quan trong cho sự tự do ngôn luận ở xứ Nam kỳ.
Ai cũng phải trú ( chú) ý đến vì nó sẽ giải quyết vấn đề: báo chí thuộc địa có được hưởng đạo luật 1881 không?
Tòa Phá án cho ông Cendrieux trắng án tức là đã công nhận rằng đạo sắc lệnh 1898 không có hiệu lực ở xứ thuộc địa, nó không ngăn cản được đạo luật 1881. Pháp luật đã cho báo Dân quyền là vô tội, tức là đã công nhận cái nguyên tắc: bất kì tờ báo nào xuất bản ở Nam Kỳ đều được hưởng đạo luật 1881.
Đối với vụ án này anh em làng báo nghĩ sao? Chúng ta có nên hưởng cái quyền mà chúng ta được hưởng? Cái quyền mà bấy lâu chúng ta nhầm tưởng là chúng ta không có.
* Xem thêm ở đây. http://chuyencuachi.blogspot.com/2011/06/bao-chi-viet-nam-thoi-thuoc-ia-nhan.html

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam


Báo Đại đoàn kết ngày 20/7/20II
Nguồn :


Gần đây Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 
Đảo Núi Le thuộc quần đảo Trường Sa
Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:
"Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.
Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của VNDCCH ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan. Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ XX, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ XX đã nằm trong chiến lược "lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.
Ngày 26-5-1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3-9-1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất. Ngày 11-8-1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ "giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Ngày 12-9-1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23-8-1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.
Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH –Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước VNDCCH – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích "sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã "lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của VNDCCH trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.
 
Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng VNDCCH thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên. Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ VNDCCH ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ VNDCCH chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.
 
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4-9-1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ VNDCCH trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế. Trong khi đó, Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
 
 
Bức Công hàm ngày 14-9-1958 của
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa
 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký
Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do. Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho VNDCCH. Nội dung Công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa VNDCCH và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước VNDCCH lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của VNDCCH xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết "estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.
Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại "estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại "estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án "Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án "Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án "Ngôi đền Preah Vihear”...
Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của VNDCCH, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của VNDCCH. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.
Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ "nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu "miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”.
Nhóm PV Biển Đông

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

VUA LÝ ANH TÔNG, CHIẾN LƯỢC BIỂN VÀ HÀNH DINH TRẠI YÊN HƯNG


Gần đây trên báo chí và đâu đó có dư luận rằng VN có tâm lý " xa rừng né biển", không có chiến lược khai thác tài nguyên biển, có thực như vậy không? Tôi xin được giới thiệu bài viết này của tác giả Nguyễn Quang Ngọc trong loạt bài đã giới thiệu trước đây về chủ đề này để bạn đọc tham khảo và suy ngẫm. Chi)

http://chuyencuachi.blogspot.com/2011/06/chu-quyen-cua-viet-nam-o-hoang-sa-va.html
 Nguyễn Quang Ngọc
  (Bài tham luận trình bày trong Hội thảo Quảng Yên và đã đăng trên tạp chí NCLS)

       Việt Nam là đầu cầu nối liền Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, là giao điểm của các nền văn hóa, văn minh lớn của Thế giới. Việt Nam nằm trên đường hằng hải quốc tế từ Tây sang Đông, từ Nam lên Bắc nên giữ một vị thế địa - chính trị, địa - kinh tế và địa - văn hóa hết sức đặc biệt.
Kết quả khai quật và nghiên cứu Khảo cổ học ở Việt Nam một thế kỷ qua đã xác định được khá rõ ràng những lớp cư dân cổ từ trong các vùng nội địa liên tục tiến ra khai phá, sinh cơ lập nghiệp và làm chủ các vùng đảo, quần đảo ngoài Biển Đông.
Bắt đầu từ khoảng Hậu kỳ Đá cũ và nhất là từ Sơ kỳ Đá mới (khoảng từ 25.000 năm đến 18.000 năm cách ngày nay) đã có những bộ phận cư dân từ lục địa tiến ra chiếm lĩnh các đảo, quần đảo ở khu vực Đông Bắc. Họ định cư tại đây khai phá đất đai, dựng nhà, lập làng và để lại các di tích, di vật thuộc thời đại Đá cũ ở Cồn Cỏ, Quảng Trị, thuộc thời đại Đá mới (các văn hóa Hòa Bình, Soi Nhụ, Đa Bút, Hạ Long, Bàu Tró) trên dải đảo, quần đảo chạy dài từ Móng Cái cho đến Bắc Trung Bộ và văn hóa sơ kỳ Kim khí (văn hóa Hoa Lộc) thuộc khu vực bờ biển Thanh Hóa, Nghệ An. Sự hiện diện của các nền văn hóa khảo cổ ở đây với số lượng, quy mô các di tích như vậy chứng tỏ số lượng người di cư ra các vùng biển đảo không nhỏ và ngay từ đó họ đã thuộc nhiều nhóm người, nhiều lớp người khác nhau.
Không phải ngẫu nhiên, trận đánh lịch sử kết thúc 1000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho dân tộc Việt Nam lại diễn ra ở vùng cửa sông Bạch Đằng vào những ngày cuối năm 938. Trận thắng này mở ra truyền thống Bạch Đằng, truyền thống thủy chiến, nghệ thuật tiêu diệt thật nhanh chóng và triệt để các đoàn quân xâm lược hùng mạnh ở địa đầu sông biển của Tổ quốc chỉ trong vòng một con nước triều. Cũng từ sau chiến công kỳ diệu này, các nhà nước độc lập Việt Nam từ Ngô, Đinh, Tiền Lê cho đến Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê-Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn luôn luôn ý thức một cách đầy đủ tầm quan trọng của biển, hải đảo và hầu như triều đại nào cũng đều có chiến lược đối với các vùng biển đảo. Tiếc rằng sử sách đời xưa ghi chép quá cô đọng nên dù có cố gắng đến mấy, chúng ta cũng không thể nhận ra được một cách chính xác những hoạt động của các chính quyền độc lập đầu tiên trên lĩnh vực này. Mãi đến thời Lý, đặc biệt vào thời vua Lý Anh Tông mới thấy sử cũ chép về các hoạt động của nhà vua và triều đình ở các vùng biển đảo hay có liên quan đến các vùng biển đảo.
Trong bài viết này, chủ yếu dựa vào nguồn tài liệu thư tịch cổ, chúng tôi bước đầu xác định thời kỳ vua Lý Anh Tông (1138-1175) là thời điểm mở đầu của các nhà nước Việt Nam xây dựng và thực thi các chiến lược của Vương triều mình đối với vùng biển đảo thiêng liêng và máu thịt của Tổ quốc.

1. Vua Lý Anh Tông và chiến lược đối với các vùng biển đảo
Lý Anh Tông là vị vua thứ 6 Vương triều Lý, sau Lý Thái Tổ (1009-1028), Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý Nhân Tông (1072-1127) và Lý Thần Tông (1127-1138). Ông sinh tháng 4 năm Bính Thìn (1136), lên ngôi Hoàng đế tháng 10 năm Mậu Ngọ (1138), khi mới chưa tròn 3 tuổi, ở ngôi 37 năm, mất tháng 7 năm Ất Tỵ (1175), thọ 40 tuổi.
Đánh giá về sự nghiệp của Lý Anh Tông cho đến nay trong giới sử học cũng còn có những ý kiến khác nhau về từng lĩnh vực cụ thể, nhưng trên tổng thể đều thống nhất khẳng định thời kỳ Lý Anh Tông trị vì vẫn nằm trong giai đoạn phát triển và thịnh đạt của Vương triều Lý. Trong thời kỳ trị vì của Lý Anh Tông, toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải của đất nước được giữ vững, vị thế của quốc gia Đại Việt, của Vương triều Lý được đề cao, đúng như sử gia Ngô Thì Sĩ thế kỷ XVIII ca ngợi: “Nghi thức khác thường, điển lễ long trọng, hàng mấy ngàn năm về trước chưa từng có. Công gây dựng nước thực bắt đầu từ vua Anh Tông có thể nói là tốt đấy[1].   
Các tư liệu và sự kiện lịch sử dưới đây chính là những minh chứng cho một chiến lược tương đối đầy đủ và hệ thống của triều đình Lý Anh Tông đối với các vùng biển đảo, từ việc xây dựng các cơ sở quản lý, tổ chức các đội tầu thuyền cho đến việc tiến hành kiểm tra, kiểm soát, xác định ranh giới trên biển, bảo vệ dân chúng và mở rộng các quan hệ giao thương buôn bán với tầu thuyền ngoại quốc…
- Tháng 10, năm 1147 Lý Anh Tông cho “dựng hành dinh ở trại Yên Hưng[2].
- Tháng 2, năm 1149 nhân việc thuyền buôn 3 nước Trảo Oa (Java, Indonesia), Lộ Lạc và Xiêm La (đều thuộc Thái Lan ngày nay) vào Hải Đông xin cư trú buôn bán, vua Lý Anh Tông “bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương[3].
- Tháng 11, năm 1161 Lý Anh Tông “sai Tô Hiến Thành làm Đô tướng, Đỗ An Di làm phó, đem 2 vạn quân đi tuần các nơi ven biển Tây Nam, để giữ yên miền biên giới. Vua thân đi tiễn đến cửa biển Thần Đầu ở Đại An (nay là cửa biển Thần Phù) mới trở về[4].
- Tháng 2, năm 1171 “Vua đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân đinh đau khổ và đường đi xa gần thế nào[5].
- Tháng 2, năm 1172 “Vua đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ ghi chép phong vật rồi về[6].
- Thời Lý Anh Tông, nhà vua liên tục cho đóng thuyền lớn tham gia vào việc kiểm tra, kiểm soát, khai thác và bảo vệ các vùng sông nước, biển đảo như đóng 2 thuyền Vĩnh Long, Thanh Lan và 2 thuyền lớn Trường Quyết, Phụng Tiên (1147); đóng 2 thuyền Vĩnh Diệu, Thanh Lan (1151); đóng thuyền Vĩnh Chương (1154); đóng thuyền to bản của ngự trù, thuyền to bản của cung nội (1156); đóng thuyền Nhật Long (1167) và đóng thuyền Ngoạn Thủy (1173)[7]
            Chắc chắn vì những thành công của các chính sách này mà triều đình nhà Tống đã phải phong cho Lý Anh Tông làm An Nam Quốc Vương và chính thức công nhận nước ta là An Nam Quốc[8]. Ngô Thì Sĩ đã hoàn toàn có lý khi cho rằng thời vua Lý Anh Tông trị vì: “luyện binh giảng võ, chọn tướng sai sứ khiến cho Chiêm Thành phải giữ lễ phiên thần, nhà Tống phải phong là nước lớn, triều đình sáng sủa, biên giới yên lành, hầu như đem lại được nền thịnh trị như thời Thái Tông, thời Nhân Tông[9] và “nếu không phải là người rất sáng suốt, rất anh dũng thì không được như vậy[10].

2. Hành dinh trại Yên Hưng và vị trí của nó trong chiến lược biển
            Công việc quan trọng đầu tiên của vua Lý Anh Tông (và cũng có thể được coi là của cả Vương triều Lý) đối với các vùng biển đảo là đặt ra hành dinh ở trại Yên Hưng[11] như là một cơ quan quản lý của triều đình trung ương đối với cửa ngõ yết hầu sông nước quan trọng nhất của đất nước, cũng như toàn bộ các vùng biển đảo của quốc gia Đại Việt nói chung.
Trại Yên Hưng có quy mô và vị trí như thế nào cũng là vấn đề cần phải bàn. Dưới thời Lý, hệ thống hành chính ở các địa phương có 24 lộ (tuy nhiên hiện nay cũng không có tài liệu xác định được đầy đủ cả tên gọi và vị trí của 24 lộ này). Ngoài lộ ra còn có phủ, ở miền núi hay các miền xa xôi còn có các đạo, châu, trại. Bên dưới các phủ, châu, trạihương, giáp… Thật không thể hình dung trại Yên Hưng ở đây lại tương đương với các lộ, phủ giống như các vùng châu Hoan, châu Ái. Chúng tôi cũng không nghĩ quy mô của trại Yên Hưng chỉ như một xóm nhỏ của một đơn vị thôn làng đang hình thành sau này. Sử cũ cũng từng nhiều lần nhắc đến tên trại Yên Hưng như việc đất này từng được Trần Thái Tông cắt ban cho An Sinh Vương Trần Liễu (cha đẻ của Trần Hưng Đạo) vào năm 1237[12]; hay một vùng làng quê trù phú, một cứ điểm mạnh trấn giữ vùng quan ải Bạch Đằng mà sau khi không đón được thuyền lương của Trương Văn Hổ, Ô Mã Nhi đã cho đánh vào trại Yên Hưng vừa để cướp lương thảo về nuôi đội quân đang chết đói ở Vạn Kiếp, vừa triệt phá một cơ sở quân sự trọng yếu của nhà Trần[13]. Theo chúng tôi, trại Yên Hưng tuy không lớn như một đơn vị hành chính ngang với cấp phủ, lộ, nhưng cũng không phải là đơn vị hành chính cấp cơ sở, mà chỉ là tập hợp một số các đơn vị cư trú cả dân sự và quân sự ở khu vực tương đương với các xã Yên Hưng, Quỳnh Lâu tổng Hà Bắc trước đây[14]. Về vị trí của trại Yên Hưng, bản dịch các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên đều thống nhất chú giải “nay là đất huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh”, hay nói một cách cụ thể hơn tức là đất thị trấn Quảng Yên và các xã phụ cận như Yên Giang, Cộng Hòa huyện Yên Hưng.
Thời Lý, để tăng cường cho triều đình kiểm tra, quản lý các địa phương trọng yếu, nhà Lý còn đặt ra các hành cung, hành dinh phủ đệ. Sau hành dinh ở trại Yên Hưng dựng năm 1147, liên tục trong các năm 1154, 1155, 1156, Lý Anh Tông cho dựng các hành cung Ứng Phong ở Nam Định, hành cung Lỵ Nhân ở Hà Nam, hành cung Ngự Thiên ở Thái Bình, phủ đệ ở Phú Lương (Thái Nguyên), phủ đệ ở châu Quảng Nguyên (Cao Bằng)[15]. Phủ đệ ở Phú Lương, Quảng Nguyên để dành riêng cho Phò mã, Công chúa cai quản các vùng biên giới phía Bắc. Hành cung cũng giống như cung điện được xây dựng giữa vùng nông nghiệp trọng yếu để nhà vua mỗi khi đi kiểm tra, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp (như xem cày ruộng, xem gặt lúa…) mà phải nghỉ lại. Còn hành dinh là dinh thự, doanh trại ở ngoài Kinh đô trên nguyên tắc xây dựng phục vụ cho việc quân ở nơi quan yếu, nhưng trong thực tế, người đứng đầu hành dinh thay mặt cho triều đình vẫn phải cai quản những việc dân sự mà triều đình ủy thác. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết vào tháng 8 năm 1044 sau khi đánh thắng Chiêm Thành, trên đường từ Phật Thệ trở về Kinh đô Thăng Long, vua Lý Thái Tông “đến hành dinh Nghệ An, gọi Uy Minh hầu Nhật Quang đến úy lạo rồi trao cho tiết việt trấn thủ châu ấy, gia phong tước vương. Trước đây vua ủy cho Uy Minh thu tô hàng năm ở Nghệ An và sai lập trại Ba Hòa khiến cho [trấn ấy] được vững chắc, lại đặt điếm canh các nơi cất chứa lương thực đầy đủ, cái gì cũng vừa ý vua, cho nên được tước phong như thế[16].
Tiếc rằng cho đến nay chúng ta chưa có nghiên cứu cơ bản và nhất là chưa từng tổ chức khai quật khảo cổ học quy mô lớn để xác định chính xác vị trí và quy mô của hành dinh Yên Hưng thời Lý. Theo quan sát bước đầu của chúng tôi thì ở vùng cửa sông Bạch Đằng chỉ có hai địa điểm có nhiều khả năng có liên quan đến vị trí hành dinh này:
Thứ nhất là khu vực thành Quảng Yên thời Nguyễn. Tòa thành này nằm trên gò núi Tiên Sơn, xã Quỳnh Lâu, trực tiếp án ngữ cửa sông Bạch Đằng và sông Chanh, là vị trí trọng yếu nhất của toàn vùng[17]. Khi vua Gia Long thành lập Vương triều Nguyễn lập ra trấn Yên Quảng cai quản toàn bộ miền Đông Bắc, năm 1804 đã quyết định chọn gò núi này làm lỵ sở của toàn trấn. Lúc đó trên gò đã có đồn An Bang vốn là trị sở của phủ Hải Đông gồm 2 huyện Yên Hưng, Hoành Bồ và 3 châu Tiên Yên, Vạn Ninh, Vân Đồn. Hơn 2 chục năm đầu dưới thời Gia Long và Minh Mệnh, trấn lỵ Yên Quảng rồi Quảng Yên[18] vẫn chỉ nhân lấy núi làm thành mà hầu như chưa có xây dựng mới. Đến năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) mới đắp thêm lũy đất và năm Tự Đức thứ 12 (1859) mới xây gạch chu vi 295 trượng, mở 3 cửa, mà một phần dấu tích còn lại đến ngày nay. Dưới chân gò là Bến Ngự sông Chanh mà các vị Hoàng đế - Thi nhân lừng danh trong lịch sử như Trần Thánh Tông, Lê Thánh Tông đều đã từng dừng thuyền ngự, làm thơ ca ngợi cảnh sắc và con người của quận trị An Bang.
Chúng tôi hy vọng rồi đây trong chương trình quốc gia bảo tồn và tôn tạo vùng chiến trường Bạch Đằng, các chuyên gia khảo cổ học sẽ có cơ hội khai quật ở khu vực bên trong của tòa thành thời Nguyễn và qua đó có thể tìm ra dấu tích của đồn An Bang xưa. Nếu xác định được chính xác vị trí của đồn An Bang thời Lê thì cũng có nhiều khả năng sẽ tìm được dấu vết các hoạt động của tổ tiên ta ở vị trí được coi là quan trọng nhất của vùng cửa sông Bạch Đằng vào thời điểm của chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, cũng như vết tích còn lại của các thời kỳ trước, trong đó không loại trừ hành dinh trại Yên Hưng thời Lý. 
Thứ hai là khu vực núi Dinh chỉ cách thành Quảng Yên khoảng 2 cây số về phía Đông Bắc. Đây cũng là một quả núi thấp, đỉnh núi khá rộng, xưa có Thành Tre, tương truyền là Dinh Phủ vô cùng linh thiêng, hầu như không ai dám đụng tới (nhưng vì quá lâu đời nên cũng không có ai biết đây là dinh hay phủ nào). Thành này nối thông với sông Chanh và sông Bạch Đằng mà dòng sông cổ, bến Xưởng từ đầu núi (nay là xóm Dinh, xã Cộng Hòa) chạy ra Khê Chanh nay vẫn còn nhận được dấu vết.
Tuy chưa biết được vị trí thật chính xác của hành dinh Yên Hưng, nhưng hoàn toàn có thể khẳng định nó không thể ở ngoài khu vực xã Quỳnh Lâu, tổng Hà Bắc xưa (nay là thị trấn Yên Hưng và xã Cộng Hòa, huyện Yên Hưng). Đây chính là nơi đầu tiên vua Lý Anh Tông, Vương triều Lý và các nhà nước phong kiến Việt Nam đã triển khai và thực thi một chiến lược xây dựng và bảo vệ các vùng biển đảo, các kế hoạch chặn đứng và đánh tan các đạo quân xâm lược tại vùng cửa ngõ yết hầu của đất nước, dù chúng hùng hổ kéo quân từ biển vào đất liền hay đã bị đánh bại trong đất liền đang tìm đường tháo chạy ra biển. Truyền thống Bạch Đằng - một truyền thống lớn của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, tiếp nối, nhân lên và thăng hoa từ vùng cửa sông Bạch Đằng, từ khu vực trại Yên Hưng nổi tiếng này. Đấy cũng chính là chiều sâu lịch sử-văn hóa của đô thị Quảng Yên, đô thị trấn giữ biển đảo, đô thị che chắn cho Kinh đô Thăng Long, hưng vong cùng non sông đất nước nghìn năm qua và mãi mãi về sau.

Hòa vào xu thế phát triển của đất nước trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biến đổi toàn cầu, Quảng Yên - Yên Hưng không thể không gồng mình lên, triệt để huy động mọi nguồn lực, phát triển đô thị bền vững, nâng tầm đô thị theo hướng tự chủ cao về tài chính và chuyển mạnh ra đại dương, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế, thực hiện sứ mệnh cao cả mà cách đây 864 năm vua Anh Tông nhà Lý trong chiến lược biển đảo đầu tiên của quốc gia Đại Việt đã tìm chọn và ủy thác vào hành dinh trại Yên Hưng.

                                                Quảng Yên - Hà Nội 1/1/2011



[1] Đại Việt sử ký tiền biên, Bản dịch Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr 294.
[2] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch Nxb Khoa  học xã hội, Hà Nội, 1993, tr 316.
[3] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 317.
[4] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 323.
[5] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 324.
[6] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 325.
[7] Thống kê theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn từ trang 316 đến trang 325.
[8] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 323.
[9] Đại Việt sử ký tiền biên, Bản dịch đã dẫn, tr 295. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng nhận xét tương tự: “Vua cũng răn việc trước, cẩn thận việc sau, đức nghiệp ngày một tiến; luyện binh, giảng vũ, chọn tướng sai sứ [khiến cho] Chiêm Thành giữ lễ phiên thần, nhà Tống sách phong coi như nước lớn. Trong triều lúc ấy, ai cũng khen là minh trị” (TI, Bản dịch Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr 194-195).
[10] Đại Việt sử ký tiền biên, Bản dịch đã dẫn, tr 295.
[11] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 316. Nguyên văn chữ Hán tờ 6a, quyển 4 là “tạo Yên Hưng trại hành dinh” (造安興寨行營). Bản dịch sách Đại Việt sử ký tiền biên, cũng sự kiện này nhưng lại dịch là “Đinh Mão, năm thứ 8 [1147] (……), mùa đông, tháng 10, dựng hành cung ở trại Yên Hưng” (tr 282). Theo chúng tôi chuyển dịch “hành dinh” (行營)  thành “hành cung” (行宮) là làm sai đi nội dung và ý nghĩa của sự kiện.
[12] Đại Việt sử ký toàn thư, T II, Bản dịch đã dẫn, tr 16. Sách chép: “Lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cho Liễu làm ấp thang mộc. Nhân đất được phong mà Liễu có tên hiệu là Yên Sinh Vương”. Như thế rõ ràng Yên Hưng (cùng Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Bang) không phải là những trại nhỏ như các thôn trại hiện nay.
[13] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 61.
[14] Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị khảo, Bản dịch Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1997, tr 427 lại cho trại Yên Hưng thời Trần tương đương với huyện Yên Hưng thời Nguyễn.
[15] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 321-322. Cũng cần phải nói thêm là các hành cung Ứng Phong và Lỵ Nhân vốn đã rất nổi tiếng từ dưới thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127), bây giờ Lý Anh Tông chỉ cho dựng lại hay tu sửa lại, chứ không phải là xây dựng hoàn toàn mới.
[16] Đại Việt sử ký toàn thư, T I, Bản dịch đã dẫn, tr 266.
[17]Theo sách Đại Nam thực lục, T IV, Bản dịch Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr 1032-1033 thì vào năm 1836, nhân việc Tổng đốc Hải Yên Nguyễn Công Trứ đề nghị mở rộng thành Quảng Yên, Hộ phủ Lê Dục Đức tâu không nên tiếp tục ở lại Quảng Yên mà cần phải chuyển sang địa điểm mới thuộc huyện Thủy Đường (nay là Thủy Nguyên, Hải Phòng), vua Minh Mệnh giao cho Bộ Công xem xét lại việc này. Sau khi tính toán kỹ lưỡng một cách tổng thể, Bộ Công cho rằng: “Xây dựng thành trì, có quan hệ đến sự che chống ở biên cương. Địa thế tỉnh thành Quảng Yên, trong có thể khống chế được cả hạt, ngoài có thể trấn áp được vùng hải cương, thực là nơi hình thế đẹp. Lời của đốc thần có định kiến đấy”. Bộ Công sau khi xác định vị trí không thể thay thế được của tỉnh thành Quảng Yên, đã khuyên vua Minh Mệnh không nên nghe theo lời tâu thiên kiến của Lê Dục Đức và vua Minh Mệnh đã y theo lời bàn của Bộ Công. Điều này góp phần lý giải tại sao từ rất sớm, các nhà nước phong kiến Việt Nam đều chọn Quảng Yên (mà cụ thể là khu vực tỉnh thành Quảng Yên) làm trung tâm trấn giữ vùng cửa sông Bạch Đằng và mở rộng ra toàn tuyến duyên hải, biển và hải đảo khu vực Đông Bắc.
[18] Thật ra đây cũng chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một địa điểm. Tên lộ An Bang đã có từ thời Trần. Năm 1466 Lê Thánh Tông đặt An Bang thừa tuyên. Đến đời vua Lê Anh Tông mới đổi An Bang làm An Quảng và năm 1822, vua Minh Mệnh đổi An (Yên) Quảng thành Quảng Yên.

Nhà cách mạng Đặng Đoàn Bằng (1883-1938)*

                                                          Đặng Thị Vân Chi        Đặng Đoàn Bằng là một nhà yêu nước, một chiến sĩ của phong...