Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

TỪ ĐÌNH LÀNG TỚI NHÀ VĂN HÓA: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHÔNG GIAN SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN

TỪ ĐÌNH LÀNG TỚI NHÀ VĂN HÓA: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHÔNG GIAN SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN
(qua khảo sát một số xã ở hạ châu thổ sông Hồng)
                                                      Đặng Thị Vân Chi, 
( Bài đã đăng trong Nghiên cứu và giảng dạy Việt Nam học, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh tháng 8 năm 2017)




1.      Lý thuyết về không gian công cộng và nhận diện không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn Việt Nam
Khái niệm không gian công cộng được các nhà xã hội học tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Từ góc độ chính trị - xã hội, không gian công cộng trước hết là không gian thuộc sự quản lý của nhà nước, của cộng đồng và được tạo ra bởi các nhu cầu chính trị - kinh tế - xã hội của các thể chế xã hội khác nhau và bị chi phối bởi các hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội đó.
Trong xã hội dân chủ, không gian công cộng là không gian ở đó tất cả mọi người, không phân biệt địa vị xã hội hay điều kiện kinh tế đều có quyền tiếp cận và sử dụng. Quyền này được bảo vệ bởi hiến pháp và pháp luật. Đó là những không gian thực sự là của chung, của tất cả mọi người, phân biệt với “ không gian tư”  chủ yếu được hiểu là không gian của ngôi nhà, nơi mà các hoạt động và hành vi được tự quy định, không có sự giám sát từ bên ngoài [1]. Không gian công cộng vì vậy, có thể coi là một “công cụ” để nhà nước dân chủ thực hiện trách nhiệm của họ với xã hội và cũng thông qua đó tương tác với xã hội.
Tuy nhiên, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, trong các thể chế xã hội khác nhau, quyền tiếp cận đến các không gian công cộng này cũng bị giới hạn và quy định theo cách thức và mức độ khác nhau. Cũng từ đó, các không gian công cộng cũng được thiết kế, nhận diện và quản lý tiếp cận theo cách thức riêng biệt, tương ứng như: Đình làng là nơi làm việc, nơi thể hiện quyền lực của chính quyền địa phương, nơi tiến hành các nghi lễ tôn giáo tín ngưỡng, các hoạt động văn hóa, lễ hội của dân làng trong xã hội nông thôn Việt Nam xưa; Quảng trường sẽ là nơi diễn ra những sự kiện chính trị, xã hội quy mô lớn, với nghi thức chuẩn mực trong đô thị; Công viên là nơi dành cho sự nghỉ ngơi thư giãn, tiếp cận thiên nhiên của mọi đối tượng trong xã hội…
TS. Michael DiGregorio cho rằng không gian công cộng, là không gian do nhà nước quản lý… bao gồm rất nhiều không gian như đường phố công cộng, vỉa hè, bến sông, bờ đê, quảng trường, các công trình công cộng, sân đình, chùa, siêu thị, tóm lại, không gian công cộng dựa trên định nghĩa phổ biến, được áp dụng cho bất kỳ một không gian nào mà người dân có thể tụ họp. [2]
Còn theo PGS Lisa Drummond của Đại học York, Toronto, Canada “Không gian công cộng thì đa dạng, chúng mang các dáng vẻ khác nhau trong các thời gian và địa điểm khác nhau […] Trong ý nghĩa đơn giản nhất, không gian công cộng là những không gian mà tất cả các thành viên của xã hội, về mặt lý thuyết, có quyền sử dụng.[…]   Điều mà tất cả các không gian công cộng đều có điểm chung: đó là những nơi mà mọi người gặp gỡ, do nhu cầu hoặc do ngẫu nhiên, hay chỉ là ghé qua.Không gian công cộng là không gian của sự tụ họp. [3]
  Như vậy, nhìn chung lại, có thể đi đến một cách định nghĩa chung nhất: không gian công cộng chính là không gian phục vụ chung cho nhiều người, cho tập thể, là nơi mà mọi người có thế đến giao lưu và gặp gỡ nhau. Các không gian công cộng là khu vực hiệu quả nhất trong việc tạo nên các giao tiếp xã hội, là một phần không thể thiếu của cuộc sống, nó thúc đẩy mối quan hệ giữa con người với nhau và ảnh hưởng tới các hành vi xã hội của con người.
Không gian sinh hoạt cộng đồng là không gian công cộng được thiết lập để dành cho các hoạt động của cộng đồng, vì vậy, trước hết nó là một không gian chung, mọi người đều có quyền tiếp cận và được quy định chức năng dành cho các hoạt động chung. Những hoạt động chung này có thể thuộc lĩnh vực chính trị, văn hóa, cũng có khi là nơi thể hiện quyền lực của chính quyền…
             Từ các định nghĩa được nhiều nhà khoa học thừa nhận về không gian công cộng vận dụng vào việc nhận diện không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn Việt Nam, chúng ta thấy trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, làng xã Việt Nam, nơi mà hầu hết người dân sống trọn đời ở đó, và cũng là nơi mà những người đã dời làng đi làm ăn, sinh sống ở  xa… hướng về… từ thời xa xưa đều đã có những không gian công cộng dành cho các hoạt động của cộng đồng. Các hoạt động cộng đồng trước hết phải là các hoạt động mang tính cộng đồng và vì cộng đồng như: các cuộc họp của toàn thể dân làng, các cuộc đại hội xã viên Hợp tác xã, các cuộc bầu cử (bầu cử xã trưởng, lý trưởng, bầu hội đồng nhân dân, quốc hội…), các cuộc họp thông báo lệnh vua/phổ biến đường lối chính sách, các buổi học tập chính trị, nói chuyện thời sự, kỷ niệm ngày lễ, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim, các hoạt động quản lý sản xuất, thu thuế, thực hiện nghĩa vụ công dân và nghĩa vụ kinh tế, lễ hội, thờ cúng thần bảo hộ dân làng (thành hoàng làng), xử phạt, … Tuy nhiên, trong từng thời kỳ lịch sử, dưới các thể chế chính trị khác nhau, các không gian dành cho các hoạt động cộng đồng này cũng mang những đặc điểm nhận diện và tên gọi khác nhau. Đó có thể là đường làng, ngõ xóm, gốc Đa, bến nước, điếm canh, Đình, Chùa… ở nông thôn Việt Nam truyền thống…  Đó cũng có thể là Hội trường Ủy ban nhân dân, trụ sở Hợp tác xã (HTX), Sân kho HTX và các nhà văn hoá  (NVH) thôn, xã… ở nông thôn Việt Nam hiện nay.
2.   Sự biến đổi của không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn Việt Nam
2.1.                   Đình làng - Không gian sinh hoạt cộng đồng trong làng xã Việt Nam truyền thống
           Mặc dù chúng ta đều biết rằng Làng Việt có lịch sử tồn tại và phát triển từ hàng ngàn năm trước, và cùng với sự tồn tại và phát triển của làng - xã là các hoạt động chung của cộng đồng cư dân trong làng xã. Tuy nhiên, hiện nay, không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ trước khi Đình làng trở thành trung tâm sinh hoạt cộng đồng vẫn chưa được nhận diện cụ thể và chính xác. Vì vậy, có nhiều ý kiến khác nhau về không gian sinh hoạt cộng đồng ở các làng xã thời kỳ này. Phan Huy Lê cho rằng vào buổi đầu thời kỳ dựng nước “mỗi làng có một ngôi nhà sàn rộng làm nơi sinh hoạt cộng đồng và cử hành các nghi lễ tôn giáo mà hình ảnh còn tìm thấy trên trống đồng Đông Sơn và dấu vết còn để lại trong đình làng của người Việt hay nhà Rông của các dân tộc Tây Nguyên”[4]. Trần Thị Kim Anh thì thử đưa ra một cách kiến giải mới về nguồn gốc của Đình làng cho rằng: “tục thờ thành hoàng và các sinh hoạt cộng đồng khác của người Việt như xử lý việc làng, bao gồm xử các tranh chấp kiện cáo nhỏ trong làng, các hành vi vi phạm lệ làng, giải quyết các vấn đề về thuế má, quan dịch, và đương nhiên cả việc tập họp dân làng để nghe các lệnh lệ của triều đình… đều đã tồn tại và được thực hiện từ lâu đời tại các địa điểm công cộng của làng như các đền miếu thờ thần linh thổ địa và sân chùa…” [5]. Một ý kiến được nhiều người tán đồng là các Đình Trạm, nơi cho khách đường xa tạm trú [6], nơi dừng chân của vua mỗi khi vi hành (các hành cung) [7] hoặc chí ít cũng là nơi những người lính tuần mang mệnh lệnh, hoặc các chiếu chỉ của vua tới các làng xã [8]… chính là tiền thân của ngồi Đình Làng. Tạ Chí Đại Trường cho rằng có thể trước khi Trần Thừa lệnh cho các làng đưa tượng Phật vào thờ ở Đình Trạm năm 1231 thì tại các Đình Trạm cũng đã có thờ thần linh…
Từ các khảo sát về làng Việt (có cả so sánh với làng ở Hàn Quốc) trong quá trình hướng dẫn sinh viên thực tập và học môn Làng xã Việt Nam, chúng tôi cho rằng, không gian sinh hoạt cộng đồng trước khi được định vị cụ thể là Đình Làng thì nó có thể chỉ là một khoảng đất trống ở trung tâm làng, hoặc đầu làng, dưới gốc cây đa hay cây gạo[9], hay một ngôi nhà chung, là đền, miếu cũng có thể là điếm canh[10], đình trạm…
            Đến thế kỷ 15, dưới thời Lê sơ, cùng với việc xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế, lấy Nho giáo làm bệ đỡ cho chính quyền, các vị thần bảo hộ trong các làng xã, các vị thành hoàng làng được toàn thể dân làng công nhận đã được đưa vào Đình thờ cúng. Cũng từ đây trở đi Đình làng trở thành một biểu tượng của tính cộng đồng làng xã của người Việt. Chính việc Vị Thành hoàng làng được thờ ở Đình đã làm cho đình làng trở thành đại biểu cho cộng đồng làng, đồng thời cũng góp phần gắn kết dân làng với nhau cũng như gắn kết dân làng với cộng đồng lớn hơn là cộng đồng quốc gia, cộng đồng dân tộc. Điều này được thể hiện qua việc các vị Thành hoàng làng được nhận sắc phong của Vua.
            Hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa đều thống nhất cho rằng Đình làng với một thực thể kiến trúc thường được tọa lạc ở trung tâm làng, trên vùng đất cao, bằng phẳng và khoảng sân rộng trước Đình là một không gian sinh hoạt cộng đồng trong làng xã với ba chức năng: “hành chính, tôn giáo và văn hóa. Về chức năng hành chính, Đình là chỗ để họp bản các "việc làng", để xử kiện, phạt vạ... theo những quy ước của làng. Về chức năng tôn giáo, Đình là nơi thờ thần của làng, thường là một vị, nhưng cũng có nhiều khi nhiều vị, được gọi là "Thành hoàng" làng. Về chức năng văn hóa, Đình là nơi biểu diễn các kịch hát, như chèo, hay hát cửa đình - tức ca trù, một hình thức đã phát triển trong các thế kỷ trước, nơi tiến hành các lễ hội, các trò chơi...”[11], các chức năng này thường không được tách bạch, mà đan xen hòa quyện vào nhau...
            Tóm lại, từ các chức năng của Đình được mô tả như ở trên, trong nông thôn Việt Nam truyền thống, Đình làng là một không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra các hoạt động vì mục đích chung của làng. Vai trò là một trung tâm sinh hoạt cộng đồng ở làng xã Việt Nam của Đình làng kéo dài suốt từ thế kỷ 15 cho đến giữa thế kỷ XX.
1.2.                  Sự biến đổi của không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam hiện nay
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là một biến cố lớn trong đời sống chính trị của cộng đồng dân tộc nói chung và của cộng đồng cư dân các làng xã nói riêng. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc một nhà nước dân chủ cộng hòa ra đời. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử làng xã Việt Nam, bộ máy quản lý nông thôn truyền thống đã từng tồn tại hàng nghìn năm bị giải thể, chính quyền nhân dân được thành lập.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, miền Bắc được giải phóng, Đảng lao động Việt Nam và chính phủ nước Việt Nam dân chủ công hòa tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn miền Bắc. Kết quả của cuộc cách mạng này là người nông dân trong các làng xã sau khi được chia ruộng đất đã đưa ruộng đất vào các hợp tác xã nông nghiệp làm ăn tập thể. Như vậy có thể nói, về đời sống chính trị, kinh tế và xã hội ở nông thôn miền Bắc Việt Nam đã có những thay đổi căn bản. Ở hầu hết các làng xã ở miền Bắc Việt Nam Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã thay thế cho Hội đồng kỳ mục, bộ phận kỳ dịch (các lý trưởng, phó lý, trương tuần…)…; Các ban chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp quản lý việc sản xuất chung của cả làng-xã... Bản thân việc từ nền sản xuất tiểu nông tự cấp tự túc, các hộ gia đình là một đơn vị sản xuất chuyển sang lao động tập thể, công cụ lao động và tư liệu sản xuất là của chung, việc điều hành sản xuất, phân phối sản phẩm… đã làm nảy sinh nhiều hoạt động mang tính cộng đồng. Đặc biệt, sự xuất hiện của nhiều đoàn thể như Mặt trận Tổ Quốc, chi bộ Đảng, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân… cũng làm cho nhu cầu có một không gian chung cho các sinh hoạt cộng đồng trở nên hiện hữu và cấp bách.
Ở một bình diện khác, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và sự truyền bá chủ nghĩa Mác- Lê nin trong nhân dân, cuộc cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Việt Nam cũng như phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trong khắp các làng quê dường như đã làm vai trò bảo hộ dân làng của các Vị Thành hoàng làng trở nên mờ nhạt, thậm chí nhiều thực hành tín ngưỡng, tôn giáo bị coi là “mê tín dị đoan.”… Có thể thấy rằng sự chuyển đổi không gian sinh hoạt cộng đồng ở các làng quê miền Bắc Việt Nam trong những năm từ 1954 đến nay đã diễn ra trên nền bức tranh chung này.
Để có cái nhìn cụ thể hơn về sự chuyển biến của các không gian sinh hoạt cộng đồng trong làng xã Việt Nam giai đoạn này, chúng tôi khảo sát 3 xã ở hạ châu thổ sông Hồng là xã HT (huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng), xã PL (huyện Đông Hưng, Thái Bình) và xã VV (huyện Vũ Thư, Thái Bình).[12]
·                 Xã HT (huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) là xã nằm gần cuối địa giới thành phố Hải Phòng, giáp với Ninh Giang, Hải Dương, có diện tích là 5,63 km², dân số là 7069 người (theo thống kê năm1999 ). Đây là xã thuần nông. Xã này trước đây gồm có 3 làng lớn, Làng TV, làng BT và làng ĐM, mỗi làng đều có đình riêng. Như mọi làng quê khác, đình làng là không gian sinh hoạt cộng đồng của làng. Từ sau năm 1954, đời sống chính trị của cư dân làng xã đã thay đổi. Chính quyền nhân dân được thiết lập, trụ sở Ủy ban nhân dân được xây dựng và là nơi chính quyền xã làm việc, giải quyết công việc hành chính của làng. Đình làng trở thành nơi dạy học cho trẻ em và là nơi mở các lớp xóa nạn mù chữ. Trong thời gian sau này, cả xã, tách ra thành 8 thôn đồng thời là 8 đội sản xuất. Khi HTX được thành lập, mỗi đình có một số phận khác nhau. Giai đoạn 1960 đến 1978, 1979 mỗi thôn là một HTX và mỗi thôn có một kho và một sân kho HTX. Mọi hoạt động của người dân, từ họp đại hội xã viên, bầu cử, bàn thảo kế hoạch sản xuất, các hoạt động của chi bộ, đoàn thanh niên, hội phụ nữ… đều được tiến hành tại sân kho HTX. Có thể nói lúc này sân kho HTX trở thành không gian sinh hoạt cộng đồng của các cư dân trong thôn.
Năm 1979, khi các HTX được nâng lên thành các HTX bậc cao, có quy mô toàn xã, cơ sở vật chất của HTX được đầu tư để nâng cao, đình làng ở thôn TV bị chính quyền xã dỡ bỏ để lấy đất xây dựng NVH thôn. Đình BT cũng bị dỡ để xây dựng NVH xã. Từ năm 1979, xã HT có NVH xã rất khang trang, được đánh giá là xã có NVH to, bề thế nhất huyện. Từ đây, mọi sinh hoạt cộng đồng: họp hành các ban ngành, các đoàn thể diễn ra ở đây. Đây cũng là nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ mỗi khi có sự kiện quan trọng… Từ năm 1997 đến những năm 2000-2003, khi đất đai đã được chia về cho các hộ gia đình sản xuất, các HTX không còn vai trò quản lý và tổ chức sản xuất nông nghiệp như trước, các nhà NVH thôn được xây dựng hoặc tu sửa trên nền đất của các kho HTX cũ. Và cho đến nay xã có 1 NVH xã lớn và 7 NVH thôn, thôn ở gần NVH xã thì dùng ngay NVH xã để hoạt động. Năm 2010-2011, NVH xã xuống cấp, nên đã được chuyển ra xây dựng lại ở khu đất rộng rãi khang trang hơn, đình BT lại được xây dựng lại trên nền cũ, tuy nhiên Đình chỉ là nơi dành cho các hoạt động tâm linh, thờ cúng thần linh của Làng. Mọi hoạt động cộng đồng đều diễn ra ở NVH.
·                 Xã VV (huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình)
 Xã VV  có dân số là 5054 người, gồm có 9 thôn, trong thời kỳ xây dựng hợp tác xã, VV có 2 HTX, mỗi thôn là một đội sản xuất,  mỗi HTX gồm có 4-5 đội sản xuất. Thời kỳ đầu mới thành lập HTX, đình làng vẫn còn và cũng giống như xã HT, huyện Vĩnh Bảo và một số làng quê khác Đình trở thành nơi dạy học cho trẻ em trong làng. Thời kỳ đầu, ở giai đoạn tổ đổi công và các HTX cấp thôn, làng, mỗi đội sản xuất đều có một kho và sân kho của đội sản xuất, mọi hoạt động cộng đồng như hội họp của đội sản xuất, của các đoàn thể thanh thiếu nhi, phụ nữ, chi bộ… đều diễn ra ở Kho HTX và sân kho HTX. Vào năm1978, khi có chủ trương xây dựng HTX bậc cao, xã cũng đã cho phá đình để lấy đất xây dựng nhà trẻ của thôn. Năm 1990, trụ sở Ủy ban nhân dân và các nhà Nhà văn hóa thôn được xây dựng. Hiện tại thôn nào cũng có nhà văn hóa. Năm 2015, trong chủ trương xây dựng nông thôn mới, Nhà văn hóa được xây dựng lại khang trang hơn, đình cũng được xây dựng lại trên nền cũ, nhà trẻ chuyển sang nơi khác, được xây lại to đẹp hơn và trở thành trường mẫu giáo chung cho toàn xã. Đình làng, dù được dựng lại nhưng chủ yếu dành cho các hoạt động tâm linh. Hiện tại, NVH xã và Đình nằm cạnh nhau trên cùng một khu đất. Lãnh đạo xã cũng có tâm lý muốn đưa Nhà văn hóa và Đình về gần nhau tạo thành một không gian chung lớn cho các sinh hoạt cộng đồng của làng xã.
·                         Xã PL (huyện Đông Hưng Thái Bình)
             Xã PL nằm ở phía bắc huyện Đông Hưng, bên bờ bắc sông Tiên Hưng, có diện tích 4,77 km2, dân số là 6.598 người theo điều tra dân số năm 1999. Xã PL trước đây cũng có Đình làng, nhưng đã bị phá bỏ từ lâu mà người dân không còn nhớ nữa (gần đây xã PL có khôi phục lại miếu và lễ hội Miếu Cả). Thời kỳ HTX, mọi sinh hoạt cộng đồng cũng diễn ra ở các khu vực Kho và sân kho HTX, hoặc họp nhờ các gia đình có nhà rộng rãi. Khoảng thời gian từ 2005-2006, các NVH thôn được xây dựng. Từ lúc này, các NVH thôn trở thành nơi tổ chức các buổi họp hành của nhân dân trong thôn cũng như nơi sinh hoạt, họp hành của các đoàn thể trong thôn như sinh hoạt chi bộ Đảng, họp của Hội cựu chiến binh, của các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, và sinh hoạt hè, tổ chức trung thu cho các cháu.
          Ngoài 3 trường hợp này, còn  có những làng xã vẫn giữ được đình xưa cho đến bây giờ. Tuy nhiên việc sử dụng đình tùy thuộc vào hiện trạng của kiến trúc, trình độ cán bộ cũng như nhận thức của người dân. Ví dụ như ở Đình làng Phù Lưu (Từ Sơn, Bắc Ninh), bên cạnh không gian thờ cúng của Đình trước đây (chính điện và hậu cung) thì bên phải chính điện có bày bàn thờ tổ quốc với cờ đỏ sao vàng và ảnh Bác Hồ, Hội người cao tuổi sử dụng làm nơi gặp gỡ, làm việc, phát lương cho cán bộ về hưu. Còn làng Khê Hồi (huyện Thường Tín, Hà Nội), kiến trúc Đình được sử dụng làm nơi làm việc của Ủy ban [13]và Ban chủ nhiệm HTX. Hoặc làng An Tiến (huyện Hưng Hà, Thái Bình), mặc dù có NVH, nhưng mọi hoạt động của người dân trong làng đều diễn ra ở Đình. NVH luôn đóng cửa và không được người dân quan tâm[14]….
3. Nhà văn hóa- không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn hiện nay
Trong đường lối phát triển kinh tế, xây dựng đất nước giàu mạnh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rõ các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của các không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn Việt Nam, và đáp ứng nhu cầu về một không gian sinh hoạt cộng đồng ở làng xã, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Trong chương trình có vấn đề xây dựng các nhà văn hóa tới tận các thôn làng. Nhà văn hóa là 1 trong 19 tiêu chí của xây dựng Nông thôn mới. Các Nhà văn hóa thôn, xã này có chức năng:
a- Góp phần tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức khoa học, kỹ thuật; giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn thôn.
b- Tổ chức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới.
c- Tổ chức hội họp, học tập cộng đồng và tổ chức các hoạt động sinh hoạt khác ở thôn.
              Với chủ trương trên của Đảng và chính phủ, được sự hỗ trợ của nhà nước, các Nhà văn hóa đã xuất hiện trong khắp các thôn làng.
Khi khảo sát về tình hình hoạt động của các nhà văn hóa, chúng tôi nhận được câu trả lời[15] khá giống nhau là: Nhà văn hóa thôn- làng hiện nay chủ yếu là nơi hội họp của cư dân trong thôn, xã, nơi hội họp và sinh hoạt của các tổ chức, các đoàn thể trong chính quyền như họp chi bộ, họp Hội Cựu chiến binh, hội họp, sinh hoạt văn nghệ… của các đoàn thể như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, nơi sinh hoạt hè cho các cháu học sinh… Nhà văn hóa cũng là nơi phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, các sinh hoạt chính trị như bầu cử, tiếp xúc cử tri… Cũng có xã, NVH là nơi tổ chức các lớp học nghề, các buổi phổ biến kiến thức về khoa học kỹ thuật… Thỉnh thoảng NVH mới có cơ hội sử đụng đúng như tên gọi của nó là nhà văn hóa, nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ... Dưới đây là một mô tả về hoạt động của NVH xóm 2, xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình:
NVH là nơi sinh hoạt chung của toàn xóm. Đó vừa là nơi họp của người dân trong xóm khi có công việc chung. Đó cũng có thể là nơi phục vụ cho các dịp liên hoan ăn uống trong những dịp lễ tết. NVH có vai trò vô cùng quan trọng bởi xóm tôi trước đây luôn thiếu một địa điểm sinh hoạt chung như vậy. Mỗi khi có cuộc họp của xóm hay của các đoàn hội đều phải tiến hành ở nhà của trưởng xóm hoặc hội trưởng…do đó không gian hội họp rất hạn chế khiến bà con khó có thể đến đông đủ. Từ khi có nhà văn hóa mọi cuộc họp đều được tổ chức tại đây hơn nữa những phương tiện như loa đài luôn đầy đủ và sẵn có cho nên các cuộc họp tổ chức rất thuận tiện và dễ dàng. Thứ nữa phải kể đến là mỗi dịp tổ chức liên hoan của xóm hay của các hội như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh… cũng rất tiện lợi do nhà văn hóa được xây dựng đầy đủ cả nhà bếp. Giờ đây mỗi dịp trung thu, xóm đã có một địa điểm vui chơi tổ chức phá cỗ cho các em thiếu nhi trong xóm chứ không còn phải mượn nhà này nhà kia như thời của chúng tôi. Quan trọng hơn cả nhà văn hóa với không gian xung quanh giờ được xây dựng khang trang với sân bê tông sạch sẽ. Vào mỗi buổi chiều đây là địa điểm sinh hoạt giải trí của người dân trong xóm với các môn thể thao như cầu lồng hay bóng chuyền…Một địa điểm sinh hoạt như vậy là vô cùng cần thiết cho việc phục vụ đời sống văn hóa của người dân trong xóm. Đặc biệt trong ngày 22-5 vừa qua NVH của xóm đã trở thành địa điểm bầu cử khang trang rộng rãi, tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền công dân của mình”[16].
Bên cạnh việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ được giao, thì tại các địa phương, do có địa điểm không gian thuận tiện, rộng rãi, có sẵn cơ sở vật chất, NVH còn đáp ứng một số nhu cầu các gia đình người dân trong làng xã như tổ chức đám cưới, đám ma, đám giỗ ở NVH, hiện tượng này đặc biệt khá thường xuyên trong các khu vực ven đô, khi đất bị chia lô để bán, không gian riêng tư của các hộ gia đình bị thu hẹp lại, vì vậy mỗi khi “nhà có viêc” người dân lại mượn NVH làm nơi tổ chức sự kiện.
Cũng có nơi như thôn Trạc xã Châu Quế Hạ huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên, NVH ngoài việc tổ chức các hoạt động chung của cộng đồng còn là nơi ở của một cụ bà cô đơn, không nơi nương tựa. Các cán bộ của thôn xóm đã bố trí, sắp xếp một chỗ trong NVH cho cụ ở. Cụ sống bằng những đồng trợ cấp ít ỏi, thường ngày mọi người xung quanh chia sẻ từ bò gạo, miếng rau, miếng thịt cho cụ. Đến khi cụ mất thì mọi người cùng nhau họp lại và lo ma chay cho cụ[17].
Gần đây nhất, NVH thôn Hoành xã Đồng Tâm huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội lại được sử dụng để giam giữ các chiến sĩ thuộc lực lượng cảnh sát cơ động trong cuộc  tranh chấp về quyền sử dụng đất.[18]  
Hiện nay, có nhiều nơi, nhà văn hóa đã bị sử dụng sai chức năng như được sử dụng để phơi nông sản… Điều mà hầu hết các ý kiến[19] khi nói về những bất cập của NVH đều cho rằng NVH chưa được sử dụng hiệu quả (thường xuyên đóng cửa, khi có việc mới mở), hầu hết các NVH đều không có các phương tiện giúp nâng cao hiểu biết như sách báo… Các hoạt động văn hóa mang nặng tính phong trào và chưa làm được nhiệm vụ nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.
Nguyên nhân của tình trạng này, trước hết nằm ở khâu tổ chức và quản lý các NVH. Tại các làng xã, NVH do trưởng thôn quản lý và cầm chìa khóa. NVH thường được trang bị một số thiết bị kỹ thuật như loa, ampli, micro, ti vi, quạt … do sợ bị mất các thiết bị trong NVH, nên các NVH luôn trong tình trạng cửa đóng then cài. Mặt khác, bản thân trưởng thôn cũng bận nhiều công việc, việc quản lý NVH của trưởng thôn chỉ là công việc kiêm nhiệm nên các hoạt động chỉ đơn thuần là giữ chìa khóa và mở cửa NVH mỗi khi có hội họp, hoặc hoạt động gì đó. Hầu hết các NVH đều không có thư viện hoặc sách báo phục vụ nhân dân. Cả ba xã  mà chúng tôi khảo sát, những người có trách nhiệm đều thấy nếu có thư viện thì rất tốt, nhưng không có kinh phí để làm, thêm nữa, không có nhân lực để quản lý thư viện… Một nguyên nhân quan trọng khác của tình trang NVH chưa làm hết chức năng và nhiệm vụ của mình là không có cán bộ chuyên trách có trình độ chuyên môn quản lý và điều hành các hoạt động văn hóa, văn nghệ ở đây. Như ở xã VV ( huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình), trưởng thôn được phụ cấp 60.000 đồng/1 năm cho việc quản lý NVH, còn các hoạt động văn hóa, văn nghệ ở xã HT ( Huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) thì được giao cho cán bộ thanh niên phụ  trách.
Nói tóm lại, hiện các NVH đang làm khá tốt nhiệm vụ là nơi tiến hành các cuộc họp, các cuộc gặp gỡ của cư dân trong làng xã, nơi giao tiếp xã hội, nơi người dân có thể bày tỏ nguyện vọng ý kiến của mình trước các vấn đề liên quan đến cuộc sống của mình. NVH cũng làm tốt việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước tới dân làng… Các hoạt động văn hóa thể thao dù  còn chưa được chú ý đúng mức, nhưng nó cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao của cư dân trong làng xã. Có thể  khẳng định rằng NVH thực sự đã làm tốt chức năng là ngôi nhà chung, là không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam.
Kết luận
Chỉ trong vòng hơn 50 năm, từ 1954 đến nay, không gian sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam đã có những biến đổi cực kỳ nhanh chóng và khó có thể hình dung nổi. Đình làng- “đại biểu của cộng đồng làng”,  với vai trò “ là nơi tiến hành các sinh hoạt vì mục đích chung của làng và là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của làng”, nơi thờ cúng vị thần bảo hộ dân làng, mà hình ảnh của Vị thành hoàng làng đã góp phần “ tạo nên sức mạnh bảo vệ làng, giữ nước “[20], đã từng tồn tại hơn 500 năm trong các làng quê Việt Nam có thể nhanh chóng bị dỡ bỏ chỉ để xây dựng Nhà văn hóa, nhà trẻ, hoặc sân kho HTX vì lý do thiếu đất…Sự thay đổi này đã diễn ra cùng với sư thay đổi của thể chế chính trị, hệ tư tưởng (từ một nhà nước quân chủ chuyên chế nho giáo sang nhà nước Xã hội chủ nghĩa) và phương thức sản xuất xã hội.( từ một nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc sang nền kinh tế XHCN)
Sự biến đổi của không gian sinh hoạt cộng đồng từ Đình làng đến Nhà văn hóa cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của không gian sinh hoạt cộng đồng trong đời sống nông thôn Việt Nam. Dù dưới thể chế chính trị nào, nhà nước quân chủ chuyên chế Nho giáo, nhà nước dân chủ cộng hòa hay nhà nước xã hội chủ nghĩa thì một không gian công cộng dành cho các sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong các làng xã ở Việt Nam là một phần quan trọng không thể thiếu. Tại nơi đây các hoạt động chung của cộng đồng làng xã như hội họp, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, kỷ niệm, mừng thọ…đã được tiến hành với sự tham gia của toàn thể cộng đồng làng.
 Mặt khác, sự biến đổi của không gian sinh hoạt cộng đồng này cũng phản ánh vai trò của các thể chế chính trị trong việc tạo ra các không gian công phù hợp với hệ tư tưởng chính thống trong xã hội, cũng như sự vận hành của chính quyền nhà nước trong việc quản lý xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và sự ra đời của chính quyền công nông đã làm lu mờ vai trò của các vị thần bảo hộ làng xã. Đây có thể là lý do các đình làng, nơi thờ các vị thành hoàng làng dần vắng bóng trong các làng quê Việt Nam trong các thập niên 1970, 1980.  Có những ngôi đình bị dỡ bỏ để lấy đất xây dựng các công trình khác, và cũng có những ngôi đình bị tàn phá trong chiến tranh nhưng không được tu sửa hoặc xây dựng lại. Và trong khi đình làng mất đi ý nghĩa đại biểu của cộng đồng làng xã, thì kho HTX và sân kho HTX được giao cho vai trò là trung tâm sinh hoạt cộng đồng tại các làng quê, khi các HTX nông nghiệp là trung tâm của các hoạt động kinh tế, quản lý lao động tại các làng xã. Hiện nay, các HTX không còn vai trò quản lý hoạt động kinh tế xã hội ở các làng xã nữa thì các NVH trở thành ngôi nhà chung của cộng đồng dân cư làng xã.
Sự biến đổi của không gian sinh hoạt cộng đồng từ Đình làng tới nhà văn hóa cũng phản ánh sự phát triển của xã hội theo hướng ngày càng chuyên biệt hơn. Nếu như trước đây Đình làng đảm nhận cả 3 chức năng: Hành chính- chính trị, văn hóa và tôn giáo thì hiện này các không gian sinh hoạt cộng đồng mang tính chuyên biệt hơn. Bên cạnh NVH là nơi tổ chức các sinh hoạt cộng đồng và có chức năng chính là  hoạt động văn hóa, các xã còn có các Ủy ban nhân dân  là nơi giải quyết các công việc hành chính và Đình làng ( đang được các làng xây dựng lại trên nền đình làng cũ ngày một nhiều hơn) là nơi thực hiện các hoạt đông tôn giáo tín ngưỡng của làng.
Cuối cùng, để các NVH có thể hoạt động hiệu quả, phát huy thế mạnh của mình góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân và xây dựng một xã hội mới, hiện đại, nhân văn và dân chủ, các NVH cần được đầu tư cơ sở vật chất tốt hơn nữa với các thư viện, các thiết bị thể thao…, đặc biệt cần có cán bộ có chuyên môn điều hành và quản lý các hoạt động ở nhà văn hóa…

Tài liệu tham khảo và trích dẫn
1.     Trần Thị Kim Anh (2012),Một kiến giải về nguồn gốc ngôi đình làng Việt Nam”. http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/mot-kien-giai-ve-nguon-goc-ngoi-dinh-lang-viet-nam
2.     Toan Ánh (2005) Nếp cũ- Làng xóm Việt Nam, NXB trẻ
3.     Phan Kế Bính (1990) Việt Nam phong tục, NXB Tổng hợp, Đồng Tháp
4.     John Kleinen, (2013)Làng Việt- Đối diện tương lai, hồi sinh quá khứ, NXB Lao động
5.     Drummond, Lisa B W (2007) Fast-forward Hanoi: Public space in the utopian city.  In Nguyen Xuan Long (ed) / Hanoi 5000 Hoan Kiem Lakes.  Hanoi.
6.      Michael DiGregorio “ Không gian công cộng và thành phố của tập đoàn “ http://ashui.com/mag/tuongtac/phanbien/6707-khong-gian-cong-cong-va-thanh-pho-cua-tap-doan.html

.        7.  Nguyễn Duy Hinh ( 1996) . Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội; t
               
           8.  Phan Huy Lê ( 1996), “Làng xã cổ truyền của người Việt, tiến trình lịch sử và kết cấu kinh tế- xã hội” trong  Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay ( Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang chủ biên), Hà Nôi, tr 128     
           9. Nguyễn Quang Ngọc ( 2009) Một số vấn đề Làng xã Việt Nam, NXB Đại học quốc gia
           10. Philippe Papine- Olivier Tessier Chỉ biên) (2002) Làng ở Châu thổ sống Hồng- vấn đề còn bỏ ngỏ , NXB Lao động xã hội

         11.  Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Cự ( 1998) Đình Làng Việt Nam NXB TP Hồ Chí Minh;

              11. Tạ Chí Đại Trường (2006),Thần, Người và Đất Việt, NXB Thông tin , tr149
         Và một số tư liệu điền dã môn học Làng Xã Việt Nam dưới sự hướng dẫn của TS Đặng Thị Vân Chi của các sinh viên các khóa K56,k57, k58, k59 Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội




[1] Drummond, Lisa B W (2007) Fast-forward Hanoi: Public space in the utopian city.  In Nguyen Xuan Long (ed) / Hanoi 5000 Hoan Kiem Lakes.  Hanoi.
[2] http://ashui.com/mag/tuongtac/phanbien/6707-khong-gian-cong-cong-va-thanh-pho-cua-tap-doan.html
[3] Drummond, Lisa B W (2007) Fast-forward Hanoi: Public space in the utopian city.  In Nguyen Xuan Long (ed) / Hanoi 5000 Hoan Kiem Lakes.  Hanoi.
[4] Phan Huy Lê ( 1996), “Làng xã cổ truyền của người Việt, tiến trình lịch sử và kết cấu kinh tế- xã hội” trong  Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay ( Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang chủ biên), Hà Nôi, tr 128
[5] Trần Thị Kim Anh (2012), Một kiến giải về nguồn gốc ngôi đình làng Việt Nam. http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/mot-kien-giai-ve-nguon-goc-ngoi-dinh-lang-viet-nam
[6] Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Cự ( 1998) Đình Làng Việt Nam NXB TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Duy Hinh( 1996) . Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội; tr99
[7] Tạ Chí Đại Trường (2006),Thần, Người và Đất Việt, NXB Thông tin , tr149
[8] Mà biểu hiện là tại rất nhiều ngôi đình vẫn còn có tấm biển đề “ Thánh cung vạn tuế”
[9] Trong tâm lý người dân Việt, cây đa/ cây gạo là cây thiêng “ thần cây đa, ma cây gạo”, ở Hàn Quốc, biểu tượng của làng là tượng gỗ và cây Dang san ở đầu làng, nơi dân làng tụ họp để nghe thông báo hoặc bàn bạc việc làng cũng là dưới gốc cây lớn và tượng gỗ, biểu tượng thần của làng ở đầu làng, không có mái che.(Jeong Jong Lyeol- Thực tập sinh Hàn Quốc tại Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt)
[10] Theo khảo sát của Nguyễn Tú Anh, sinh viên K59, khoa VN học và Tiếng Việt, ĐHKHXH&NV< ĐHQG Hà Nội thì,  ở làng Yên Lãng, Điếm canh là ngôi nhà chung, có chức năng cộng đồng : Là nơi ghi công trạng của người có công với làng, là địa điểm tập hợp dân làng, phân công công việc trong làng… thu thuế, thu nhận sản phầm nông nghiệp bán cho nhà nước ( thời kỳ HTX)
[11] Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, ( 2014) Đình làng Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội
[12] Ở cả 3 xã này, tác giả đã đến khảo sát và phỏng vấn trực tiếp những người quản lý Làng xã, chủ tịch xã, Bí thư Đảng ủy xã, trưởng thôn.
[13] Tư liệu của Lê Quang Pháp, sinh viên K57 khoa Việt Nam học trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
[14] Tư liệu của Phạm Thị Thơm, sinh viên K59 khoa Việt Nam học trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
[15] Đây là câu trả lời của Bí thư đảng bộ xã PL huyện Đông Hưng Thái Bình, nguyên chủ tịch xã HT huyện Vĩnh Bảo Hải Phòng, thôn trưởng thôn CV xã VV huyện Vũ Thư Thái Bình.
[16] Báo cáo thực tập môn học của Đinh Xuân Lộc, sinh viên K58 khoa Việt Nam học & Tiếng Việt, Trường Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
[17] Tư liệu khảo sát của Nguyễn Thị Bảy và Nguyễn Thị Vân Anh, sinh viên K56 Khoa Việt Nam học & Tiếng Việt, Trường Đại học KHXH &NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
[18] http://vnexpress.net/tin-tuc/phap-luat/15-canh-sat-bi-bat-giu-tai-my-duc-duoc-tha-3571959.html
[19] Sinh viên các K56, K57, K58, K59 Khoa Việt Nam học & Tiếng việt
[20] Đặng Thế Đại, “ Vai trò của tín ngưỡng Thành hoàng trong đời sống cộng đồng làng Việt( Qua thực tế ở Tả Thanh Oai)” trong Làng ở Châu thổ sống Hồng- vấn đề còn bỏ ngỏ (Philippe Papine- Olivier Tessier (Chủ biên) 2002, NXB Lao động xã hội, tr388-389

Thứ Hai, 10 tháng 7, 2017

CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM Ở HÒANG SA VÀ TRƯỜNG SA- TƯ LIỆU VÀ SỰ THẬT LỊCH SỬ *

PGS.TS Trịnh Vương Hồng 


Hoàng Sa và Trường Sa, hai quần đảo của Việt Nam trên Biển Đông thật sự gần gũi, thân thiết trong tâm thức người Việt. Bởi Hoàng Sa, Trường Sa đã là một bộ phận, là “cương giới trên biển” của Việt Nam suốt từ thời tiền sử đến ngày nay; cũng nhờ các học giả từ xa xưa, nhiều nhà khoa học và giới truyền thông thời hiện đại, bằng nhiều phương cách khác nhau, đã mang/chở sự thật lịch sử của Hoàng Sa, Trường Sa, vượt qua thời gian, rút giảm không gian về “trình diện” cộng đồng các dân tộc Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Một công trình như thế của GS, TS, NGND Nguyễn Quang Ngọc  vừa được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội công bố ngay đầu Xuân 2017: Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa-Tư liệu sự thật lịch sử([1]
Công trình gồm 478 trang, khổ sách 17x24cm, trình bày trang nhã và được GS, NGND Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam giới thiệu.
Trong Lời nói đầu, tác giả cũng “giải trình” rõ về quá trình khai mở đề tài Lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1993 mà ông được Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phân công phụ trách. Với “Quan niệm tư liệu là chất liệu cơ bản của toàn bộ công trình” (tr.21), tác giả chỉ rõ các nguồn tư liệu được tiếp cận: tư liệu chữ Hán cổ Việt Nam (trong đó gồm tài liệu chính thức của Nhà nước Việt Nam); tư liệu khảo sát thực địa; tư liệu Trung Quốc; thư tịch phương Tây (chủ yếu của Công ty Đông ấn Anh, Hà Lan, Pháp, của người Bồ Đào Nha, Hội truyền giáo Pháp…).
Tác giả cũng thu thập được thông tin từ các kho sách ở Nga, Pháp, Nhật Bản, Đài Loan, Bỉ, Hà Lan, Anh, Đức, úc, Hoa Kỳ, Inđônêxia v.v..
Ở trong nước, đó là các nguồn từ các kho lưu trữ Trung ương như ủy ban Biên giới Quốc gia, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Tư lệnh Hải quân và các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Sử học, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, các thư viện ở Trung ương và các tỉnh, thành phố, các cơ quan chuyên trách, bộ sưu tập của cá nhân, các nhà khoa học v.v..
Tư liệu tham khảo, liệt kê được 245 đầu mục, gồm tiếng Việt và ngoại văn. Phần Phụ lục in 4 văn bản tiêu biểu, được chọn lọc kỹ lưỡng, ví như nội dung trích từ Báo cáo tổng hợp đề tài Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa trong Chương trình Biển Đông-Hải đảo giai đoạn 1993-1995 (BĐ-HĐ.01-01), kết tinh thành tựu nghiên cứu đề tài BĐ-HĐ.01-01; hoặc Bộ Atlas Universel của Philipe Vandermaelen-Giá trị toàn cầu, tài sản quốc gia Việt Nam[2]).
Công trình được chia làm 5 chương, chúng tôi xin giới thiệu khái quát, theo bố cục của công trình.
Chương I: Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông và Chương II: Biển Đông trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cho đến thế kỷ XVI. Hai chương này trình bày những tiền đề, cơ sở tự nhiên, lịch sử, xã hội và văn hóa cho toàn bộ quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong Chương I, ở nội dung Biển Đông-một cái nhìn tổng quan, tác giả phân tích cụ thể về các lĩnh vực địa-tự nhiên, địa-kinh tế, địa-chính trị và địa-quân sự… của vùng biển này. Tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, công trình nêu rõ Biển Đông là một trong năm “bồn trũng” chứa dầu khí lớn nhất thế giới, trữ lượng băng cháy ở đây lớn tương đương với trữ lượng dầu khí, là cầu nối ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, nối châu Âu và Trung Đông với châu á, nơi đây có 5 tuyến hàng hải cấp khu vực và nhiều tuyến hàng hải cấp quốc gia. Công trình cũng phác họa Mấy nét về biển Việt Nam (tr.34) và giới thiệu vài lĩnh vực, đặc điểm của Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông
(tr.43). Theo số liệu về địa lý tự nhiên, cứ 100km2 lãnh thổ đất liền, Việt Nam có 1km bờ biển và không một nơi nào trên lục địa của đất liền Việt Nam lại cách bờ biển xa hơn 500km. Như thế, bất cứ một địa điểm nào trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam cũng đều chịu tác động của “yếu tố biển” và cũng có thể phát huy lợi thế của “yếu tố biển”. Bởi lẽ đó, Biển Đông có giá trị chiến lược chính trị-quốc phòng-an ninh-kinh tế vô cùng quan trọng.
Cụ thể, theo Điều 121, Khoản 3, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nếu một bãi san hô, đảo đá ngoài khơi xa lục địa này không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng, thì ít nhất cũng mang lại cho quốc gia sở hữu 1.543km2 lãnh hải. Có nghĩa là, với bất kỳ một đảo [đá] nào cũng mang lại cho vùng biển xung quanh giá trị gấp nhiều lần so với giá trị của bản thân đảo [hay đá] đó. Hơn nữa, các đảo, đá, bãi cạn nửa nổi, nửa chìm của Hoàng Sa, Trường Sa lại nằm giữa Biển Đông và rải rác trên một vùng biển rộng lớn, giá trị tổng hợp của hai quần đảo càng được nhân lên. Về quân sự-quốc phòng, Trường Sa và Hoàng Sa có giá trị như “một tàu sân bay không chìm”, là căn cứ để đóng quân, tiếp dầu, sửa chữa; để luyện tập; thử nghiệm vũ khí, khí tài và tác chiến. Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng là phòng tuyến bảo vệ đất nước từ xa, là tiền tiêu canh giữ và khởi động phản công/tiến công; kiểm soát bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải và hàng không trong khu vực… Hẳn rằng, loại thông tin như trên cũng như một thông điệp giải thích tại sao Biển Đông những thập kỷ gần đây luôn rơi vào trạng thái căng thẳng, do có những thế lực nhòm ngó, gây ra tranh chấp.
Công trình cũng điểm lại nhiều loại cứ liệu, từ truyền thuyết (theo Vũ Quỳnh, Kiều Phú với Lĩnh Nam chính quái), kể chuyện Lạc Long Quân hóa phép diệt trừ Ngư tinh ngoài Biển Đông (Đông Hải), khai thông đường biển. Kế đến là cứ liệu về khảo cổ học với không gian văn hóa Sa Huỳnh-Nhà nước Lâm ấp, Champa; không gian văn hóa óc Eo-Vương quốc Phù Nam và Đế quốc Phù Nam. Căn cứ vào kết quả của các cuộc khai quật khảo cổ học, với sự khảo cứu của các nhà khảo cổ học và sử học Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Lương Ninh, Trịnh Sinh, Lâm Thị Mỹ Dung… cùng nhiều học giả quốc tế, tác giả khẳng định: “Hoàn toàn có cơ sở để có thể khẳng định trên các đảo thuộc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã có người từ thời tiền sử cho đến người Việt Nam trong nhiều thế kỷ liên tục cho đến ngày nay qua lại, làm ăn và cư trú” (tr.89).
Kế theo đó, nội dung Biển Đông và con đường Nam tiến của quốc gia Đại Việt thế kỷ XI-XVI, điểm lại diễn trình khai mở, khai chiếm, khai thác, từng bước làm chủ biển đảo/Biển Đông của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc của cư dân văn hóa Sa Huỳnh, Đồng Nai, óc Eo, Phù Nam.
Vậy là, lịch sử Việt Nam được mở đầu bằng sự ra đời của ba vương quốc cổ đại đầu tiên là nước Văn Lang-Âu Lạc ở miền Bắc, nước Lâm ấp-Champa ở miền Trung và nước Phù Nam ở miền Nam. Lịch sử Việt Nam được tích hợp ít nhất từ ba dòng như thế. Các vương quốc nói trên cùng có chung một dải Biển Đông, đều có nguồn gốc biển của mình và trong thực tế, biển đã giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, là nhân tố quyết định cả sự hình thành, hưng thịnh hoặc/và sự suy tàn của mỗi vương quốc. Nguyễn Bỉnh Khiêm, bậc hiền triết, một đại diện kiệt xuất của trí tuệ Việt Nam thế kỷ XVI, thấu hiểu nguồn năng lượng dồi dào từ Biển Đông mang lại và cái căn cốt sức sống đất nước, cần phải cậy nhờ ở biển cả, nên đã nêu thành minh triết, thành nguyên tắc sinh tồn Việt Nam:
“Biển Đông vạn dặm giang tay giữ
Đất Việt muôn năm vững trị bình” (tr.122).
Chương IIIChương IV, tác giả nêu bật một sự thực lịch sử là: từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, các nhà nước quân chủ Việt Nam đã chiếm hữu thật sự và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách đầy đủ, trọn vẹn trong hòa bình và không hề gặp sự phản đối hay tranh chấp của bất cứ quốc gia nào. Đây là hình thức thiết lập chủ quyền của nhà nước trên một lãnh thổ vô chủ, hoàn toàn không có liên quan gì đến chủ quyền của quốc gia khác, nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ quốc gia, hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ của luật pháp quốc tế.
Chương III: Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa trong thời kỳ chúa Nguyễn và vương triều Tây Sơn thế kỷ XVII-XVIII.
Nhiều nhà hàng hải phương Tây đương thời ghi lại thực tế từ thế kỷ XVI, cư dân duyên hải miền Trung Việt Nam (tức cư dân Chăm, có cư dân Việt và có cư dân hòa huyết Chăm-Việt), từ Thuận Hóa-vốn là đất cũ của Vương quốc Champa, vươn ra biển và Nam tiến tìm sinh kế mới. Nhiều bản đồ hàng hải phương Tây đánh dấu nhóm bãi cạn ở phía Tây Nam quần đảo Hoàng Sa (được gọi chung là Pracel hay Paracels), trong đó phải kể đến tấm bản đồ hoàn chỉnh, chính xác nhất đương thời của nhà địa lý học Hà Lan G. Mercator, vẽ năm 1569, xuất bản khoảng những năm 1585-1595. Vùng biển đảo duyên hải kể trên đến đầu thế kỷ XV đã từng bước được tích hợp vào lãnh thổ nước Đại Việt.
Năm 1620, Nguyễn Phúc Nguyên trả lại sắc của chúa Trịnh, cắt đứt hẳn mọi quan hệ lệ thuộc với chính quyền Lê-Trịnh, khẳng định dứt khoát quyền độc lập thật sự của chính quyền chúa Nguyễn ở phương Nam. Theo đó, Nguyễn Phúc Nguyên-vị chúa Nguyễn đầu tiên tự xưng An Nam Quốc vương đã xử lý quan hệ quốc tế trong tư thế một quốc gia độc lập, có chủ quyền, như GS Kawamoto Kuniye nhận xét, điều này đã “biểu lộ nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn trước thời đại mới” (tr.137). Dù vẫn cần thời gian để khảo cứu tư liệu dị bản, vẫn có thể thấy rõ chúa Tiên (Nguyễn Hoàng Thái Tổ) khi vào Nam dựng nghiệp phải xử lý nhu cầu chiếm lĩnh các quần đảo ở giữa Biển Đông và ông đã chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho việc chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông. Nhưng, cũng theo tư liệu, đến cuối thập niên 20 và đầu thập niên 30 của thế kỷ XVII, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên chính là người lập ra Đội Hoàng Sa-một hình thức khai chiếm-xác lập và thực thi chủ quyền hết sức độc đáo trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông. Đây cũng là dấu mốc lịch sử và pháp lý về chủ quyền Nhà nước của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chương IV: Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa trong thời kỳ nhà Nguyễn thế kỷ XIX.
Công trình điểm lại các hoạt động thể hiện việc tiếp tục sự nghiệp khai chiếm-xác lập và thực thi chủ quyền của các triều vua Nguyễn đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… Vu Hướng Đông, chuyên gia Trung Quốc nghiên cứu về biển đảo Việt Nam cho biết: “Nhân tố biển đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của các thế lực cát cứ các chúa Nguyễn… Vua Gia Long nhờ vào biển để phát triển thế lực của mình…” (tr.191). Giáo sư Vu Hướng Đông dành nhiều dòng nói về những công tích lẫy lừng trên biển của vua Gia Long; nhưng điều quan trọng mà ông chưa nói tới, đó là hoạt động xác lập tuyệt đối và thực thi đầy đủ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa của vua Gia Long với tư cách là người sáng lập và đứng đầu vương triều Nguyễn. Theo đó, hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải được tích hợp với đội thủy quân, dần dần được điều chỉnh nâng cấp thành một đội thủy quân thống nhất, từ dân binh Quảng Ngãi, Bình Thuận thành lực lượng quân đội chính quy của Nhà nước đặc trách công việc bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Theo giám mục người Pháp Jean Louis Taberd, người từng nhiều năm truyền giáo ở Trung Kỳ và Nam Kỳ, năm 1816 nhà vua [Gia Long] đã long trọng cắm lá cờ của mình và chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này [Pracel và xung quanh], mà chắc chắn là sẽ không có một ai sẽ tìm cách tranh giành (tr.200). Năm 1850, cũng miêu tả sự kiện trên, M. A Dubois de Jancigni, phái viên của Chính phủ Pháp tại Trung Quốc và Đông Dương đã viết, nhà vua Gia Long đã chủ tâm “đính thêm đóa hoa độc nhất vô nhị đó” (tức Paracels-Cát Vàng) vào chiếc vương miện của ông… chính vì thế mà năm 1816 ông đã long trọng kéo lá cờ xứ Đàng Trong lên mảnh đất đó (tr.204). Tiếp theo Gia Long, Minh Mệnh đặt ra nguyên tắc vẽ bản đồ chính thức của vương triều phải bao bọc được cả Biển Nam (Hoàng Sa, Trường Sa), Biển Tây (vịnh Thái Lan) và dứt khoát phải mang tên Đại Nam. Như thế, đến đây người Việt Nam vừa xác lập, khẳng định và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa, vừa thể hiện nó rõ ràng, minh bạch trên bản đồ quốc gia chính thức và thống nhất.
Trong suốt gần 150 năm vương triều Nguyễn (1802-1945), ngay cả đến thập kỷ cuối thế kỷ XIX, khi đất nước không còn độc lập, không có bất cứ một vị vua nào nhân danh đất nước hoặc nhân danh vương triều tuyên bố từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa. Giữa lúc đó, cả Pháp và Trung Quốc đều chưa quan tâm [hay chưa có điều kiện quan tâm] đến vùng biển đảo “hoang vu và cằn cỗi nhất địa cầu” này, thì thế kỷ XIX lại là thế kỷ huy hoàng của lịch sử xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa một cách thật sự, trọn vẹn trong hòa bình và hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ của luật pháp quốc tế.
Chương V: Tranh chấp, tranh biện về chủ quyền và thực trạng chiếm đóng ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1909 đến nay.
Đặt trong lôgíc của công trình này, sách giới thiệu một cách khái lược và làm nổi bật một chân lý lịch sử là mặc dù trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, phức tạp, ngay cả khi đất nước đã bị mất quyền độc lập, nhưng chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa vẫn được các thế hệ người Việt Nam nêu cao và gìn giữ bằng mọi giá.
Ngay ở đầu chương này, tác giả luận giải về quá trình tranh chấp, tranh biện về chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ năm 1909 đến năm 1939. Tác giả vạch rõ, mặc dù Sách trắng của Trung Quốc khẳng định từ thời Hán Vũ Đế (140 Tr.CN-88 Tr.CN), Trung Quốc đã phát hiện ra hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa), nhưng hoàn toàn không có bất kỳ tư liệu nào chứng minh cho luận điểm hoang tưởng này. Bản đồ Trung Quốc cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX vẫn chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam với những lời giải thích tuyệt đối chính xác rằng “điểm tận cùng của Trung Quốc là bờ biển Nhai Châu trên quần đảo Quỳnh Châu tức 18o13’ Vĩ độ Bắc” (tr.261). Và, không chỉ bản đồ Trung Quốc mà bản đồ phương Tây cũng vẽ và giải thích về phạm vi lãnh thổ, lãnh hải của Trung Quốc hoàn toàn đúng như vậy. Ví như, tại Thư viện Menzies (Đại học Quốc gia úc), lưu giữ tấm bản đồ Trung Quốc của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc Công ty Đông ấn Hà Lan thế kỷ XVII trong một bộ sách đồ sộ, khi mô tả địa lý Trung Quốc, cũng chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam với lời giải thích rất cụ thể và chính xác là “nơi xa nhất của Trung Quốc (tính theo chiều ngang)” (tr.264). Thư tịch và bản đồ cổ của Trung Quốc tính cho đến cuối thế kỷ XIX và thậm chí cả thập niên đầu của thế kỷ XX đều phản ánh một thực tế hết sức hiển nhiên là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc chưa bao giờ vượt qua đảo Hải Nam.
Lần theo lịch sử chiếm hữu các quần đảo giữa Biển Đông, tác giả cho biết “Mãi cho đến năm 1919, Tổng cục Bưu chính thuộc Bộ Giao thông nước Trung Hoa Dân quốc cho biên soạn và xuất bản bộ bản đồ Trung Quốc các thời đại trong lịch sử, mặc nhiên các thời đại trước từ Tần, Hán cho đến Đường, Tống, Nguyên, Minh… không có tấm bản đồ nào có đánh dấu khu vực Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) là thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Đặc biệt, tấm bản đồ Thanh đại đồ cũng chỉ vẽ lãnh thổ Trung Quốc đến cực Nam của đảo Hải Nam” (tr.269-270).
Đến cuối những năm 1930, Trung Quốc bắt đầu đề cập đến các tên Đoàn Sa, Nam Sa, nhưng thực tế họ chưa có một biểu hiện cụ thể nào có thể được coi là hành động chiếm hữu dù chỉ là bộ phận rất nhỏ thuộc các quần đảo này. GS Monique Chemillier-Gendreau xác nhận, từ những hành vi trong năm 1909, dù có bổ sung thêm vài đặc nhượng, đánh dấu một sự quan tâm nhất định nhưng không đủ cấu thành một sự chiếm hữu lâu dài, thật sự, hòa bình và liên tục (tr.273).
Vẫn lần theo lịch sử, công trình tóm lược những hoạt động của Pháp. Từ thái độ “nhắm mắt làm ngơ” cho đến quyết tâm của Pháp giành và giữ chủ quyền của các quần đảo giữa Biển Đông trên cơ sở chủ quyền thật sự và lâu đời của Vương quốc An Nam.
Ngày 1-10-1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, đơn vị đồn trú của Trung Hoa Dân quốc phải rời khỏi đảo Phú Lâm, nhưng không có lực lượng quân đội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế. Từ đó, đến năm 1954, chỉ còn quân đội Pháp là lực lượng duy nhất đại diện cho quân đội Liên hiệp Pháp độc chiếm quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao lại cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa.
Tại diễn đàn Hội nghị San Francisco ngày 7-9-1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu, với tư cách thành viên chính thức của Hội nghị, đã long trọng tuyên bố: “Chúng tôi khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Hai quần đảo này luôn luôn là một phần của Việt Nam” (tr.301).
Chủ quyền của Việt Nam và thực trạng chiếm đóng của các bên tranh chấp ở Hoàng Sa, Trường Sa từ 1956 đến nay, là nội dung độc giả có nhiều điều kiện tiếp cận từ các ấn phẩm và phương tiện truyền thông.
Trong thời kỳ chính thể Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam từ 1956 đến 1975, cả về ngoại giao và quân sự, Chính phủ VNCH luôn thể hiện quyết tâm và ý chí bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 13-7-1971, tại Hội nghị ASPECT Manila, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm tuyên bố khẳng định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam (tr.307). Ngày 11-1-1974, do bị Trung Quốc chủ động tiến công trước trong bối cảnh Hải quân VNCH đang gặp quá nhiều khó khăn, nên bị thất thủ. Trong khi chiến sự đang diễn ra, ngày 19-1-1974, Bộ Ngoại giao VNCH ra tuyên cáo: “Với tư cách một nước nhỏ bị cường quốc vô cớ tấn công, VNCH kêu gọi toàn thể các dân tộc trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo của Trung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó” (tr.308).
Ngày 20-1-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố phản đối hành động Trung Quốc dùng vũ lực thôn tính toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (tr.308).
Trong thời kỳ đất nước Việt Nam thống nhất, đổi mới và hội nhập quốc tế từ năm 1975 đến nay. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, trong đó có quần đảo Trường Sa.
Ngày 24-9-1975, trong chuyến thăm Trung Quốc của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam dẫn đầu, khi thảo luận về vấn đề bất đồng quan điểm giữa hai nước ở Hoàng Sa, Trường Sa, Phó Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Vấn đề tất nhiên sẽ được đưa ra thảo luận trong tương lai” (tr.312). Ngày 1-1-1986, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang đã ra tận Hoàng Sa khảo sát, chuẩn bị cho chủ trương phiêu lưu mới của Trung Quốc (tr.314-315). Từ đây, mật độ các cuộc xâm nhập vùng biển Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, chiếm giữ trái phép các bãi đá (Chữ Thập, Châu Viên, Huy Gơ, Ga Ven, Xu Bi…) và cản trở Việt Nam hoạt động bảo vệ và sinh sống trong khu vực chủ quyền của Việt Nam liên tục diễn ra, đặc biệt nghiêm trọng như vụ Trung Quốc đưa nhiều tàu hộ vệ tên lửa đến Gạc Ma ngăn cản bộ đội Việt Nam làm nhiệm vụ và cho lính xông lên chiếm Gạc Ma (3-1988); hoặc vào đầu tháng 5-2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Haiyang Shiyou 981 (HD981) nằm sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (tr.321)…
Bất chấp những thương lượng và phản đối của Việt Nam cùng áp lực từ quốc tế, tính đến tháng 7-2015 [thời điểm công trình này tổng kết], Trung Quốc đã hủy hoại hàng trăm km2 bề mặt của các thềm rạn san hô, biến các bãi cạn nửa nổi nửa chìm, diện tích nhô lên khỏi mặt biển lúc thủy triều lên cao thành các đảo nhân tạo, ước tính khoảng trên 128.000.000m2 trên bề mặt của các đảo nhân tạo này có thể dễ dàng nhận ra các đường băng sân bay, bến cảng, hải đăng, trạm rađa, căn cứ hậu cần và căn cứ quân sự hiện đại. Và, tình hình tranh chấp, căng thẳng ở Biển Đông chỉ được giải quyết khi, cùng với các nước liên quan, cùng cộng đồng quốc tế và nhân loại tiến bộ, bằng nỗ lực phi thường, trên nguyên tắc tôn trọng triệt để, thực sự, và thực hiện nghiêm chỉnh Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; đặc biệt hơn cả phải là sự “tỉnh mộng” và hành xử tuân thủ luật pháp quốc tế của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tr.325).
Gấp lại cuốn sách, xin mượn Lời giới thiệu của GS, NGND Phan Huy Lê để khép lại cảm nhận và ấn tượng của một người được đọc trước công trình này: “Cuốn sách đã cung cấp những chứng cứ khoa học vững chắc, trong đó có những chứng cứ lịch sử và những chứng cứ lịch sử-pháp lý, khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo này. Cuốn sách cũng trình bày những tranh chấp, tranh biện về chủ quyền hai quần đảo do Trung Quốc dấy lên từ năm 1909 cùng những hành động xâm lược và mưu đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc từ năm 1946 đến nay. Đây là một công trình nghiên cứu rất công phu và có hệ thống. Tôi tin rằng cuốn sách sẽ góp phần nâng cao hiểu biết của nhân dân về lịch sử chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo giữa Biển Đông, cung cấp các chứng cứ khoa học khẳng định chủ quyền của Việt Nam” (tr.17)


 * Có thể xem thêm giới thiệu của GS Phan Huy Lê tại đây:
http://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N20275/Sach-moi:-Chu-quyen-cua-Viet-Nam-o-Hoang-Sa,-Truong-Sa-%E2%80%93-Tu-lieu-va-su-that-lich-su.htm


[1] Nguyễn Quang Ngọc (2017) Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa- Tư liệu và sự thật lịch sử, NXB Đại học quốc gia Hà Nội

[2] Phát biểu của GS, TS, NGND Nguyễn Quang Ngọc tại Lễ bàn giao Bộ Atlas Universel giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Nội vụ

TỪ ĐÌNH LÀNG TỚI NHÀ VĂN HÓA: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHÔNG GIAN SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN

TỪ ĐÌNH LÀNG TỚI NHÀ VĂN HÓA: SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHÔNG GIAN SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG NÔNG THÔN (qua khảo sát một số xã ở hạ châu thổ sông Hồng) ...