Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

PHAN THANH GIẢN TRONG LỊCH SỬ CẬN ĐẠI VIỆT NAM *

                                                                        Đặng Huy Vận- Chương Thâu

Lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX trở đi đã chuyển sang một bước ngoặt quan trọng. Nhân dân ta vừa phải chịu ách thống trị nặng nề của giai cấp phong kiến trong nước đã cực kỳ thối nát, vừa phải đương đầu với một thế lực ngoại xâm hung hãn hòng gấp rút thôn tính nước ta. Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn đại diện cho nhà nước phong kiến không có một chính sách đối nội, đối ngoại nào gọi là tương đối có hiểu biết khả dĩ cùng nhân dân chống chọi với thực dân xâm lược. Ngược lại, với đường lối chủ hòa đi đến đầu hàng giặc, triều đình đã để cho bọn Pháp lấn dần từng bước để cho chúng chiếm ba tỉnh miền Đông rồi liên tiếp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ gây cho nhân dân ta biết bao thảm họa. Cùng với triều đình nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản - một đại thần có trách nhiệm quan trọng ở Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó - người đã cầm bút ký điều ước nhường đất cho giặc phải chịu liên đới trách nhiệm như thế nào trước lịch sử, trước nhân dân và Tổ quốc? Cái chết của Phan Thanh Giản cũng như toàn bộ con người của ông còn những vấn đề gì đáng nói? Đó là những sự thực lịch sử khá phức tạp. Viết bài này chúng tôi không có tham vọng làm sáng tỏ được toàn bộ những vấn đề phức tạp ấy, mà chỉ hy vọng trong khả năng hiểu biết có hạn của mình góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu đánh giá Phan Thanh Giản của giới sử học nước nhà hiện nay do Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử của Viện Sử học đề ra từ đầu năm.

 Phan Thanh Giản tự là Tịnh Hà, lại có tự là Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh năm 1796 tại làng Tân Thanh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Bảo Thạnh, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Cha ông là Phan Thanh Ngạn trước kia có làm một viên chức nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long nhưng vì tính cương trực và thanh liêm nên cuộc sống thanh bạch. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản bị hạn chế nhiều, nhưng do chỗ ông là người thông minh hiếu học, nên đến năm 29 tuổi (1825) ông thi đậu Cử nhân tại Gia Định và sang năm sau (1826) thi hội ở kinh đô, ông đậu ngay Tiến sĩ và cũng là ông Nghè nho học đầu triên của Nam Kỳ. Từ cuộc đời đèn sách cử nghiệp bước sang cuộc đời hoạn lộ, Phan Thanh Giản bắt đầu được triều đình Minh Mạng lần lượt phong chức Hàn lâm viện biên tu làm Tri phủ ở Quảng Bình (1827), Lang trung bộ Hình (1827), Tham biện tỉnh Quảng Bình (1828), Quyền nhiếp Tham hiệp Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và được bổ vào Nội các (1830) rồi Hiệp trấn Quảng Nam (1831)… nhưng không phải là mỗi năm thăng một trật mà thực ra cuộc đời làm quan của ông cũng có nhiều lúc thật long đong. Từ địa vị là quan Hiệp trấn, ông bị giáng xuống làm Tiền quân hiệu lực vì thất bại trong vụ dẹp loạn Cao Giồng, Quảng Nam. Nhưng rồi lại được phục chức, thăng chức, được cử đi công cán ở Sing-ga-po (Singapore) làm Phó sứ đi Trung Quốc, rồi lại bổ làm Tuần vũ Quảng Nam, nhưng bị tên nịnh thần Võ Duy Tân vu cáo cho là mưu khởi loạn, ông lại bị vua giáng xuống chức “lục phẩm”, đồng thời bị phái đi coi việc khai mỏ vàng ở Quảng Nam, sau đó lại bị sai ra tận Thái Nguyên coi việc khai mỏ bạc. Đó là thời kỳ “công cán” của ông dưới triều Minh Mạng. Minh Mạng chết ông lại công cán dưới thời Thiệu Trị, làm chức Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên, Phó đô ngự sử của Đô sát viện, giảng dạy và điều khiển “trường Kinh Niên”, về sau lại làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ lịch sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Dưới triều vua Tự Đức, Phan Thanh Giản được bổ làm chức Thượng thư bộ Lại sung Cơ mật viện Đại thần (1848). Từ đây, chức quyền của ông cũng to lớn và quan trọng như những việc làm to lớn và quan trọng của ông. Năm 1850, ông cùng với Võ hiển Nguyễn Tri Phương vào trấn nhiệm miền Tây. Sau đó lại làm Phó sứ kinh lược Nam Kỳ kiêm Tuần phủ Gia Định coi các tỉnh Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Hòa, ông cùng với Chánh sứ kinh lược Nguyễn Tri Phương chiêu dân lập ấp, khai phá rừng rậm, cày cấy làm ăn và lập đồn lũy ngăn chống giặc dã. Đến lúc quân Pháp gây hấn (1858), Ri-gôn đờ Giơ-nui-y (Rigault De Genouilly) và Mông-ti-nhi (Montigni) bắt đầu đem chiến thuyền vào cửa Đà Nẵng rồi đánh lấy Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Phan Thanh Giản lại được vua cử vào Quảng Nam, Đà Nẵng vỗ về dân chúng trong lúc Nguyễn Tri Phương phải giữ mặt trận Gia Định. Tiếp đến ông lại cùng Lâm Duy Hiệp làm Chánh phó sứ toàn quyền đại thần vào Nam thương thuyết rồi ký Hòa ước 5/6/1862 với Bô-na (Bonard) và Pa-lăng-ca (Palanca) gồm 12 điều khoản, trong đó có khoản 3 phải cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và khoản 8 phải bồi thường 4.000.000đ trong 10 năm. Sang năm 1863, ông lại được vua cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản và một đoàn tùy tùng sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Cũng từ chuyến đi này, ông được thấy tận mắt nền văn minh tiến bộ của Tây phương, lại cộng thêm với tư tưởng chủ hòa cố hữu của ông đã làm cho ông thêm tiêu cực, nên sau khi bị thất bại trong việc “chuộc đất” trở về, trước sự lấn dần bằng vũ lực của bọn thực dân xâm lược, ông đã thuận để cho giặc Pháp chiếm luôn cả ba tỉnh miền Tây (1867), rồi soạn tất cả 23 chiếu chỉ của triều đình ban tặng cho từ trước đến nay gửi trả lại triều đình, đồng thời nhịn đói và uống thuốc độc tự tử.

Cái chết của Phan Thanh Giản kết thúc tấn bi kịch cuộc đời hoạt động chính trị và ngoại giao của ông, nhưng cái chết của Phan Thanh Giản cũng để lại cho lịch sử những nghị luận phân vân bất nhất giữa người đương thời cũng như ở cả trong chúng ta ngày nay nữa. Làm thế nào để đi đến một ý kiến nhất trí về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản? Cũng như đánh giá bất cứ một nhân vật lịch sử nào, chúng ta đều phải đặt nhân vật ấy trong hoàn cảnh nhân vật ấy sống và hoạt động. Đối với Phan Thanh Giản, mang trên người trách nhiệm là “toàn quyền đại thần” là “chánh sứ như Tây”, là người thay mặt triều đình ký hàng ước với Pháp và trao trọn sáu tỉnh Nam Kỳ cho giặc. Trách nhiệm của Phan tất nhiên là rất to lớn; nhưng chúng ta không thể chỉ nhìn thấy trách nhiệm của Phan mà không thấy trách nhiệm chủ yếu lại là của giai cấp phong kiến, chúng ta cũng không thể chỉ đơn thuần căn cứ vào hành động của Phan mà không xét đến động cơ xuất phát của những hành động ấy và chúng ta cũng không thể bỏ qua những mặt khác trong toàn bộ cuộc đời của Phan Thanh Giản. Có như thế chúng ta mới cắt nghĩa được một cách tương đối chính xác. Nhưng vì sao đối với Phan Thanh Giản còn có những nhận định khác nhau, đó phải chăng là vì mỗi người dựa vào một vài khía cạnh đáng trách hoặc đáng khen ở Phan Thanh Giản? Đó cũng chính là đầu mối của những sự bất nhất trong khi nhận định về Phan Thanh Giản.

Để đi đến một nhận định đúng đắn về con người Phan Thanh Giản, chúng ta phải gạt ra ngoài những luận điểm của bọn thực dân và bè lũ tay sai bán nước, như ý kiến của tên Sa-ten (Chatel): “Khi mà một ý nghĩ về sự hợp tác Pháp - Nam hình như có vẻ quái đản… thì nhà ái quốc An Nam này - rất trung thành với đất nước của ông, nhưng sáng suốt về tương lai một cách lạ lùng - đã nhận thấy khả năng tồn tại sau này của nó và đặt những viên đá đầu tiên cho lâu đài ấy”[1]. Hắn cho Phan là người sáng suốt bậc nhất, biết suy nghĩ tốt nhất về cuộc sống hạnh phúc của nhân dân, về sự phồn vinh của đất nước khi có một người bạn Pháp bên cạnh khai hóa cho, bảo hộ cho. Sa-ten nói thêm rằng “Phan Thanh Giản biết hướng lòng yêu nước của ông theo biến cố của thời đại. Ông ta đủ thông minh để hiểu thế lực của người Pháp mà ông đã có liên hệ với họ trong những ngày ở Nam Kỳ, ông ta đã biết nước Pháp tiến bộ và giàu có khi ông đi thăm. Ông ta hiểu rằng quân đội của nước ông không thể chống lại được với quân đội của nước Pháp và do đó phải tránh làm đổ máu vô ích của người An Nam. Phan Thanh Giản cũng là người đầu tiên cổ võ cho sự hợp tác Pháp - Nam, một khẩu hiệu phong phú đã dùng làm cơ sở cho nền chính trị tự do của nước Pháp”[2].

Những ý kiến trên đây của Sa-ten chỉ nhằm một mục đích chính trị thâm độc cốt xoa dịu tinh thần đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta lúc bấy giờ, nhằm vào đường lối “chủ hòa” “đầu hàng” của triều đình Huế mà Phan phục vụ để khuếch trương nó lên, để biện minh cho chủ nghĩa “Pháp - Việt đề huề” của chúng. Không lạ gì cái mà bọn thực dân cáo già đề cao lại chính là chỗ yếu nhất của Phan Thanh Giản, như là sự “hợp tác Pháp - Nam”, “hiểu thế lực của người Pháp”,… Điều đó thiết tưởng khỏi phải bàn thêm, chúng ta cũng rõ miệng lưỡi gian xảo của bọn chúng rồi.

Một số người khác - đa số là những người trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 - khi viết về thân thế sự nghiệp của Phan Thanh Giản đã coi ông là “một vị anh hùng đã hy sinh tâm hồn và thể xác cho nước Việt Nam” là “biểu tượng của lòng ái quốc thức thời…”[3]. Trước cái chết mang nhiều tính chất bi kịch của Phan Thanh Giản đã được họ coi là cái chết của một người am hiểu thời thế, sáng suốt trông cục diện nước nhà trong khi người Việt Nam từ vua chí dân đang trong cơn ngu muội. Vì ông là người được giao thiệp luôn với người Pháp ở Nam Kỳ, chung đụng với dân Pháp trong thời kỳ đi sứ, mắt thu được nhiều cái đẹp, cái hay của văn minh tân tiến và hiểu thế nào là sức mạnh của bên địch, nên ông biết không đương đầu được với kẻ thù nếu không mở mang dân trí, huấn luyện lại binh lính, sửa đổi lại quân nhu. Ông muốn tránh cho nước nhà cảnh sông máu, núi thây trong khi chờ đợi thời cơ mới: “Ông cố tránh cho dân Việt khỏi nhỏ máu một cách phí phạm, hy sinh một cách điên cuồng vô ích tấm thân đáng lẽ ích lợi cho quốc gia. Ông cố nâng cao trình độ dân trí nước nhà, khuyên vua nên vỗ về dân, khuyên dân nên tận tụy làm việc, ngõ hầu nước Việt Nam mới tiềm tàng được sức mạnh đương đầu với những cơn phong ba chìm nổi. Song, khốn thay giữa cái xã hội cổ hủ, lời hô hào của ông cũng như của Nguyễn Trường Tộ chẳng có tiếng vang. Ông đành cam lòng làm hết bổn phận của mình rồi lấy cái chết để đền nợ nước”[4]. Viết những lời nhận định này, các ông Tam Thanh và Hoành Hải có thể đã nhìn thấy phần nào động cơ và thiện ý của Phan Thanh Giản, nhưng nói như thế chỉ là mới nói được một mặt. Các ông đã không nhìn thấy mặt hậu quả tai hại của “những hành động đầy thiện ý” ấy của Phan Thanh Giản. Các ông đã không nhìn thấy mặt trách nhiệm to lớn như thế nào của Phan Thanh Giản trong việc cắt đất nhường cho Pháp.

Chúng ta đều biết rằng Phan Thanh Giản là một quan lại cao cấp của triều đình nhà Nguyễn, ông xuất thân là một người nho học uyên thâm, lại sống trong giai đoạn chế độ phong kiến nước ta đã lụn bại đến cực độ, cả giai cấp phong kiến đã mất hết sinh khí, nó cũng tỏ ra khiếp nhược hơn trước sự bành trướng thế lực của chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Trên con đường phát triển mở rộng thị trường, chủ nghĩa tư bản thực dân đã từng diễu võ dương oai, chúng không những tỏ ra có ưu thế tuyệt đối về vũ khí và chiến thuật mà còn có những âm mưu thủ đoạn vô cùng thâm độc ngoài sự ngờ vực và hiểu biết của triều đình phong kiến ngu dốt và thủ cựu như triều đình phong kiến nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Phan Thanh Giản đã suốt “ba triều công cán”, tức là với cả Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách, đã hết lòng, hết sức phục vụ “vua trên”, lại được tận mắt trông thấy những cái “văn minh”, “tân tiến”, “sức mạnh phi thường” của bọn Pháp, vốn sẵn bản thân đã mang nặng tư tưởng “từ bi”, “bác ái” của cái Nho giáo lỗi thời từ chỗ mang tư tưởng “chủ hòa một các tiêu cực” đi đến  tư tưởng “thất bại chủ nghĩa”, tiến hơn một bước nữa là đi đến tư tưởng “đầu hàng chủ nghĩa”. Trong ý thức hệ của Phan, nhìn lên trên thấy khó trông mong được ở triều đình một cái gì “khả thủ”, nhưng lại không biết đến nguồn sức mạnh chiến đấu vô tận ở nhân dân. Phan, trước sức uy hiếp của giặc đã đang tay ký “Bản hòa ước 1862” với giặc. Quê cha đất tổ bị bày quỷ dữ giày xéo? Phan Thanh Giản bị nhân dân cả nước lên án và phản đối mọi hành động chủ hòa của triều đình và của chính ông:

“Bớ các quan ơi!

Chờ thấy chín trùng hòa nghị mà tấm lòng dịch khái nỡ phôi pha,

Đừng rằng ba tỉnh giao hòa mà cái việc cừu thù đành bỏ dở”[5]

Nhân dân đã tỏ thái độ của mình với các quan như vậy mà ông vẫn chưa tỉnh ngộ, không biết đứng về phía nhân dân và các sĩ phu yêu nước khác tổ chức kháng Pháp, vẫn cứ đi sâu vào con đường chủ hòa, cầu hòa, xin chuộc đất đã đánh dấu thêm một bước thất bại của đường lối đầu hàng, “xin xỏ” của triều đình Huế. Từ ngày đi Pháp xin chuộc đất về, Phan Thanh Giản lại càng bi quan tiêu cực hơn, ông đã thở dài:

“Từ ngày đi sứ đến Tây kinh

Thấy việc Âu châu phải giật mình!”[6]

Ông khiếp sợ và mất tin tưởng đến nỗi cảm khái:

“Trăm món khéo bằng tay thợ tạo

Duy còn sống chết chịu thua trời”[7].

Thế rồi Phan Thanh Giản không chịu lo chuẩn bị đề phòng chống Pháp mà để cho giặc lấn dần, để đến nỗi trong bốn ngày từ 21-6 đến 25-6-1867, chúng lấy luôn cả ba tỉnh miền Tây. Sáu tỉnh Nam Kỳ nằm gọn trong tay Pháp. Những cố gắng mong muốn chuộc đất cầu hòa để đền đáp ơn vua nợ nước… Cuối cùng ông đã phải trả giá bằng chén thuốc độc kết thúc cuộc đời!

Cái chết bi đát của Phan Thanh Giản quả có làm xúc động lòng người, nhưng chúng ta không thể vì cái chết ấy mà coi nhẹ trách nhiệm của Phan được. Trước đây đã từng có người muốn phủ nhận phần trách nhiệm của Phan trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kỳ, họ cho rằng trước tình hình lúc bấy giờ Phan Thanh Giản không thể nào làm khác. Thậm chí họ còn cho những hành động của Phan là sáng suốt, là “thông quán thức thời, nhưng gặp phải vận nước đến hồi mờ mịt, lòng người đang lúc đảo điên, nên không muốn hy sinh vô ích đám ba quân và chẳng nỡ để lụy cho dân”[8]. Điều đó hoàn toàn không đúng. Khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta thì chế độ phong kiến đã suy yếu đến cực độ, hoàn cảnh lúc bấy giờ có nhiều khó khăn, nhưng con đường đúng đắn duy nhất để bảo vệ quê hương Tổ quốc là phải chiến đấu, có chiến đấu thì mới bảo toàn được nền độc lập của nước nhà. Nhưng triều đình nhà Nguyễn và đa số đình thần trong đó có Phan Thanh Giản lại chủ hòa!

Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại giai đoạn lịch sử ấy để thấy rõ trách nhiệm của bọn vua quan nhà Nguyễn và thấy rõ con đường của những người dân chân chính đã chọn, để thấy rõ ai là người sáng suốt - nhân dân và sĩ phu kháng chiến sáng suốt hay triều đình Huế và phái chủ hòa Phan Thanh Giản sáng suốt. Từ tháng 9 năm 1858, khi mới đổ bộ lên Đà Nẵng, thực dân Pháp đã có âm mưu đánh ra Huế bắt chính quyền trung ương của nhà nước phong kiến đầu hàng, nhưng chúng bị dân quân ta chặn lại ở Đà Nẵng, sau phải đánh vào Nam Kỳ lấy Gia Định trước đã rồi đánh chiếm lan ra. Lúc đó nếu một triều đình biết tự trọng còn giữ được truyền thống chống xâm lăng của dân tộc, biết dựa vào nhân dân lúc nguy nan thì đã có một đường lối mạnh bạo kiên quyết chống giặc giữ nước như đời Lê, đời Trần. Trái lại, triều đình nhà Nguyễn đã không tin vào dân, rồi đánh cũng không dám đánh, kẻ chủ hòa, người chủ chiến, thái độ thì hèn nhát, địch tình thì lờ mờ,… Cuối cùng ý kiến của Viện Cơ mật lại là “thủ để hòa”, chỉ đào hào đắp lũy để cố thủ và hy vọng “trì cửu” cho quân Pháp mỏi mệt mà phải rút! Thậm chí, có đình thần còn nghĩ rằng: “Họ ở xa ta, nên không thôn tính được ta”, “Vì ta lạnh nhạt nên họ mới đánh ta” (!), thực chất đây là một chủ trương đầu hàng dần từng bước đến đầu hàng vô điều kiện. Cho nên trước sự hèn nhát của triều đình như thế, một số sĩ phu phong kiến nhất định không nghe theo. Họ đã cùng nhân dân đứng lên kháng Pháp và đã gây cho địch nhiều tổn thất quan trọng, đã làm cho bọn đầu sỏ thực dân và đám quan quân của chúng lắm lúc thoái chí nản lòng. Tên tướng Pháp chỉ huy là Ri-gôn đơ Giơ-nui-y trong tờ trình về bên Pháp triều đã công nhận: “Người ta - (đây là tên gián điệp Pen-tơ-ranh) báo cáo rằng quân đội (Việt) không có gì, sự thực thì quân đội chính quy rất đông, còn dân quân thì gồm tất cả những người mà không đau ốm và không tàn tật…”[9]. Tinh thần kháng chiến của nhân dân còn thể hiện ở chỗ họ đã hăng hái thực hiện chính sách “vườn không nhà trống” tích cực góp lương tiền, còn ra sức đắp kè, lập cản trên các sông Bến Nghé, Đồng Nai, Bảo Định để ngăn tàu địch. Nhân dân đã tổ chức thành những đám nghĩa quân đông tới năm, sáu ngàn dưới quyền chỉ huy của Trần Thiện Chính, Lê Huy để giúp quân triều đình đánh giặc. Từ sau khi Gia Định thất thủ cho mãi đến sau này nữa, nhân dân liên tục tham gia các tổ chức nghĩa quân đánh nhau với giặc không mệt mỏi. Trước nạn nước, lòng dân thật là bồng bột, nhạy như thuốc súng khô, họ đã tự động tìm giặc để đánh, làm cho chúng mất ăn, mất ngủ. Còn như quân triều đình thì chờ chờ, đợi đợi, chậm chạp như rùa, án binh bất động, giặc đến nơi mới chống, chống yếu ớt rồi rút lui. Lực lượng kháng chiến của nhân dân đã làm cho địch phải gờm. Một sử gia thực dân cũng phải công nhận tình hình gay go của chúng trước lực lượng của nghĩa quân và trước chiến thuật du kích của họ: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam không có ảnh hưởng tí nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng. Họ xuất hiện bất kỳ, họ đông đảo, họ đánh phá, rồi họ lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này”[10]. Thế mà triều đình vẫn không đếm xỉa đến! Tinh thần chiến đấu của nhân dân cao như thế mà triều đình vẫn cứ khư khư giữ lấy đường lối “chủ hòa” phản động rồi cắt đất - phần lớn trong vùng có nghĩa quân nộp cho Pháp, ra lệnh giải tán nghĩa quân, phong chức cho thủ lĩnh để chia rẽ họ với một số nghĩa quân. Nghĩa quân không nghe theo thì năm lần bảy lượt đưa thư dụ hàng. Thậm chí ngăn trở việc tiếp tế của nghĩa quân! Nhân dân ta đã trả lời hành vi nhục nhã ấy bằng cách suy tôn Trương Định lên làm Bình Tây đại nguyên soái và giương cao ngọn cờ “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân” tập hợp thêm lực lượng chống Pháp. Do đó, chúng ta thấy rằng trách nhiệm “mại quốc” và “khí dân” mà nhân dân ta lúc bấy giờ cần thiết phải đề lên như vậy chính là trách nhiệm chung của giai cấp phong kiến, của triều đình nhà Nguyễn thối nát, mà Phan Thanh Giản là một người trong đó, người trực tiếp thực hiện chủ trương chính sách phản động của triều đình. Ở đây chúng ta cũng cần biết rõ rằng: “triều đình bỏ dân” chứ nhân dân ta lúc đó không bỏ triều đình. Những hành động tích cực ủng hộ quân đội triều đình, những tổ chức nghĩa quân đứng bên cạnh quân đội triều đình chống Pháp đã chứng tỏ nhân dân ta rất sáng suốt. Mặt khác, chúng ta cũng phải thấy rằng, mâu thuẫn giai cấp trong nước giữa đông đảo nông dân với với thế lực phong kiến trong nước vốn đã từng âm ỷ bấy lâu, đã nhiều phen nổ ra mãnh liệt (khởi nghĩa nông dân) nó càng trở nên quyết liệt, gay gắt hơn dưới triều Minh Mệnh và đầu triều Tự Đức tưởng như không có cơ cứu vãn. Thế mà, khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vừa nổ, thì nhân dân ta đã sẵn sàng gác mối thù giai cấp đó lại để đứng bên cạnh triều đình chống xâm lược đặng bảo toàn nền độc lập của nước nhà. Nhưng triều đình Huế đã ngu xuẩn không biết được điều đó, đã đi ngược lại nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân, đối với thực dân Pháp đã đi từ nhượng bộ này, tới nhượng bộ khác và cuối cùng là dâng đất nước ta cho giặc. Điều đó đã làm cho nhân dân ta công phẫn hô to khẩu hiệu “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân”. Tội lỗi đó triều đình và Phan Thanh Giản phải chịu lấy! Lịch sử vốn không tư tình với một ai. Lịch sử cũng vốn không khe khắt với riêng ai, nhưng lịch sử cũng không bao giờ tha thứ hoặc dễ dãi với bất cứ một ai đi ngược lại quy luật của nó. Lịch sử đã là kẻ chứng kiến những hành động phản bội đất nước của triều đình nhà Nguyễn và của Phan Thanh Giản. Trong lúc triều đình và Phan Thanh Giản ngập sâu vào con đường chủ hòa, thì sĩ phu yêu nước và nhân dân ta đã bằng mọi hình thức tham gia vào cuộc kháng chiến anh dũng. Ngay cả những sĩ phu không có điều kiện trực tiếp xông ra trận tiền trực diện giao tranh với giặc, đã viết những bài hịch, những vần thơ động viên nhân dân chống Pháp, lên án lũ vua quan hèn nhát đầu hàng chỉ bảo toàn tính mạng và địa vị ăn trên ngồi trốc của mình, lên án bọn người có trách nhiệm là “phụ mẫu” của dân giờ đây đã không biết đến tình cảnh điêu linh và tâm trạng khổ nhục của nhân dân Nam Kỳ phút chốc đã trở thành dân mất nước!

Cũng là một sĩ phu, xuất thân nho học như Phan Thanh Giản, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã viết những bài hịch bừng bừng khí phách chiến đấu, hoặc những bài thơ vừa đau xót vừa căm giận khi nhìn thấy quê hương đất tổ rơi vào tay giặc:

“Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông.

Chúa Xuân đâu hỡi có hay không

Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn

Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng

Bờ cõi xưa đà chia đất khác

Nắng sương nay há đội trời chung?

Chừng nào thánh đế ân soi thấu

Một trận mưa nhuần rửa núi sông”[11].

Cũng khác với nhà nho chủ hòa nguy hại, Phan Thanh Giản, cử nhân Phan Văn Trị đã nói lên lời oán hận, oán hận ngay đối với ông Nghè đại thần rằng:

“Tan nhà căm nỗi cơn ly hận

Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa

Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ

Ngậm ngùi hết nói nỗi quan ta”[12].

Ở một số sĩ phu khác, thái độ có phần quyết liệt hơn. Phan Huân ở Hà Tĩnh được tin hòa ước đã ký, vội vàng dâng sớ đòi giết Phan Thanh Giản, đuổi Trương Đăng Quế về nhà và trực tiếp lên án chính sách chuyên chế của Tự Đức. Hơn nữa, việc nước nhà bị xâm lăng và chia cắt đã gieo trong các giới sĩ phu một lòng bất mãn đối với triều đình mà họ cho là đã quá bất lực. Vì thế đã dẫn dến một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử là các sĩ tử thi hương ở các trường thi Thừa Thiên, Nghệ An, Nam Định và Hà Nội biểu tình phản đối ký Hòa ước 1862, đến nỗi triều đình phải cho quan quân đến đàn áp mới yên được. Ngay ở kinh đô, trong hàng quan lại và đến cả người trong hoàng phái cũng ra mặt phản kháng và muốn lật đổ Tự Đức để lập một vua khác, đặng chống ngoại xâm đắc lực hơn. Đó tức là cuộc mưu nổi dậy của công tử Hồng Tập cùng với phò mã Trương Văn Chất định lật đổ triều đình và giết đại thần Phan Thanh Giản và Trần Tiễn Thành năm 1864[13] và cũng ở ngay kinh đô đầu não của chính quyền phong kiến đã từng nổi lên cuộc khởi nghĩa của binh lính và thợ thuyền do Đoàn Trưng, Đoàn Trực lãnh đạo năm 1866 để chống lại triều đình Huế hủ bại không biết lo việc nước mà lại chỉ lo xây lăng miếu, mồ mả tốn kém công sức của cải của nhân dân.

Tất cả những lời nói, việc làm ấy của sĩ phu, của nghĩa quân đã tố cáo một cách đanh thép rằng: Triều đình Huế là tội phạm chính của việc để mất đất nước, bỏ dân, bỏ nước để chỉ lo khư khư giữ lấy ngai vàng đã mọt ruỗng và quyền lợi bẩn thỉu của chúng. Cho nên những tiếng “mại quốc”, “khí dân” chúng phải chịu lấy. Không riêng chỉ tiếng nói bằng thơ văn có sức mạnh tố cáo của các sĩ phu, nhân dân ta vừa đánh giặc nhưng lại cũng vừa sáng tác những bài thơ, bài hịch có sức mạnh tố cáo, vạch rõ trách nhiệm của triều đình phản động, như bài “Hịch đánh Tây” của Lãnh Cồ đã được phổ biến rộng rãi, có những câu như:

“Cơ đồ tan nát, cũng vì triều đình nhu nhược tham sinh nên đã đầu hàng, để cho quân giặc tung hoành, thừa thế ra tay tàn sát”.

 Rõ ràng là từ những ngày đầu, trong cuộc sống nạn nhân của đường lối chủ hòa, đầu hàng, nhân dân ta đã thấy được tội lỗi của triều đình Huế, cái tội lỗi đầu hàng bán nước mà lịch sử càng ngày càng chứng minh. Ở đây chúng ta cũng thấy rằng dư luận công chính bao giờ cũng buộc tội triều đình, hoặc khi nói đến người có trách nhiệm trực tiếp ký hàng ước với giặc là Phan Thanh Giản thì đều gắn với đường lối chủ hòa đầu hàng của triều đình Huế. Tư tưởng chủ hòa tiêu cực của Phan Thanh Giản tất nhiên là sai lầm, nó càng sai lầm hơn khi ông không chịu nghe theo tiếng nói chủ chiến của đông đảo nhân dân, mà chỉ khư khư giữ mãi chủ trương phản động ấy. Mặc dầu có rất nhiều trường hợp, sự thực đã chứng minh hùng hồn rằng “chủ chiến là chiến thắng”, nhất là những cơ hội rất thuận lợi cho việc lấy lại đất nước, như lúc bên địch gặp phải nhiều khó khăn, đang bối rối ở ngay chính quốc, ở chiến cuộc với Ý hay đang bị mắc kẹt ở vùng Hoa - Bắc. Ngay lúc ấy ở Việt Nam do sức kháng chiến mạnh mẽ của quân dân ta tên đề đốc Ri-gôn đơ Giơ-nui-y đang khốn đốn, phải tự điện về Pháp xin viện binh và được bộ Tư lệnh Pháp trả lời là: “Hồi này nước nhà không có thể nào tiếp tế cho tướng quân thêm một tên lính hay một chiếc tầu cũng vậy. Thôi tốt hơn hết là tướng quân liệu bề thương thuyết điều đình với chính phủ nước Nam cho xong, nếu họ cam đoan từ nay trở đi không ngược đãi tín đồ Thiên Chúa giáo thì chúng ta chỉ có việc trả lại thành trì cho họ rồi rút binh về là hơn”[14]. Khi bức thư này qua tay đề đốc Giơ-nui-y tháng 6/1859 thì tình hình quân Pháp ở Việt Nam đang gặp bước hiểm nghèo đặc biệt. Tại Cửa Hàn mới có bệnh dịch lệ phát ra, mỗi ngày giết hại hàng chục người mà công cuộc tiếp tế lương thực rất là gian nan, thành ra toán quân còn lại ở cửa Hàn bấy lâu thiếu thốn cả thuốc men, rượu thịt, quần áo, đến tiền bạc, súng đạn cũng hao hụt nhiều. Thế mà triều đình và phái chủ hòa cứ để mặc, không có một hành động quyết liệt nào, vẫn cứ chờ đợi cho họ mỏi hơi, mệt xác, rồi tự nhiên phải bỏ đi là xong. Thật là tai hại đáng muôn đời nguyền rủa cho chính sách đầu hàng của Tự Đức và cũng thật đáng thương thay cho những đại thần thiếu minh mẫn như Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp. Riêng về phần Phan Thanh Giản, ông phải chịu lấy một phần trách nhiệm to lớn trong chính sách ấy.

Phần trên chúng tôi đã nói về trách nhiệm của Phan Thanh Giản gắn liền với trách nhiệm của triều đình Huế trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kỳ. Nhưng chúng ta còn phải xét thêm cá nhân Phan Thanh Giản và động cơ của những hành động của ông như thế nào nữa để đi đến một nhận định toàn diện hơn về Phan Thanh Giản. Quan niệm cho rằng Phan Thanh Giản là một người “bán nước”- chữ “bán nước” hiểu theo nghĩa thông thường có hoàn toàn đúng không? Chúng tôi nghĩ rằng cái khẩu hiệu “Phan - Lâm mại quốc, triều đình khí dân” viết trên lá cờ của nghĩa quân Trương Định, nghĩa chữ “mại quốc” này không giống nghĩa thật chữ “bán nước” mà nhân dân ta bao đời nay vẫn khép tội cho bọn vong quốc, vong bản như Tôn Thọ Tường chẳng hạn. Tên Việt gian lúc đó là Tôn Thọ Tường, kẻ đã chính miệng mình nói rằng “kể chi danh phận lúc tan hoang” và “thân còn chẳng kể, kể chi danh”,… Bộ mặt bán nước của hắn đã bị công luận lên án và nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị ngay lúc đó đã lột trần chân tướng của hắn trong các bài họa lại với lời lẽ đầy khinh miệt như:

“Đứa ghẻ ruồi, đứa lác voi

Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi

Người tuy mặt đỏ đôi tròng bạc

Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi”[15].

Trái hẳn với Tôn Thọ Tường, Phan Thanh Giản vì thương dân mà “chủ hòa” để rồi dẫn đến tai họa đất mất, quyền mất, người chết mà Phan không lường trước được. Có hậu quả tai hại đó chính là do Phan Thanh Giản mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa, khiếp sợ trước thế lực tư bản. Phan muốn hòa với Pháp và cho đó là con đường đỡ tổn thất cho nhân dân. Phan ngây thơ ngỡ rằng: “giặc ví như chim cắt được ăn no sẽ cất cánh bay đi, ta ví như con rồng còn nương náu, vẫn chờ đợi để lo toan”[16]. Phan cũng đã từng dâng sớ điều trần xin cải cách duy tân nước nhà, Phan muốn yên hàn để tu chỉnh sự kỷ cương đặng một ngày kia phú quốc cường binh. Phan hằng nói: “Dạy dỗ dân chúng cho khỏi u mê, khuyến khích dân làm lụng cày cấy để thêm lợi tức khả dĩ mộ thêm binh lính và trả lương hậu cho họ. Như vậy, dân tình đỡ khổ, lương thảo dồi dào, quân lính cũng được tập luyện tinh nhuệ. Có được như thế thì công hay thủ cũng đều được cả. Chương trình này có thể áp dụng để chống với kẻ cường địch, an lòng nhân dân và tránh đại họa được. Liều đánh bây giờ để hả lòng căm tức, hạ lệnh cho quân sĩ tấn công, chẳng khác xua dê vào miệng cọp”[17]. Tư tưởng của Phan là muốn có sức mạnh đã rồi có thể chiến đấu và chiến thắng, chứ Phan không biết nghĩ rằng trong chiến đấu sẽ trưởng thành (như chúng ta ngày nay). Cho nên khi hòa ước được ký kết, Phan Thanh Giản đã ngây thơ tin ở giặc và nói với Nguyễn Tri Phương rằng: “hòa nghị đã thành có thể ngồi mà hưởng phú cường”[18]. Phan có ngờ đâu rằng “quân beo sói khó diệt hết mà cũng khó làm thân”[19]. Chính vì kiên trì tư tưởng chủ hòa tai hại ấy, nên hậu họa to lớn trực tiếp đầu tiên Phan phải chịu tức là cái chết bi thảm. Cái chết của Phan đã chứng tỏ sự bất lực hoàn toàn đối với lòng tin cậy của triều đình và cũng để tỏ cho nhân dân rằng mình đã sai lầm và chịu tội trước nhân dân. Tất nhiên, cũng không phải chỉ riêng vì cái chết này mà chúng ta phải nói ngay rằng Phan Thanh Giản là người không tham sống sợ chết, thấy giặc thì chạy dài lo bảo toàn thân mình như bọn Tôn Thọ Tường, Nguyễn Bá Nghi. Trái lại, ở Phan Thanh Giản chúng ta thấy một tấm lòng ưu ái sâu sắc đối với dân, với nước. Tất nhiên tư tưởng của ông chưa thể vượt ra khỏi phạm vi trung quân, những hành động phục tùng triều đình phong kiến của ông đã cho chúng ta thấy quá rõ điều đó. Có thể nói, đối với vua, ông đã phục tùng một cách mù quáng, chẳng hạn trong bước đường hoạn lộ, thật ông đã lắm phen trầy trật, lắm lúc oan ức, nhưng vẫn không hề tỏ ra phản ứng chống đối. Cả cuộc đời của Phan là thể hiện đầy đủ những lời của cha dặn trong một bức thư gửi cho ông lúc ông nhậm chức Phó Tổng trấn Quảng Bình:

“Những phương châm xử thế và ăn ở trong gia đình là phải trung với vua, hiếu với cha mẹ, lo việc công, bỏ việc tư, sống bằng cơm rau nước lã.

Người hiếu tử không bao giờ lấy của phi nghĩa để nuôi cha mẹ. Con phải hết lòng trị nước an dân. Liêm khiết, trung thực, khôn ngoan, cần kiệm,… ấy là những đức tính con cần phải có…”[20].

Tìm hiểu cuộc đời hoạt động của Phan Thanh Giản, chúng ta thấy quả đúng như vậy. Đương nhiên, ở ông có những điểm cần phê phán như “chủ hòa”, trung quân mù quáng,… nhưng có những điểm chúng ta cần phải trân trọng. Cuộc đời của ông từ khi thi đậu ra làm quan cho đến khi chết, đã trải qua nhiều bước thăng trầm, ông đã đảm đương qua nhiều trọng trách. Lúc nào ông cũng vẫn tâm niệm “vì dân, vì nước”, “ơn vua, lộc nước”. Cũng có những việc làm của ông đã ngược lại ý muốn tốt lành của ông như chủ hòa để rồi mất nước và theo sau đó là bao nhiêu tai họa xảy đến, kể cả thảm họa làm cho ông bi quan thất vọng đến tự tử, nhưng tấm lòng trong trắng không mảy may gợn đục, vẫn là vì dân, vì nước. Đường lối, chủ trương và biện pháp thực hiện của ông đã sai lầm nhưng cần thấy rõ động cơ xuất phát của những hành động của ông. Phan thành thực nhận thấy rằng đường lối chủ hòa là con đường duy nhất đỡ tổn thất cho nhân dân và ông đã cố đem hết sức mình để làm không từ nan, không trái mệnh vua. Vua lệnh cho: “An nguy tại thử cử, khẳng tích kinh luân thuật” (An nguy tại lòng này, kình luân đừng tiếc chước hay làm gì”). Và Phan cũng biết “thành bại hay không là do ở nước Tây kia” thế nhưng Phan vẫn vui vẻ nhận trách nhiệm, không quản tuổi già sức yếu, vì ông luôn luôn:

“Lo nỗi nước kia cơn phiên biến,

Thương bề dân nọ cuộc giao chinh”[21].

Cho đến năm 1865, đã 69 tuổi đầu, qua bao phen lao tâm khổ tứ, Phan xin triều đình cho nghỉ việc quan để yên nghỉ tuổi già. Trong tờ sớ xin về hưu, ông thiết tha rằng:

“Than ôi, nay đã già nua tuổi tác, thần tự thấy suy kém cả sức lực tinh thần. Thường khi vì sức cùng lực kiệt, thần bỏ trễ nải cả trọng trách mà thần phải đảm đương. Khi đến cầu 70 thân người ta mảnh dẻ như liễu sậy đã bao lâu chống đỡ với cuồng phong, hay như con thiên lý mã kiệt lực không thể cố được nữa. Thần không sao tiếp tục làm việc được nữa, e rằng phạm lỗi làm rối việc quốc gia”[22].

Đã đến lúc con người đã từng vất vả ngược xuôi hết lòng mẫn cán ấy đã cảm thấy “lão lai, tài tận” rồi mà triều đình vẫn chưa cho nghỉ thân, vẫn tín nhiệm, vẫn lại giao cho chức vụ khâm sai giữ ba tỉnh miền Tây để “chuộc lỗi” xưa, mà đến lúc đó Phan vẫn không từ chối, lại tiếp tục những ngày phụng sự vua trên cho trọn nghĩa! Do tinh thần “công cán” đó của Phan Thanh Giản nên Nguyễn Đình Chiểu cũng đã phải nói: “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”[23]. Cứ thế cho đến khi hắt hơi thở cuối cùng với biết bao ngậm ngùi chua xót, ông vẫn viết trong tờ “Di biểu” dâng vua Tự Đức rằng:

“Nay gặp thời gian bĩ, việc dữ khởi ở trong cõi, khí xấu hiện ở biên thùy, việc cõi Nam Kỳ một chốc đến thế này, không thể ngăn nổi, người tôi đáng chết không dám sống cẩu thả để cái nhục cho quân phụ. Đức Hoàng thượng rộng xét xưa nay, biết rõ trị loạn, thân kẻ hiền trong nước cùng lòng giúp đỡ, kính cẩn phép trời, thương người cùng khổ, lo trước tính sau, đổi dây thay bánh, thế lực còn có thể làm được. Thần tới lúc tắt nghỉ, nghẹn ngào không biết nói sao chỉ gạt nước mắt tỏ lòng quyến luyến trông mong khôn xiết.”[24].

Đồng thời với việc tự tử Phan Thanh Giản cũng gửi trả lại triều đình tất cả chiếu chỉ, sắc ban phẩm tặng để tỏ rằng mình không xứng đáng với ân thưởng ấy nữa! Riêng sự “biểu thị thái độ” trước cái chết như vậy cũng đã làm cho mọi người cảm cảnh và có thái độ thể tất nhân tình cho ông phần nào. Huống nữa, ở Phan Thanh Giản còn có nhiều đức độ đáng kính. Tuy là một quan đại thần, nhưng Phan vẫn sống trong cảnh an bần lạc đạo và nổi tiếng là một ông quan thanh liêm. Trong một xã hội phong kiến, cái cảnh tham quan ô lại đục khoét nhân dân cứ là nhan nhản khắp đó đây, mà Phan Thanh Giản vẫn giữ được đức tính liêm khiết, trung trực, điều đó thật đáng quý. Điều đó đủ có sức chinh phục rất lớn đối với tình cảm nhân dân, do đó, Phan Thanh Giản có uy tín và được cảm tình của đông đảo nhân dân. Bọn thực dân Pháp cũng biết rõ điều đó và muốn lợi dụng Phan - tất nhiên trước hết vì Phan là một người chủ hòa - chúng không muốn Phan Thanh Giản chết vội. Cho nên khi nghe tin Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử, bọn thực dân Pháp đã vội vàng “cử thầy thuốc đến và xin ông uống thuốc giải độc, nhưng ông kiên quyết không thay đổi ý kiến của mình và chết sau 48 giờ”[25]. Có thể nói lúc bấy giờ Phan Thanh Giản chọn cái chết là đúng. Tuy rằng cái chết của ông không phải là cái chết của người chiến sĩ nơi đầu tên mũi đạn trên chiến trường, hay là cái chết đầy nghĩa phẫn của Hoàng Diệu sau này. Cái chết của ông chỉ là cái chết tiêu cực. Tuy vậy nó vẫn biểu thị một thái độ thành thật đáng được tha thứ. Cũng do đó mà làm cho mọi người có ít nhiều suy nghĩ. Người ta phê phán ông, nhưng người ta cũng rộng lượng đối với ông. Điều đó cắt nghĩa vì sao trong tình cảm nhân dân Việt Nam có dành cho ông một phần trân trọng.

Phan Thanh Giản đối với vua trên và đối với bản thân là như vậy, còn đối với bọn làm tay sai cho giặc thì lại tỏ ra rất dứt khoát. Chẳng hạn như khi Phan Hiểu Đạo bị Tôn Thọ Tường theo lệnh Pháp dụ dỗ ra làm quan, ngày gặp Phan vào trấn Vĩnh Long, Hiểu Đạo hỏi ý kiến, Phan đã phê mấy chữ ý nói “làm việc cho Tây như người đàn bà bị mất trinh tiết”. Phan Hiểu Đạo tự thấy xấu hổ nên đã uống thuốc độc tự tử[26]. Thái độ đó của Phan Thanh Giản cho thấy rằng, ông chẳng những không phải là tay sai của giặc mà còn là một người biết phân rõ địch ta như thế nào. Nói như vậy, nghe ra có vẻ mâu thuẫn, bởi ông cũng là người đặt tay ký hàng ước nhường đất cho giặc. Như trên đã phân tích tư tưởng chủ hòa của ông là với động cơ tránh binh lửa chết chóc cho nhân dân. Nhưng ông không ngờ hậu họa của hòa ước lại to lớn như thế, thì đó đã đành là bi kịch cho cuộc đời của ông và ông phải đền tội bằng cái chết. Tuy vậy, tư tưởng chủ hòa của ông dù là tiêu cực nguy hại như vậy đấy, song cũng không đốn mạt và bỉ ổi bằng số quan lại chủ tâm đầu hàng Pháp ngay từ phút đầu, rồi lại ngoan ngoãn làm tay sai trở lại đàn áp giết chóc nhân dân. Ở ông, tuy cũng có cái khiếp sợ, mất tinh thần, có cái giật mình trước văn minh tân tiến của Âu châu, nhưng ông vẫn còn “hết lời năn nỉ” để kêu tình đồng bang mau kịp bước. Những lời năn nỉ, trình bày yêu cầu duy tân của ông “chẳng ai tin”[27], thậm chí còn bị coi là “kẻ khéo tâng người mà hạ mình”. Bình sinh Phan Thanh Giản một mực cố hết sức mình để “cầu hòa”, để “chuộc đất”. Nhưng tất cả đều đã trở nên vô vọng. Tiếng kêu của ông đến lúc đã trở nên lạc lõng, đáng thương như chính ông đã tự bộc bạch sau lần làm “Chánh sứ như Tây” (1984):

“Trời thời, đất lợi lại người hòa

Há để ngồi coi nói chẳng ra

Làm trả ơn vua đền nợ nước

Đành cam gánh nặng ruổi đường xa

Lên ghềnh, xuống thác, thương con trẻ

Vượt bể trèo non cảm phận già

Những tưởng một lời an bốn cõi

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba”.

Tâm trạng buồn khổ cô đơn đã bắt đầu xâm lấn những ngày xế chiều cuộc sống của một ông quan đại thần mang nặng ý thức phong kiến! Tâm trạng đó cũng cô đơn bất lực như cái đạo Nho vào những ngày tàn tạ của nó. Tâm trạng của ông chẳng khác gì tâm trạng Bá Nha sau khi trở lại thôn Tập Hiền ở Tầm Dương không tìm thấy Tử Kỳ, nên những ngày trước khi chết, Phan vẫn thường ngâm bài “Toái Cầm”:

“Tử Kỳ đã mất đập đàn thôi

Non nước kìa ai những ngậm ngùi

Gió Xuân bốn mặt chung là bạn

Mà kẻ tri âm chẳng thấy người”[28].

Tâm trạng Phan Thanh Giản lúc này thật bế tắc. Một mặt do không làm tròn trách nhiệm của triều đình giao cho là phải “hòa với giặc”, “chuộc lại’ đất tổ tiên của hoàng triều, một mặt thì nhân dân càng ngày càng cơ khổ hơn trước sự chiếm đất, giết người, cướp của của quân thù. Cả nước đang xốc lên một phong trào đánh giặc cứu nước và nhân dân cũng đã trực tiếp lên án ông. Trên ép xuống, dưới ép lên, ông phải lấy cái chết để mong “tựu nghĩa” và để rồi thời gian sẽ phân xử cho ông. Ngày nay có lẽ chúng ta cũng không nên quá khắt khe như thời ông sống, thời mà phong trào kháng chiến của nhân dân lục tỉnh đang lên cao, đang cần thiết phải nêu lên khẩu hiệu “Phan, Lâm mại quốc, triều đình khí dân” để tập hợp lực lượng kháng chiến. Nói một cách công bằng hơn, trách nhiệm của Phan Thanh Giản là gắn chặt với trách nhiệm của triều đình Huế, chính triều đình phong kiến thối nát ấy mới là kẻ đầu sỏ bán nước, còn Phan Thanh Giản chỉ là một trong số những người chủ trương và thi hành đường lối tội lỗi ấy mà thôi. Hơn nữa, trong khi chúng ta nêu rõ hậu quả của những hành động của Phan, thì cũng không nên quên nhắc nhở tấm lòng ưu ái của ông đối với dân với nước. Có như thế chúng ta mới hiểu và cắt nghĩa được mối cảm tình của một số sĩ phu và nhân dân lúc ấy đối với Phan mặc dù Phan đang tay ký điều ước 1862 và sau lại để cho Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Có người sẽ bảo như thế là quá rộng lượng với Phan, là không nhìn nhận sự sáng suốt của nhân dân trong chủ trương “quyết chiến” không nhìn nhận sự cần thiết phải nêu lên khẩu hiệu như trên để đẩy mạnh kháng Pháp lúc đó. Đó là một mặt của vấn đề lịch sử mà chúng ta đã nói tới ở phần trên.

Chúng ta cần trở lại xét thêm những công trạng và đức tốt của Phan Thanh Giản đối với nhân dân thì mới thấy rõ hơn vì sao Phan đáng được nhân dân khoan dung và trân trọng. Trước hết vì Phan Thanh Giản là một người cần cán rất đỗi thương yêu nhân đân. Ngay từ những ngày đầu mới ra làm quan với triều Minh Mệnh, có lần giữ chức giám thị kỳ thi Hội ở Huế (1828), nhân có bão lụt trong thành, ông dâng sớ tâu rằng: “mưa to và nạn thủy tai là những triệu chứng không tốt, hạ thần cúi xin Thánh thượng tự sửa mình làm điều nhân đức và giảm bớt số cung nữ, phi tần. Như thế là Thánh Hoàng làm theo ý thiên địa, bách tính sẽ được sung sướng”[29]. Hoặc như năm 1850, khi trấn nhiệm ở miền Tây, nhân dân gặp nạn dịch lệ lan tràn, ông đã dâng sớ lên vua xin cấp cứu cho qua khỏi tai ách, xin tha bớt hình ngục, hoãn việc binh thuế và chẩn cấp cho dân. Một lần khác vua định xa giá kinh lý miền Nam (các tỉnh Quảng Nam, Quàng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) mà trong lúc đó nhân dân các tỉnh này “đang trong nạn hạn hán, mất mùa, thóc cao gạo kém, người nghèo chết đói”... “không thể sửa sang đường cái lập nhà công quán kiếm củi đuốc cỏ rơm cho đoàn quan quân hộ tống được, nên xin hoãn cuộc ngự du này đến khi mưa thuận gió hòa,  mùa màng tươi tốt, trăm họ ấm no, lúc bấy giờ dân gian sẽ đón tiếp thánh hoàng một cách nhiệt liệt”[30]. Việc làm đó của Phan Thanh Giản tất nhiên được nhân dân kính phục, biết ơn và nhớ mãi. Để có lợi cho nước, cho dân, Phan Thanh Giản đã từng có những đề nghị với nhà vua rất thẳng thắn. Năm 1851, ông đã cùng với Nguyễn Tri Phương dâng lên vua bản đề nghị tám điều như sau:

“1. Chúa Thượng phải cẩn trọng trong lúc du hí: không nên dạo chơi ven bờ sông, bơi thuyền hay tắm hay dự cuộc thi ngựa.

2. Không nên xem kịch tuồng vì sẽ có ảnh hưởng không tốt đến việc cai trị.

3. Phải tránh xa những kẻ gian hùng chỉ dựa thế triều đình bắt nạt dân đen trục lợi. Bọn “cửu long” nghĩa là chín tên cận thần mà bây giờ gọi là bát tiên vì trừ một người chết còn tám, nên bổ họ vào ngạch võ quan, không nên cho họ tự do vào cung cấm, sợ xảy ra điều xấu xa chăng.

4. Phải áp dụng những quy tắc về chính sách xã hội, giảm bớt tiêu pha phung phí, và không nên quá tin yêu quần thần. Nhà vua cần phải cấm chỉ ngay việc sai các quan đi mua vàng bạc châu báu, ngà voi để về phân phát cho phi tần cung nữ.

5. Phải giảm bớt số thái giám và cư xử theo các bậc tiền nhân. Về đời Gia Long, Minh Mạng, thị vệ chỉ được đến tam tứ phẩm; bây giờ chánh đội thị vệ Trần Kiêm cậy thế quyền nhũng lạm, sách nhiễu. Cử chỉ ấy sợ rằng người khác bắt chước làm bậy.

6. Phải cẩn thận lựa chọn bầy tôi, lấy những người thực thà, chính trực, nghĩa khí, loại những người gian ác, tham lam, đạo đức giả, hiếu danh, cần sự công bình trong việc lựa tuyển; Nội vụ bộ sẽ tuyển văn quan. Binh bộ sẽ tuyển võ quan.

7. Giảm bớt tạp dịch cho binh lính để lấy thì giờ luyện võ, điều cần để chiến thắng.

8. Tăng lương cho các quan lại: như tăng lương đầy đủ, họ không nghĩ đến hối lộ và xử án công bằng hơn”[31].

Về bản đề nghị này, Tự Đức đã phải phê rằng: “Hai khanh đều là tôi lương đống của triều đình, trẫm cũng biết là khanh buộc tội cho trẫm. Nhưng không bao giờ trẫm làm việc nhẹ dạ. Trẫm tin ở lòng ái quốc của khanh và khanh nên vui lòng theo ý trẫm”[32].

Đến năm 1883, Phan Thanh Giản lại dâng sớ đề nghị nhà vua sửa đổi chính trị, trong đó có ba khoản đáng chú ý:

-       Cứu cấp trẻ nghèo để giảm sự khổ sở của toàn xứ.

-       Sửa đổi học chính để mở mang bệnh viện.

-       Sửa sang đường sá cho sự giao thông được thuận tiện, đóng xe bò để vận tải được dễ dàng[33].

Cũng do vậy mà trước kia Phan Thanh Giản được Minh Mạng khen là “người ngay thẳng, quả cảm, học lực rộng và có biệt tài”, sau này lại được Tự Đức ban thưởng chiếc kim khánh có khắc bốn chữ “liêm bình cần cán”.

Những việc lớn đã thế, những việc nhỏ sau đây càng tỏ ra rằng Phan là một người rất thương yêu gần gũi nhân dân. Câu chuyện một vị quan đại thần ở Viện Cơ mật về chịu tang cha vận quần áo sô gai như một người thường dân đi một mình không có lính hầu, khi đi qua bến đò Ba Lai (giữa Mỹ Tho - Bến Tre) bị một người lính đồn không biết là đại thần đã khám xét lục soát và bị cả người cai đồn giữ lại… vẫn không tỏ ra khó chịu hách dịch gì mà sau lại ban khen tặng thưởng cho họ vì những người đó đã “làm tròn phận sự”. Cử chỉ ấy của Phan Thanh Giản đã làm cho mọi người mến phục. Hay là câu chuyện: Một hôm đi tỉnh mộ về, Phan bị một người vác cây tre lòa xòa đi đằng trước đụng vào người bị thương. Người vác tre quay lại thấy ông cả sợ, mặt tái xanh như chàm đổ, ông bèn gọi lại và bảo đưa cho ông mượn luôn con dao rựa, người vác tre càng khiếp đảm lo cho tính mệnh chẳng còn. Nhưng không ông bèn phát nốt mấy cành lòa xòa ở thân tre và từ tốn nói với người vác tre rằng: “Bận sau bác phải cẩn thận, kẻo gặp người khác thì không xong đâu”[34].

Những cử chỉ như vậy của Phan đã được nhân dân khắp miền truyền tụng và nhận ông là một người rất mực khoan nhân đại độ.

Về việc Phan Thanh Giản quan tâm đến đời sống nhân dân, chúng ta còn thấy thể hiện khá nhiều ở các bài thơ trong tập Lương Khê thi thảo. Như bài “Vọng vũ” (Mong mưa) của Phan làm năm Quảng Nam bị hạn hán kéo dài (1836):

“Kính tuần thiên bất vũ

Nhật mộ chỉ vi lương

Khinh vân từ dục hợp

         Đong phong suy cản dương,

Thiên tế tự trung uất

Thánh thần như phi sương

Chiêm bỉ cao đê điền

Hà Miêu bán uy hoàng

Thu lai mễ già ngang

Huống phục thử khang hạn

Nông dân thực khả thương

Nguyệt Tỏa giáng xuân cao

Cập thời tô trưng thương”

Dịch nghĩa:

“Suốt hàng tuần trời không mưa

Ngày muộn chỉ hơi mát

Mây nhẹ từ từ muốn họp lại

Bị gió nồm thổi liền bay tan đi

Khoảng trời cứ nung nấu bức bối

Sáng sớm như có sương bay

Trông những thửa ruộng cao thấp kia

Mạ lúa đã úa vàng mất nửa

Vụ chiêm này dù có được mùa

Sang thu này giá gạo tất cao

Huống lại bị hồi hạn dữ này

Nông dân thật đáng thương

Mong trời sớm cho xuống trận mưa xuân

Để kịp thời cho dân tỉnh táo lại”.

Trong bài thơ tiễn đưa Lại bộ thị lang Hoàng Kiện Trai đi nhậm chức bố chánh Gia Định, ông nhắn nhủ:

“Than tức tự lòng khai hấn họa

Chi kim do vị khởi sang di

Lư diêm dẫn lĩnh bằng hà nhuận

Quốc kế dân tình triệt để ti”.

Dịch nghĩa:

Than thở từ ngày gây ra thù giận tai vạ,

Ngày nay vẫn chưa hàn khỏi được những vết đau thương.

Làng xóm nghển cổ đợi mong nhờ được ân trạch của các quan nhân đức.

Kế nước tình dân phải lo nghĩ sao cho được mười phân vẹn phân mười.

Ông mong muốn tất cả những ai có trách nhiệm “trị nước, an dân” hãy hết lòng hết sức giữ đạo công bằng, lòng liêm khiết, cương trực để cho nước cho dân được nhờ,… Đó cũng chính là những đức độ cao cả, những tình cảm, tình thương tốt đẹp của Phan Thanh Giản đã làm cho ông có được vị trí khá trân trọng trong suy nghĩ và tình cảm của mọi người. Cũng vì thế mà sau khi Phan Thanh Giản chết, ngay trong hàng ngũ sĩ phu yêu nước đã có những nhận định về ông khá công bằng và rộng lượng, tỏ ra thông cảm với ông.

Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp, trong bài văn tế Phan một mặt nêu rõ trách nhiệm của Phan trong lịch sử, nhưng mặt khác cũng nói rõ lòng trung nghĩa của Phan.

“Năm xưa lập hòa ước, ông đã cam là kẻ có tội để cứu vãn sự nguy cấp của nước nhà. Nay ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên tình thế nguy ngập giống như tổ chức bị gió mưa lay bạt. Thế mà ông không đề phòng để quân giặc đánh trộm giống như Điền Quảng nước Tề bị Hàn Tín đánh úp. Lỗi đó sẽ phải về mình, than tiếc cũng không thể lấy lại được.

Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo.

Một phong di biểu, ngỏ hết can trường thật đáng cho người đọc phải khóc. Tiếc thay trong lúc hiểm nghèo như thế quẻ truân kinh dịch, một người trung tín như ông lại gặp phải cuộc gian nan ấy. Rồi đây việc biên thùy nhà vua chắc về sau sẽ soi thấu nhưng mà kẻ tầm thường lại bảo ông làm lỡ nước nhà”[35].

Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cũng đã có bài thơ điếu nêu rõ lòng trung nghĩa của Phan, đồng thời cũng vạch rõ trách nhiệm của triều đình Huế:

“Non nước tan tành bệ ở đâu

Dầu dầu mây bạc cõi ngao châu

Ba triều công của vài hàng sớ

Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu

Ải bắc ngày chờ tin nhạn vắng

Thành Nam đêm chạnh tiếng quyên sầu

Minh sinh chín chữ lòng son tạc

Trời đất từ đây bặt gió thu”[36].

Nguyễn Thông, một nhà thơ yêu nước khác ở miền Nam “cho việc Phan Thanh Giản tử tiết quan hệ đến phong giáo” đã tâu xin Tự Đức “ban thưởng” để “khích lệ” người sau. Nhưng Tự Đức đã cự tuyệt và đã khép (Phan Thanh Giản) vào tội “trảm quyết” (nhưng vì đã chết nên được miễn) và “lột hết chức tước và đục hết tên trên bản các ông đỗ tiến sĩ…”. Tự Đức làm như vậy là cốt để đổ tất cả tội lỗi bán nước đầu hàng giặc của triều đình nhà Nguyễn lên đầu Phan Thanh Giản - người đã chết.

Lời trối trăng của Phan Thanh Giản với các con trước khi nhắm mắt là “chớ khởi nghĩa mà vô ích”, “chớ làm quan với triều Nguyễn” cũng như lời Phan Thanh Giản dặn các thân nhân ghi trên mộ rằng: “Đại Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cửu diệc dĩ thư chi mộ” (mộ của người học trò già họ Phan ở bờ bể nước Đại Nam) đã phản ánh đúng đắn tinh thần khiếp nhược và nỗi chán chường bế tắc của ý thức hệ phong kiến đến ngày suy tàn thảm hại. Nội dung “trung”, “hiếu” của Nho giáo lúc này đã quá lỗi thời, nó phải được quan niệm lại. Nên chi sau khi Phan Thanh Giản chết, các con của ông là Phan Tôn, Phan Liêm đã nổi lên cùng với nhân dân anh dũng chống Pháp, dù trái lại với lời dặn của cha, nhưng như thế mới là chí hiếu. Hai anh em của họ Phan sau khi thất bại ở Bến Tre lại ra Bắc cùng Nguyễn Tri Phương trấn giữ Hà Thành tiếp tục chiến đấu và đó cũng chính là có hiếu với cha, trung với vua và yêu nhân dân đất nước tích cực. Ở đây hai anh em họ Phan đã nhận rõ mối quan hệ giữa “ái quốc” với “trung quân” và “hiếu tử”. Trung quân chỉ nặng khi nào có minh quân. Vua có thể là hôn quân, còn lòng ái quốc tức là yêu đất nước quê hương đồng nội, yêu nước là yêu truyền thống lịch sử lâu đời thì không bao giờ có thể đổi dời, mà càng ngày càng sâu sắc hơn, nhất là những lúc bị nạn ngoại xâm đe dọa, bị kẻ địch giày xéo. Yêu nước thì phải bằng mọi cách để bảo vệ đất nước. Nhân dân ta và hai anh em họ Phan đã hiểu được điều thiết thân đó và đã hành động khác với cha mình khi xưa. Cho nên có thể nói thêm rằng, chính hai con của Phan đã góp phần chuộc lỗi lầm cho cha.

Trên đây, chúng tôi đã cố gắng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa trách nhiệm to lớn của Phan Thanh Giản với trách nhiệm triều đình Huế của giai cấp phong kiến, đồng thời nói thêm về thân thế sự nghiệp của Phan, cũng như tìm hiểu thêm về cái chết của Phan và thái độ các tầng lớp nhân dân đối với Phan Thanh Giản, mong các nhà nghiên cứu và các bạn đọc xa gần thành thật chỉ giáo cho.

                                                                Hà Nội, ngày 31-12-1962

Lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX trở đi đã chuyển sang một bước ngoặt quan trọng. Nhân dân ta vừa phải chịu ách thống trị nặng nề của giai cấp phong kiến trong nước đã cực kỳ thối nát, vừa phải đương đầu với một thế lực ngoại xâm hung hãn hòng gấp rút thôn tính nước ta. Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn đại diện cho nhà nước phong kiến không có một chính sách đối nội, đối ngoại nào gọi là tương đối có hiểu biết khả dĩ cùng nhân dân chống chọi với thực dân xâm lược. Ngược lại, với đường lối chủ hòa đi đến đầu hàng giặc, triều đình đã để cho bọn Pháp lấn dần từng bước để cho chúng chiếm ba tỉnh miền Đông rồi liên tiếp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ gây cho nhân dân ta biết bao thảm họa. Cùng với triều đình nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản - một đại thần có trách nhiệm quan trọng ở Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó - người đã cầm bút ký điều ước nhường đất cho giặc phải chịu liên đới trách nhiệm như thế nào trước lịch sử, trước nhân dân và Tổ quốc? Cái chết của Phan Thanh Giản cũng như toàn bộ con người của ông còn những vấn đề gì đáng nói? Đó là những sự thực lịch sử khá phức tạp. Viết bài này chúng tôi không có tham vọng làm sáng tỏ được toàn bộ những vấn đề phức tạp ấy, mà chỉ hy vọng trong khả năng hiểu biết có hạn của mình góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu đánh giá Phan Thanh Giản của giới sử học nước nhà hiện nay do Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử của Viện Sử học đề ra từ đầu năm.

 Phan Thanh Giản tự là Tịnh Hà, lại có tự là Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh năm 1796 tại làng Tân Thanh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Bảo Thạnh, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Cha ông là Phan Thanh Ngạn trước kia có làm một viên chức nhỏ ở tỉnh Vĩnh Long nhưng vì tính cương trực và thanh liêm nên cuộc sống thanh bạch. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản bị hạn chế nhiều, nhưng do chỗ ông là người thông minh hiếu học, nên đến năm 29 tuổi (1825) ông thi đậu Cử nhân tại Gia Định và sang năm sau (1826) thi hội ở kinh đô, ông đậu ngay Tiến sĩ và cũng là ông Nghè nho học đầu triên của Nam Kỳ. Từ cuộc đời đèn sách cử nghiệp bước sang cuộc đời hoạn lộ, Phan Thanh Giản bắt đầu được triều đình Minh Mạng lần lượt phong chức Hàn lâm viện biên tu làm Tri phủ ở Quảng Bình (1827), Lang trung bộ Hình (1827), Tham biện tỉnh Quảng Bình (1828), Quyền nhiếp Tham hiệp Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và được bổ vào Nội các (1830) rồi Hiệp trấn Quảng Nam (1831)… nhưng không phải là mỗi năm thăng một trật mà thực ra cuộc đời làm quan của ông cũng có nhiều lúc thật long đong. Từ địa vị là quan Hiệp trấn, ông bị giáng xuống làm Tiền quân hiệu lực vì thất bại trong vụ dẹp loạn Cao Giồng, Quảng Nam. Nhưng rồi lại được phục chức, thăng chức, được cử đi công cán ở Sing-ga-po (Singapore) làm Phó sứ đi Trung Quốc, rồi lại bổ làm Tuần vũ Quảng Nam, nhưng bị tên nịnh thần Võ Duy Tân vu cáo cho là mưu khởi loạn, ông lại bị vua giáng xuống chức “lục phẩm”, đồng thời bị phái đi coi việc khai mỏ vàng ở Quảng Nam, sau đó lại bị sai ra tận Thái Nguyên coi việc khai mỏ bạc. Đó là thời kỳ “công cán” của ông dưới triều Minh Mạng. Minh Mạng chết ông lại công cán dưới thời Thiệu Trị, làm chức Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên, Phó đô ngự sử của Đô sát viện, giảng dạy và điều khiển “trường Kinh Niên”, về sau lại làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ lịch sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Dưới triều vua Tự Đức, Phan Thanh Giản được bổ làm chức Thượng thư bộ Lại sung Cơ mật viện Đại thần (1848). Từ đây, chức quyền của ông cũng to lớn và quan trọng như những việc làm to lớn và quan trọng của ông. Năm 1850, ông cùng với Võ hiển Nguyễn Tri Phương vào trấn nhiệm miền Tây. Sau đó lại làm Phó sứ kinh lược Nam Kỳ kiêm Tuần phủ Gia Định coi các tỉnh Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Hòa, ông cùng với Chánh sứ kinh lược Nguyễn Tri Phương chiêu dân lập ấp, khai phá rừng rậm, cày cấy làm ăn và lập đồn lũy ngăn chống giặc dã. Đến lúc quân Pháp gây hấn (1858), Ri-gôn đờ Giơ-nui-y (Rigault De Genouilly) và Mông-ti-nhi (Montigni) bắt đầu đem chiến thuyền vào cửa Đà Nẵng rồi đánh lấy Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa, Phan Thanh Giản lại được vua cử vào Quảng Nam, Đà Nẵng vỗ về dân chúng trong lúc Nguyễn Tri Phương phải giữ mặt trận Gia Định. Tiếp đến ông lại cùng Lâm Duy Hiệp làm Chánh phó sứ toàn quyền đại thần vào Nam thương thuyết rồi ký Hòa ước 5/6/1862 với Bô-na (Bonard) và Pa-lăng-ca (Palanca) gồm 12 điều khoản, trong đó có khoản 3 phải cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và khoản 8 phải bồi thường 4.000.000đ trong 10 năm. Sang năm 1863, ông lại được vua cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản và một đoàn tùy tùng sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Cũng từ chuyến đi này, ông được thấy tận mắt nền văn minh tiến bộ của Tây phương, lại cộng thêm với tư tưởng chủ hòa cố hữu của ông đã làm cho ông thêm tiêu cực, nên sau khi bị thất bại trong việc “chuộc đất” trở về, trước sự lấn dần bằng vũ lực của bọn thực dân xâm lược, ông đã thuận để cho giặc Pháp chiếm luôn cả ba tỉnh miền Tây (1867), rồi soạn tất cả 23 chiếu chỉ của triều đình ban tặng cho từ trước đến nay gửi trả lại triều đình, đồng thời nhịn đói và uống thuốc độc tự tử.

Cái chết của Phan Thanh Giản kết thúc tấn bi kịch cuộc đời hoạt động chính trị và ngoại giao của ông, nhưng cái chết của Phan Thanh Giản cũng để lại cho lịch sử những nghị luận phân vân bất nhất giữa người đương thời cũng như ở cả trong chúng ta ngày nay nữa. Làm thế nào để đi đến một ý kiến nhất trí về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản? Cũng như đánh giá bất cứ một nhân vật lịch sử nào, chúng ta đều phải đặt nhân vật ấy trong hoàn cảnh nhân vật ấy sống và hoạt động. Đối với Phan Thanh Giản, mang trên người trách nhiệm là “toàn quyền đại thần” là “chánh sứ như Tây”, là người thay mặt triều đình ký hàng ước với Pháp và trao trọn sáu tỉnh Nam Kỳ cho giặc. Trách nhiệm của Phan tất nhiên là rất to lớn; nhưng chúng ta không thể chỉ nhìn thấy trách nhiệm của Phan mà không thấy trách nhiệm chủ yếu lại là của giai cấp phong kiến, chúng ta cũng không thể chỉ đơn thuần căn cứ vào hành động của Phan mà không xét đến động cơ xuất phát của những hành động ấy và chúng ta cũng không thể bỏ qua những mặt khác trong toàn bộ cuộc đời của Phan Thanh Giản. Có như thế chúng ta mới cắt nghĩa được một cách tương đối chính xác. Nhưng vì sao đối với Phan Thanh Giản còn có những nhận định khác nhau, đó phải chăng là vì mỗi người dựa vào một vài khía cạnh đáng trách hoặc đáng khen ở Phan Thanh Giản? Đó cũng chính là đầu mối của những sự bất nhất trong khi nhận định về Phan Thanh Giản.

Để đi đến một nhận định đúng đắn về con người Phan Thanh Giản, chúng ta phải gạt ra ngoài những luận điểm của bọn thực dân và bè lũ tay sai bán nước, như ý kiến của tên Sa-ten (Chatel): “Khi mà một ý nghĩ về sự hợp tác Pháp - Nam hình như có vẻ quái đản… thì nhà ái quốc An Nam này - rất trung thành với đất nước của ông, nhưng sáng suốt về tương lai một cách lạ lùng - đã nhận thấy khả năng tồn tại sau này của nó và đặt những viên đá đầu tiên cho lâu đài ấy”[1]. Hắn cho Phan là người sáng suốt bậc nhất, biết suy nghĩ tốt nhất về cuộc sống hạnh phúc của nhân dân, về sự phồn vinh của đất nước khi có một người bạn Pháp bên cạnh khai hóa cho, bảo hộ cho. Sa-ten nói thêm rằng “Phan Thanh Giản biết hướng lòng yêu nước của ông theo biến cố của thời đại. Ông ta đủ thông minh để hiểu thế lực của người Pháp mà ông đã có liên hệ với họ trong những ngày ở Nam Kỳ, ông ta đã biết nước Pháp tiến bộ và giàu có khi ông đi thăm. Ông ta hiểu rằng quân đội của nước ông không thể chống lại được với quân đội của nước Pháp và do đó phải tránh làm đổ máu vô ích của người An Nam. Phan Thanh Giản cũng là người đầu tiên cổ võ cho sự hợp tác Pháp - Nam, một khẩu hiệu phong phú đã dùng làm cơ sở cho nền chính trị tự do của nước Pháp”[2].

Những ý kiến trên đây của Sa-ten chỉ nhằm một mục đích chính trị thâm độc cốt xoa dịu tinh thần đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta lúc bấy giờ, nhằm vào đường lối “chủ hòa” “đầu hàng” của triều đình Huế mà Phan phục vụ để khuếch trương nó lên, để biện minh cho chủ nghĩa “Pháp - Việt đề huề” của chúng. Không lạ gì cái mà bọn thực dân cáo già đề cao lại chính là chỗ yếu nhất của Phan Thanh Giản, như là sự “hợp tác Pháp - Nam”, “hiểu thế lực của người Pháp”,… Điều đó thiết tưởng khỏi phải bàn thêm, chúng ta cũng rõ miệng lưỡi gian xảo của bọn chúng rồi.

Một số người khác - đa số là những người trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 - khi viết về thân thế sự nghiệp của Phan Thanh Giản đã coi ông là “một vị anh hùng đã hy sinh tâm hồn và thể xác cho nước Việt Nam” là “biểu tượng của lòng ái quốc thức thời…”[3]. Trước cái chết mang nhiều tính chất bi kịch của Phan Thanh Giản đã được họ coi là cái chết của một người am hiểu thời thế, sáng suốt trông cục diện nước nhà trong khi người Việt Nam từ vua chí dân đang trong cơn ngu muội. Vì ông là người được giao thiệp luôn với người Pháp ở Nam Kỳ, chung đụng với dân Pháp trong thời kỳ đi sứ, mắt thu được nhiều cái đẹp, cái hay của văn minh tân tiến và hiểu thế nào là sức mạnh của bên địch, nên ông biết không đương đầu được với kẻ thù nếu không mở mang dân trí, huấn luyện lại binh lính, sửa đổi lại quân nhu. Ông muốn tránh cho nước nhà cảnh sông máu, núi thây trong khi chờ đợi thời cơ mới: “Ông cố tránh cho dân Việt khỏi nhỏ máu một cách phí phạm, hy sinh một cách điên cuồng vô ích tấm thân đáng lẽ ích lợi cho quốc gia. Ông cố nâng cao trình độ dân trí nước nhà, khuyên vua nên vỗ về dân, khuyên dân nên tận tụy làm việc, ngõ hầu nước Việt Nam mới tiềm tàng được sức mạnh đương đầu với những cơn phong ba chìm nổi. Song, khốn thay giữa cái xã hội cổ hủ, lời hô hào của ông cũng như của Nguyễn Trường Tộ chẳng có tiếng vang. Ông đành cam lòng làm hết bổn phận của mình rồi lấy cái chết để đền nợ nước”[4]. Viết những lời nhận định này, các ông Tam Thanh và Hoành Hải có thể đã nhìn thấy phần nào động cơ và thiện ý của Phan Thanh Giản, nhưng nói như thế chỉ là mới nói được một mặt. Các ông đã không nhìn thấy mặt hậu quả tai hại của “những hành động đầy thiện ý” ấy của Phan Thanh Giản. Các ông đã không nhìn thấy mặt trách nhiệm to lớn như thế nào của Phan Thanh Giản trong việc cắt đất nhường cho Pháp.

Chúng ta đều biết rằng Phan Thanh Giản là một quan lại cao cấp của triều đình nhà Nguyễn, ông xuất thân là một người nho học uyên thâm, lại sống trong giai đoạn chế độ phong kiến nước ta đã lụn bại đến cực độ, cả giai cấp phong kiến đã mất hết sinh khí, nó cũng tỏ ra khiếp nhược hơn trước sự bành trướng thế lực của chủ nghĩa tư bản nước ngoài. Trên con đường phát triển mở rộng thị trường, chủ nghĩa tư bản thực dân đã từng diễu võ dương oai, chúng không những tỏ ra có ưu thế tuyệt đối về vũ khí và chiến thuật mà còn có những âm mưu thủ đoạn vô cùng thâm độc ngoài sự ngờ vực và hiểu biết của triều đình phong kiến ngu dốt và thủ cựu như triều đình phong kiến nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Phan Thanh Giản đã suốt “ba triều công cán”, tức là với cả Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách, đã hết lòng, hết sức phục vụ “vua trên”, lại được tận mắt trông thấy những cái “văn minh”, “tân tiến”, “sức mạnh phi thường” của bọn Pháp, vốn sẵn bản thân đã mang nặng tư tưởng “từ bi”, “bác ái” của cái Nho giáo lỗi thời từ chỗ mang tư tưởng “chủ hòa một các tiêu cực” đi đến  tư tưởng “thất bại chủ nghĩa”, tiến hơn một bước nữa là đi đến tư tưởng “đầu hàng chủ nghĩa”. Trong ý thức hệ của Phan, nhìn lên trên thấy khó trông mong được ở triều đình một cái gì “khả thủ”, nhưng lại không biết đến nguồn sức mạnh chiến đấu vô tận ở nhân dân. Phan, trước sức uy hiếp của giặc đã đang tay ký “Bản hòa ước 1862” với giặc. Quê cha đất tổ bị bày quỷ dữ giày xéo? Phan Thanh Giản bị nhân dân cả nước lên án và phản đối mọi hành động chủ hòa của triều đình và của chính ông:

“Bớ các quan ơi!

Chờ thấy chín trùng hòa nghị mà tấm lòng dịch khái nỡ phôi pha,

Đừng rằng ba tỉnh giao hòa mà cái việc cừu thù đành bỏ dở”[5]

Nhân dân đã tỏ thái độ của mình với các quan như vậy mà ông vẫn chưa tỉnh ngộ, không biết đứng về phía nhân dân và các sĩ phu yêu nước khác tổ chức kháng Pháp, vẫn cứ đi sâu vào con đường chủ hòa, cầu hòa, xin chuộc đất đã đánh dấu thêm một bước thất bại của đường lối đầu hàng, “xin xỏ” của triều đình Huế. Từ ngày đi Pháp xin chuộc đất về, Phan Thanh Giản lại càng bi quan tiêu cực hơn, ông đã thở dài:

“Từ ngày đi sứ đến Tây kinh

Thấy việc Âu châu phải giật mình!”[6]

Ông khiếp sợ và mất tin tưởng đến nỗi cảm khái:

“Trăm món khéo bằng tay thợ tạo

Duy còn sống chết chịu thua trời”[7].

Thế rồi Phan Thanh Giản không chịu lo chuẩn bị đề phòng chống Pháp mà để cho giặc lấn dần, để đến nỗi trong bốn ngày từ 21-6 đến 25-6-1867, chúng lấy luôn cả ba tỉnh miền Tây. Sáu tỉnh Nam Kỳ nằm gọn trong tay Pháp. Những cố gắng mong muốn chuộc đất cầu hòa để đền đáp ơn vua nợ nước… Cuối cùng ông đã phải trả giá bằng chén thuốc độc kết thúc cuộc đời!

Cái chết bi đát của Phan Thanh Giản quả có làm xúc động lòng người, nhưng chúng ta không thể vì cái chết ấy mà coi nhẹ trách nhiệm của Phan được. Trước đây đã từng có người muốn phủ nhận phần trách nhiệm của Phan trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kỳ, họ cho rằng trước tình hình lúc bấy giờ Phan Thanh Giản không thể nào làm khác. Thậm chí họ còn cho những hành động của Phan là sáng suốt, là “thông quán thức thời, nhưng gặp phải vận nước đến hồi mờ mịt, lòng người đang lúc đảo điên, nên không muốn hy sinh vô ích đám ba quân và chẳng nỡ để lụy cho dân”[8]. Điều đó hoàn toàn không đúng. Khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta thì chế độ phong kiến đã suy yếu đến cực độ, hoàn cảnh lúc bấy giờ có nhiều khó khăn, nhưng con đường đúng đắn duy nhất để bảo vệ quê hương Tổ quốc là phải chiến đấu, có chiến đấu thì mới bảo toàn được nền độc lập của nước nhà. Nhưng triều đình nhà Nguyễn và đa số đình thần trong đó có Phan Thanh Giản lại chủ hòa!

Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại giai đoạn lịch sử ấy để thấy rõ trách nhiệm của bọn vua quan nhà Nguyễn và thấy rõ con đường của những người dân chân chính đã chọn, để thấy rõ ai là người sáng suốt - nhân dân và sĩ phu kháng chiến sáng suốt hay triều đình Huế và phái chủ hòa Phan Thanh Giản sáng suốt. Từ tháng 9 năm 1858, khi mới đổ bộ lên Đà Nẵng, thực dân Pháp đã có âm mưu đánh ra Huế bắt chính quyền trung ương của nhà nước phong kiến đầu hàng, nhưng chúng bị dân quân ta chặn lại ở Đà Nẵng, sau phải đánh vào Nam Kỳ lấy Gia Định trước đã rồi đánh chiếm lan ra. Lúc đó nếu một triều đình biết tự trọng còn giữ được truyền thống chống xâm lăng của dân tộc, biết dựa vào nhân dân lúc nguy nan thì đã có một đường lối mạnh bạo kiên quyết chống giặc giữ nước như đời Lê, đời Trần. Trái lại, triều đình nhà Nguyễn đã không tin vào dân, rồi đánh cũng không dám đánh, kẻ chủ hòa, người chủ chiến, thái độ thì hèn nhát, địch tình thì lờ mờ,… Cuối cùng ý kiến của Viện Cơ mật lại là “thủ để hòa”, chỉ đào hào đắp lũy để cố thủ và hy vọng “trì cửu” cho quân Pháp mỏi mệt mà phải rút! Thậm chí, có đình thần còn nghĩ rằng: “Họ ở xa ta, nên không thôn tính được ta”, “Vì ta lạnh nhạt nên họ mới đánh ta” (!), thực chất đây là một chủ trương đầu hàng dần từng bước đến đầu hàng vô điều kiện. Cho nên trước sự hèn nhát của triều đình như thế, một số sĩ phu phong kiến nhất định không nghe theo. Họ đã cùng nhân dân đứng lên kháng Pháp và đã gây cho địch nhiều tổn thất quan trọng, đã làm cho bọn đầu sỏ thực dân và đám quan quân của chúng lắm lúc thoái chí nản lòng. Tên tướng Pháp chỉ huy là Ri-gôn đơ Giơ-nui-y trong tờ trình về bên Pháp triều đã công nhận: “Người ta - (đây là tên gián điệp Pen-tơ-ranh) báo cáo rằng quân đội (Việt) không có gì, sự thực thì quân đội chính quy rất đông, còn dân quân thì gồm tất cả những người mà không đau ốm và không tàn tật…”[9]. Tinh thần kháng chiến của nhân dân còn thể hiện ở chỗ họ đã hăng hái thực hiện chính sách “vườn không nhà trống” tích cực góp lương tiền, còn ra sức đắp kè, lập cản trên các sông Bến Nghé, Đồng Nai, Bảo Định để ngăn tàu địch. Nhân dân đã tổ chức thành những đám nghĩa quân đông tới năm, sáu ngàn dưới quyền chỉ huy của Trần Thiện Chính, Lê Huy để giúp quân triều đình đánh giặc. Từ sau khi Gia Định thất thủ cho mãi đến sau này nữa, nhân dân liên tục tham gia các tổ chức nghĩa quân đánh nhau với giặc không mệt mỏi. Trước nạn nước, lòng dân thật là bồng bột, nhạy như thuốc súng khô, họ đã tự động tìm giặc để đánh, làm cho chúng mất ăn, mất ngủ. Còn như quân triều đình thì chờ chờ, đợi đợi, chậm chạp như rùa, án binh bất động, giặc đến nơi mới chống, chống yếu ớt rồi rút lui. Lực lượng kháng chiến của nhân dân đã làm cho địch phải gờm. Một sử gia thực dân cũng phải công nhận tình hình gay go của chúng trước lực lượng của nghĩa quân và trước chiến thuật du kích của họ: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam không có ảnh hưởng tí nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng. Họ xuất hiện bất kỳ, họ đông đảo, họ đánh phá, rồi họ lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này”[10]. Thế mà triều đình vẫn không đếm xỉa đến! Tinh thần chiến đấu của nhân dân cao như thế mà triều đình vẫn cứ khư khư giữ lấy đường lối “chủ hòa” phản động rồi cắt đất - phần lớn trong vùng có nghĩa quân nộp cho Pháp, ra lệnh giải tán nghĩa quân, phong chức cho thủ lĩnh để chia rẽ họ với một số nghĩa quân. Nghĩa quân không nghe theo thì năm lần bảy lượt đưa thư dụ hàng. Thậm chí ngăn trở việc tiếp tế của nghĩa quân! Nhân dân ta đã trả lời hành vi nhục nhã ấy bằng cách suy tôn Trương Định lên làm Bình Tây đại nguyên soái và giương cao ngọn cờ “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân” tập hợp thêm lực lượng chống Pháp. Do đó, chúng ta thấy rằng trách nhiệm “mại quốc” và “khí dân” mà nhân dân ta lúc bấy giờ cần thiết phải đề lên như vậy chính là trách nhiệm chung của giai cấp phong kiến, của triều đình nhà Nguyễn thối nát, mà Phan Thanh Giản là một người trong đó, người trực tiếp thực hiện chủ trương chính sách phản động của triều đình. Ở đây chúng ta cũng cần biết rõ rằng: “triều đình bỏ dân” chứ nhân dân ta lúc đó không bỏ triều đình. Những hành động tích cực ủng hộ quân đội triều đình, những tổ chức nghĩa quân đứng bên cạnh quân đội triều đình chống Pháp đã chứng tỏ nhân dân ta rất sáng suốt. Mặt khác, chúng ta cũng phải thấy rằng, mâu thuẫn giai cấp trong nước giữa đông đảo nông dân với với thế lực phong kiến trong nước vốn đã từng âm ỷ bấy lâu, đã nhiều phen nổ ra mãnh liệt (khởi nghĩa nông dân) nó càng trở nên quyết liệt, gay gắt hơn dưới triều Minh Mệnh và đầu triều Tự Đức tưởng như không có cơ cứu vãn. Thế mà, khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vừa nổ, thì nhân dân ta đã sẵn sàng gác mối thù giai cấp đó lại để đứng bên cạnh triều đình chống xâm lược đặng bảo toàn nền độc lập của nước nhà. Nhưng triều đình Huế đã ngu xuẩn không biết được điều đó, đã đi ngược lại nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân, đối với thực dân Pháp đã đi từ nhượng bộ này, tới nhượng bộ khác và cuối cùng là dâng đất nước ta cho giặc. Điều đó đã làm cho nhân dân ta công phẫn hô to khẩu hiệu “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân”. Tội lỗi đó triều đình và Phan Thanh Giản phải chịu lấy! Lịch sử vốn không tư tình với một ai. Lịch sử cũng vốn không khe khắt với riêng ai, nhưng lịch sử cũng không bao giờ tha thứ hoặc dễ dãi với bất cứ một ai đi ngược lại quy luật của nó. Lịch sử đã là kẻ chứng kiến những hành động phản bội đất nước của triều đình nhà Nguyễn và của Phan Thanh Giản. Trong lúc triều đình và Phan Thanh Giản ngập sâu vào con đường chủ hòa, thì sĩ phu yêu nước và nhân dân ta đã bằng mọi hình thức tham gia vào cuộc kháng chiến anh dũng. Ngay cả những sĩ phu không có điều kiện trực tiếp xông ra trận tiền trực diện giao tranh với giặc, đã viết những bài hịch, những vần thơ động viên nhân dân chống Pháp, lên án lũ vua quan hèn nhát đầu hàng chỉ bảo toàn tính mạng và địa vị ăn trên ngồi trốc của mình, lên án bọn người có trách nhiệm là “phụ mẫu” của dân giờ đây đã không biết đến tình cảnh điêu linh và tâm trạng khổ nhục của nhân dân Nam Kỳ phút chốc đã trở thành dân mất nước!

Cũng là một sĩ phu, xuất thân nho học như Phan Thanh Giản, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã viết những bài hịch bừng bừng khí phách chiến đấu, hoặc những bài thơ vừa đau xót vừa căm giận khi nhìn thấy quê hương đất tổ rơi vào tay giặc:

“Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông.

Chúa Xuân đâu hỡi có hay không

Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn

Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng

Bờ cõi xưa đà chia đất khác

Nắng sương nay há đội trời chung?

Chừng nào thánh đế ân soi thấu

Một trận mưa nhuần rửa núi sông”[11].

Cũng khác với nhà nho chủ hòa nguy hại, Phan Thanh Giản, cử nhân Phan Văn Trị đã nói lên lời oán hận, oán hận ngay đối với ông Nghè đại thần rằng:

“Tan nhà căm nỗi cơn ly hận

Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa

Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ

Ngậm ngùi hết nói nỗi quan ta”[12].

Ở một số sĩ phu khác, thái độ có phần quyết liệt hơn. Phan Huân ở Hà Tĩnh được tin hòa ước đã ký, vội vàng dâng sớ đòi giết Phan Thanh Giản, đuổi Trương Đăng Quế về nhà và trực tiếp lên án chính sách chuyên chế của Tự Đức. Hơn nữa, việc nước nhà bị xâm lăng và chia cắt đã gieo trong các giới sĩ phu một lòng bất mãn đối với triều đình mà họ cho là đã quá bất lực. Vì thế đã dẫn dến một sự kiện chưa từng thấy trong lịch sử là các sĩ tử thi hương ở các trường thi Thừa Thiên, Nghệ An, Nam Định và Hà Nội biểu tình phản đối ký Hòa ước 1862, đến nỗi triều đình phải cho quan quân đến đàn áp mới yên được. Ngay ở kinh đô, trong hàng quan lại và đến cả người trong hoàng phái cũng ra mặt phản kháng và muốn lật đổ Tự Đức để lập một vua khác, đặng chống ngoại xâm đắc lực hơn. Đó tức là cuộc mưu nổi dậy của công tử Hồng Tập cùng với phò mã Trương Văn Chất định lật đổ triều đình và giết đại thần Phan Thanh Giản và Trần Tiễn Thành năm 1864[13] và cũng ở ngay kinh đô đầu não của chính quyền phong kiến đã từng nổi lên cuộc khởi nghĩa của binh lính và thợ thuyền do Đoàn Trưng, Đoàn Trực lãnh đạo năm 1866 để chống lại triều đình Huế hủ bại không biết lo việc nước mà lại chỉ lo xây lăng miếu, mồ mả tốn kém công sức của cải của nhân dân.

Tất cả những lời nói, việc làm ấy của sĩ phu, của nghĩa quân đã tố cáo một cách đanh thép rằng: Triều đình Huế là tội phạm chính của việc để mất đất nước, bỏ dân, bỏ nước để chỉ lo khư khư giữ lấy ngai vàng đã mọt ruỗng và quyền lợi bẩn thỉu của chúng. Cho nên những tiếng “mại quốc”, “khí dân” chúng phải chịu lấy. Không riêng chỉ tiếng nói bằng thơ văn có sức mạnh tố cáo của các sĩ phu, nhân dân ta vừa đánh giặc nhưng lại cũng vừa sáng tác những bài thơ, bài hịch có sức mạnh tố cáo, vạch rõ trách nhiệm của triều đình phản động, như bài “Hịch đánh Tây” của Lãnh Cồ đã được phổ biến rộng rãi, có những câu như:

“Cơ đồ tan nát, cũng vì triều đình nhu nhược tham sinh nên đã đầu hàng, để cho quân giặc tung hoành, thừa thế ra tay tàn sát”.

 Rõ ràng là từ những ngày đầu, trong cuộc sống nạn nhân của đường lối chủ hòa, đầu hàng, nhân dân ta đã thấy được tội lỗi của triều đình Huế, cái tội lỗi đầu hàng bán nước mà lịch sử càng ngày càng chứng minh. Ở đây chúng ta cũng thấy rằng dư luận công chính bao giờ cũng buộc tội triều đình, hoặc khi nói đến người có trách nhiệm trực tiếp ký hàng ước với giặc là Phan Thanh Giản thì đều gắn với đường lối chủ hòa đầu hàng của triều đình Huế. Tư tưởng chủ hòa tiêu cực của Phan Thanh Giản tất nhiên là sai lầm, nó càng sai lầm hơn khi ông không chịu nghe theo tiếng nói chủ chiến của đông đảo nhân dân, mà chỉ khư khư giữ mãi chủ trương phản động ấy. Mặc dầu có rất nhiều trường hợp, sự thực đã chứng minh hùng hồn rằng “chủ chiến là chiến thắng”, nhất là những cơ hội rất thuận lợi cho việc lấy lại đất nước, như lúc bên địch gặp phải nhiều khó khăn, đang bối rối ở ngay chính quốc, ở chiến cuộc với Ý hay đang bị mắc kẹt ở vùng Hoa - Bắc. Ngay lúc ấy ở Việt Nam do sức kháng chiến mạnh mẽ của quân dân ta tên đề đốc Ri-gôn đơ Giơ-nui-y đang khốn đốn, phải tự điện về Pháp xin viện binh và được bộ Tư lệnh Pháp trả lời là: “Hồi này nước nhà không có thể nào tiếp tế cho tướng quân thêm một tên lính hay một chiếc tầu cũng vậy. Thôi tốt hơn hết là tướng quân liệu bề thương thuyết điều đình với chính phủ nước Nam cho xong, nếu họ cam đoan từ nay trở đi không ngược đãi tín đồ Thiên Chúa giáo thì chúng ta chỉ có việc trả lại thành trì cho họ rồi rút binh về là hơn”[14]. Khi bức thư này qua tay đề đốc Giơ-nui-y tháng 6/1859 thì tình hình quân Pháp ở Việt Nam đang gặp bước hiểm nghèo đặc biệt. Tại Cửa Hàn mới có bệnh dịch lệ phát ra, mỗi ngày giết hại hàng chục người mà công cuộc tiếp tế lương thực rất là gian nan, thành ra toán quân còn lại ở cửa Hàn bấy lâu thiếu thốn cả thuốc men, rượu thịt, quần áo, đến tiền bạc, súng đạn cũng hao hụt nhiều. Thế mà triều đình và phái chủ hòa cứ để mặc, không có một hành động quyết liệt nào, vẫn cứ chờ đợi cho họ mỏi hơi, mệt xác, rồi tự nhiên phải bỏ đi là xong. Thật là tai hại đáng muôn đời nguyền rủa cho chính sách đầu hàng của Tự Đức và cũng thật đáng thương thay cho những đại thần thiếu minh mẫn như Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp. Riêng về phần Phan Thanh Giản, ông phải chịu lấy một phần trách nhiệm to lớn trong chính sách ấy.

Phần trên chúng tôi đã nói về trách nhiệm của Phan Thanh Giản gắn liền với trách nhiệm của triều đình Huế trong việc để mất sáu tỉnh Nam Kỳ. Nhưng chúng ta còn phải xét thêm cá nhân Phan Thanh Giản và động cơ của những hành động của ông như thế nào nữa để đi đến một nhận định toàn diện hơn về Phan Thanh Giản. Quan niệm cho rằng Phan Thanh Giản là một người “bán nước”- chữ “bán nước” hiểu theo nghĩa thông thường có hoàn toàn đúng không? Chúng tôi nghĩ rằng cái khẩu hiệu “Phan - Lâm mại quốc, triều đình khí dân” viết trên lá cờ của nghĩa quân Trương Định, nghĩa chữ “mại quốc” này không giống nghĩa thật chữ “bán nước” mà nhân dân ta bao đời nay vẫn khép tội cho bọn vong quốc, vong bản như Tôn Thọ Tường chẳng hạn. Tên Việt gian lúc đó là Tôn Thọ Tường, kẻ đã chính miệng mình nói rằng “kể chi danh phận lúc tan hoang” và “thân còn chẳng kể, kể chi danh”,… Bộ mặt bán nước của hắn đã bị công luận lên án và nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị ngay lúc đó đã lột trần chân tướng của hắn trong các bài họa lại với lời lẽ đầy khinh miệt như:

“Đứa ghẻ ruồi, đứa lác voi

Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi

Người tuy mặt đỏ đôi tròng bạc

Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi”[15].

Trái hẳn với Tôn Thọ Tường, Phan Thanh Giản vì thương dân mà “chủ hòa” để rồi dẫn đến tai họa đất mất, quyền mất, người chết mà Phan không lường trước được. Có hậu quả tai hại đó chính là do Phan Thanh Giản mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa, khiếp sợ trước thế lực tư bản. Phan muốn hòa với Pháp và cho đó là con đường đỡ tổn thất cho nhân dân. Phan ngây thơ ngỡ rằng: “giặc ví như chim cắt được ăn no sẽ cất cánh bay đi, ta ví như con rồng còn nương náu, vẫn chờ đợi để lo toan”[16]. Phan cũng đã từng dâng sớ điều trần xin cải cách duy tân nước nhà, Phan muốn yên hàn để tu chỉnh sự kỷ cương đặng một ngày kia phú quốc cường binh. Phan hằng nói: “Dạy dỗ dân chúng cho khỏi u mê, khuyến khích dân làm lụng cày cấy để thêm lợi tức khả dĩ mộ thêm binh lính và trả lương hậu cho họ. Như vậy, dân tình đỡ khổ, lương thảo dồi dào, quân lính cũng được tập luyện tinh nhuệ. Có được như thế thì công hay thủ cũng đều được cả. Chương trình này có thể áp dụng để chống với kẻ cường địch, an lòng nhân dân và tránh đại họa được. Liều đánh bây giờ để hả lòng căm tức, hạ lệnh cho quân sĩ tấn công, chẳng khác xua dê vào miệng cọp”[17]. Tư tưởng của Phan là muốn có sức mạnh đã rồi có thể chiến đấu và chiến thắng, chứ Phan không biết nghĩ rằng trong chiến đấu sẽ trưởng thành (như chúng ta ngày nay). Cho nên khi hòa ước được ký kết, Phan Thanh Giản đã ngây thơ tin ở giặc và nói với Nguyễn Tri Phương rằng: “hòa nghị đã thành có thể ngồi mà hưởng phú cường”[18]. Phan có ngờ đâu rằng “quân beo sói khó diệt hết mà cũng khó làm thân”[19]. Chính vì kiên trì tư tưởng chủ hòa tai hại ấy, nên hậu họa to lớn trực tiếp đầu tiên Phan phải chịu tức là cái chết bi thảm. Cái chết của Phan đã chứng tỏ sự bất lực hoàn toàn đối với lòng tin cậy của triều đình và cũng để tỏ cho nhân dân rằng mình đã sai lầm và chịu tội trước nhân dân. Tất nhiên, cũng không phải chỉ riêng vì cái chết này mà chúng ta phải nói ngay rằng Phan Thanh Giản là người không tham sống sợ chết, thấy giặc thì chạy dài lo bảo toàn thân mình như bọn Tôn Thọ Tường, Nguyễn Bá Nghi. Trái lại, ở Phan Thanh Giản chúng ta thấy một tấm lòng ưu ái sâu sắc đối với dân, với nước. Tất nhiên tư tưởng của ông chưa thể vượt ra khỏi phạm vi trung quân, những hành động phục tùng triều đình phong kiến của ông đã cho chúng ta thấy quá rõ điều đó. Có thể nói, đối với vua, ông đã phục tùng một cách mù quáng, chẳng hạn trong bước đường hoạn lộ, thật ông đã lắm phen trầy trật, lắm lúc oan ức, nhưng vẫn không hề tỏ ra phản ứng chống đối. Cả cuộc đời của Phan là thể hiện đầy đủ những lời của cha dặn trong một bức thư gửi cho ông lúc ông nhậm chức Phó Tổng trấn Quảng Bình:

“Những phương châm xử thế và ăn ở trong gia đình là phải trung với vua, hiếu với cha mẹ, lo việc công, bỏ việc tư, sống bằng cơm rau nước lã.

Người hiếu tử không bao giờ lấy của phi nghĩa để nuôi cha mẹ. Con phải hết lòng trị nước an dân. Liêm khiết, trung thực, khôn ngoan, cần kiệm,… ấy là những đức tính con cần phải có…”[20].

Tìm hiểu cuộc đời hoạt động của Phan Thanh Giản, chúng ta thấy quả đúng như vậy. Đương nhiên, ở ông có những điểm cần phê phán như “chủ hòa”, trung quân mù quáng,… nhưng có những điểm chúng ta cần phải trân trọng. Cuộc đời của ông từ khi thi đậu ra làm quan cho đến khi chết, đã trải qua nhiều bước thăng trầm, ông đã đảm đương qua nhiều trọng trách. Lúc nào ông cũng vẫn tâm niệm “vì dân, vì nước”, “ơn vua, lộc nước”. Cũng có những việc làm của ông đã ngược lại ý muốn tốt lành của ông như chủ hòa để rồi mất nước và theo sau đó là bao nhiêu tai họa xảy đến, kể cả thảm họa làm cho ông bi quan thất vọng đến tự tử, nhưng tấm lòng trong trắng không mảy may gợn đục, vẫn là vì dân, vì nước. Đường lối, chủ trương và biện pháp thực hiện của ông đã sai lầm nhưng cần thấy rõ động cơ xuất phát của những hành động của ông. Phan thành thực nhận thấy rằng đường lối chủ hòa là con đường duy nhất đỡ tổn thất cho nhân dân và ông đã cố đem hết sức mình để làm không từ nan, không trái mệnh vua. Vua lệnh cho: “An nguy tại thử cử, khẳng tích kinh luân thuật” (An nguy tại lòng này, kình luân đừng tiếc chước hay làm gì”). Và Phan cũng biết “thành bại hay không là do ở nước Tây kia” thế nhưng Phan vẫn vui vẻ nhận trách nhiệm, không quản tuổi già sức yếu, vì ông luôn luôn:

“Lo nỗi nước kia cơn phiên biến,

Thương bề dân nọ cuộc giao chinh”[21].

Cho đến năm 1865, đã 69 tuổi đầu, qua bao phen lao tâm khổ tứ, Phan xin triều đình cho nghỉ việc quan để yên nghỉ tuổi già. Trong tờ sớ xin về hưu, ông thiết tha rằng:

“Than ôi, nay đã già nua tuổi tác, thần tự thấy suy kém cả sức lực tinh thần. Thường khi vì sức cùng lực kiệt, thần bỏ trễ nải cả trọng trách mà thần phải đảm đương. Khi đến cầu 70 thân người ta mảnh dẻ như liễu sậy đã bao lâu chống đỡ với cuồng phong, hay như con thiên lý mã kiệt lực không thể cố được nữa. Thần không sao tiếp tục làm việc được nữa, e rằng phạm lỗi làm rối việc quốc gia”[22].

Đã đến lúc con người đã từng vất vả ngược xuôi hết lòng mẫn cán ấy đã cảm thấy “lão lai, tài tận” rồi mà triều đình vẫn chưa cho nghỉ thân, vẫn tín nhiệm, vẫn lại giao cho chức vụ khâm sai giữ ba tỉnh miền Tây để “chuộc lỗi” xưa, mà đến lúc đó Phan vẫn không từ chối, lại tiếp tục những ngày phụng sự vua trên cho trọn nghĩa! Do tinh thần “công cán” đó của Phan Thanh Giản nên Nguyễn Đình Chiểu cũng đã phải nói: “Phan học sĩ hết lòng mưu quốc”[23]. Cứ thế cho đến khi hắt hơi thở cuối cùng với biết bao ngậm ngùi chua xót, ông vẫn viết trong tờ “Di biểu” dâng vua Tự Đức rằng:

“Nay gặp thời gian bĩ, việc dữ khởi ở trong cõi, khí xấu hiện ở biên thùy, việc cõi Nam Kỳ một chốc đến thế này, không thể ngăn nổi, người tôi đáng chết không dám sống cẩu thả để cái nhục cho quân phụ. Đức Hoàng thượng rộng xét xưa nay, biết rõ trị loạn, thân kẻ hiền trong nước cùng lòng giúp đỡ, kính cẩn phép trời, thương người cùng khổ, lo trước tính sau, đổi dây thay bánh, thế lực còn có thể làm được. Thần tới lúc tắt nghỉ, nghẹn ngào không biết nói sao chỉ gạt nước mắt tỏ lòng quyến luyến trông mong khôn xiết.”[24].

Đồng thời với việc tự tử Phan Thanh Giản cũng gửi trả lại triều đình tất cả chiếu chỉ, sắc ban phẩm tặng để tỏ rằng mình không xứng đáng với ân thưởng ấy nữa! Riêng sự “biểu thị thái độ” trước cái chết như vậy cũng đã làm cho mọi người cảm cảnh và có thái độ thể tất nhân tình cho ông phần nào. Huống nữa, ở Phan Thanh Giản còn có nhiều đức độ đáng kính. Tuy là một quan đại thần, nhưng Phan vẫn sống trong cảnh an bần lạc đạo và nổi tiếng là một ông quan thanh liêm. Trong một xã hội phong kiến, cái cảnh tham quan ô lại đục khoét nhân dân cứ là nhan nhản khắp đó đây, mà Phan Thanh Giản vẫn giữ được đức tính liêm khiết, trung trực, điều đó thật đáng quý. Điều đó đủ có sức chinh phục rất lớn đối với tình cảm nhân dân, do đó, Phan Thanh Giản có uy tín và được cảm tình của đông đảo nhân dân. Bọn thực dân Pháp cũng biết rõ điều đó và muốn lợi dụng Phan - tất nhiên trước hết vì Phan là một người chủ hòa - chúng không muốn Phan Thanh Giản chết vội. Cho nên khi nghe tin Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử, bọn thực dân Pháp đã vội vàng “cử thầy thuốc đến và xin ông uống thuốc giải độc, nhưng ông kiên quyết không thay đổi ý kiến của mình và chết sau 48 giờ”[25]. Có thể nói lúc bấy giờ Phan Thanh Giản chọn cái chết là đúng. Tuy rằng cái chết của ông không phải là cái chết của người chiến sĩ nơi đầu tên mũi đạn trên chiến trường, hay là cái chết đầy nghĩa phẫn của Hoàng Diệu sau này. Cái chết của ông chỉ là cái chết tiêu cực. Tuy vậy nó vẫn biểu thị một thái độ thành thật đáng được tha thứ. Cũng do đó mà làm cho mọi người có ít nhiều suy nghĩ. Người ta phê phán ông, nhưng người ta cũng rộng lượng đối với ông. Điều đó cắt nghĩa vì sao trong tình cảm nhân dân Việt Nam có dành cho ông một phần trân trọng.

Phan Thanh Giản đối với vua trên và đối với bản thân là như vậy, còn đối với bọn làm tay sai cho giặc thì lại tỏ ra rất dứt khoát. Chẳng hạn như khi Phan Hiểu Đạo bị Tôn Thọ Tường theo lệnh Pháp dụ dỗ ra làm quan, ngày gặp Phan vào trấn Vĩnh Long, Hiểu Đạo hỏi ý kiến, Phan đã phê mấy chữ ý nói “làm việc cho Tây như người đàn bà bị mất trinh tiết”. Phan Hiểu Đạo tự thấy xấu hổ nên đã uống thuốc độc tự tử[26]. Thái độ đó của Phan Thanh Giản cho thấy rằng, ông chẳng những không phải là tay sai của giặc mà còn là một người biết phân rõ địch ta như thế nào. Nói như vậy, nghe ra có vẻ mâu thuẫn, bởi ông cũng là người đặt tay ký hàng ước nhường đất cho giặc. Như trên đã phân tích tư tưởng chủ hòa của ông là với động cơ tránh binh lửa chết chóc cho nhân dân. Nhưng ông không ngờ hậu họa của hòa ước lại to lớn như thế, thì đó đã đành là bi kịch cho cuộc đời của ông và ông phải đền tội bằng cái chết. Tuy vậy, tư tưởng chủ hòa của ông dù là tiêu cực nguy hại như vậy đấy, song cũng không đốn mạt và bỉ ổi bằng số quan lại chủ tâm đầu hàng Pháp ngay từ phút đầu, rồi lại ngoan ngoãn làm tay sai trở lại đàn áp giết chóc nhân dân. Ở ông, tuy cũng có cái khiếp sợ, mất tinh thần, có cái giật mình trước văn minh tân tiến của Âu châu, nhưng ông vẫn còn “hết lời năn nỉ” để kêu tình đồng bang mau kịp bước. Những lời năn nỉ, trình bày yêu cầu duy tân của ông “chẳng ai tin”[27], thậm chí còn bị coi là “kẻ khéo tâng người mà hạ mình”. Bình sinh Phan Thanh Giản một mực cố hết sức mình để “cầu hòa”, để “chuộc đất”. Nhưng tất cả đều đã trở nên vô vọng. Tiếng kêu của ông đến lúc đã trở nên lạc lõng, đáng thương như chính ông đã tự bộc bạch sau lần làm “Chánh sứ như Tây” (1984):

“Trời thời, đất lợi lại người hòa

Há để ngồi coi nói chẳng ra

Làm trả ơn vua đền nợ nước

Đành cam gánh nặng ruổi đường xa

Lên ghềnh, xuống thác, thương con trẻ

Vượt bể trèo non cảm phận già

Những tưởng một lời an bốn cõi

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba”.

Tâm trạng buồn khổ cô đơn đã bắt đầu xâm lấn những ngày xế chiều cuộc sống của một ông quan đại thần mang nặng ý thức phong kiến! Tâm trạng đó cũng cô đơn bất lực như cái đạo Nho vào những ngày tàn tạ của nó. Tâm trạng của ông chẳng khác gì tâm trạng Bá Nha sau khi trở lại thôn Tập Hiền ở Tầm Dương không tìm thấy Tử Kỳ, nên những ngày trước khi chết, Phan vẫn thường ngâm bài “Toái Cầm”:

“Tử Kỳ đã mất đập đàn thôi

Non nước kìa ai những ngậm ngùi

Gió Xuân bốn mặt chung là bạn

Mà kẻ tri âm chẳng thấy người”[28].

Tâm trạng Phan Thanh Giản lúc này thật bế tắc. Một mặt do không làm tròn trách nhiệm của triều đình giao cho là phải “hòa với giặc”, “chuộc lại’ đất tổ tiên của hoàng triều, một mặt thì nhân dân càng ngày càng cơ khổ hơn trước sự chiếm đất, giết người, cướp của của quân thù. Cả nước đang xốc lên một phong trào đánh giặc cứu nước và nhân dân cũng đã trực tiếp lên án ông. Trên ép xuống, dưới ép lên, ông phải lấy cái chết để mong “tựu nghĩa” và để rồi thời gian sẽ phân xử cho ông. Ngày nay có lẽ chúng ta cũng không nên quá khắt khe như thời ông sống, thời mà phong trào kháng chiến của nhân dân lục tỉnh đang lên cao, đang cần thiết phải nêu lên khẩu hiệu “Phan, Lâm mại quốc, triều đình khí dân” để tập hợp lực lượng kháng chiến. Nói một cách công bằng hơn, trách nhiệm của Phan Thanh Giản là gắn chặt với trách nhiệm của triều đình Huế, chính triều đình phong kiến thối nát ấy mới là kẻ đầu sỏ bán nước, còn Phan Thanh Giản chỉ là một trong số những người chủ trương và thi hành đường lối tội lỗi ấy mà thôi. Hơn nữa, trong khi chúng ta nêu rõ hậu quả của những hành động của Phan, thì cũng không nên quên nhắc nhở tấm lòng ưu ái của ông đối với dân với nước. Có như thế chúng ta mới hiểu và cắt nghĩa được mối cảm tình của một số sĩ phu và nhân dân lúc ấy đối với Phan mặc dù Phan đang tay ký điều ước 1862 và sau lại để cho Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Có người sẽ bảo như thế là quá rộng lượng với Phan, là không nhìn nhận sự sáng suốt của nhân dân trong chủ trương “quyết chiến” không nhìn nhận sự cần thiết phải nêu lên khẩu hiệu như trên để đẩy mạnh kháng Pháp lúc đó. Đó là một mặt của vấn đề lịch sử mà chúng ta đã nói tới ở phần trên.

Chúng ta cần trở lại xét thêm những công trạng và đức tốt của Phan Thanh Giản đối với nhân dân thì mới thấy rõ hơn vì sao Phan đáng được nhân dân khoan dung và trân trọng. Trước hết vì Phan Thanh Giản là một người cần cán rất đỗi thương yêu nhân đân. Ngay từ những ngày đầu mới ra làm quan với triều Minh Mệnh, có lần giữ chức giám thị kỳ thi Hội ở Huế (1828), nhân có bão lụt trong thành, ông dâng sớ tâu rằng: “mưa to và nạn thủy tai là những triệu chứng không tốt, hạ thần cúi xin Thánh thượng tự sửa mình làm điều nhân đức và giảm bớt số cung nữ, phi tần. Như thế là Thánh Hoàng làm theo ý thiên địa, bách tính sẽ được sung sướng”[29]. Hoặc như năm 1850, khi trấn nhiệm ở miền Tây, nhân dân gặp nạn dịch lệ lan tràn, ông đã dâng sớ lên vua xin cấp cứu cho qua khỏi tai ách, xin tha bớt hình ngục, hoãn việc binh thuế và chẩn cấp cho dân. Một lần khác vua định xa giá kinh lý miền Nam (các tỉnh Quảng Nam, Quàng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) mà trong lúc đó nhân dân các tỉnh này “đang trong nạn hạn hán, mất mùa, thóc cao gạo kém, người nghèo chết đói”... “không thể sửa sang đường cái lập nhà công quán kiếm củi đuốc cỏ rơm cho đoàn quan quân hộ tống được, nên xin hoãn cuộc ngự du này đến khi mưa thuận gió hòa,  mùa màng tươi tốt, trăm họ ấm no, lúc bấy giờ dân gian sẽ đón tiếp thánh hoàng một cách nhiệt liệt”[30]. Việc làm đó của Phan Thanh Giản tất nhiên được nhân dân kính phục, biết ơn và nhớ mãi. Để có lợi cho nước, cho dân, Phan Thanh Giản đã từng có những đề nghị với nhà vua rất thẳng thắn. Năm 1851, ông đã cùng với Nguyễn Tri Phương dâng lên vua bản đề nghị tám điều như sau:

“1. Chúa Thượng phải cẩn trọng trong lúc du hí: không nên dạo chơi ven bờ sông, bơi thuyền hay tắm hay dự cuộc thi ngựa.

2. Không nên xem kịch tuồng vì sẽ có ảnh hưởng không tốt đến việc cai trị.

3. Phải tránh xa những kẻ gian hùng chỉ dựa thế triều đình bắt nạt dân đen trục lợi. Bọn “cửu long” nghĩa là chín tên cận thần mà bây giờ gọi là bát tiên vì trừ một người chết còn tám, nên bổ họ vào ngạch võ quan, không nên cho họ tự do vào cung cấm, sợ xảy ra điều xấu xa chăng.

4. Phải áp dụng những quy tắc về chính sách xã hội, giảm bớt tiêu pha phung phí, và không nên quá tin yêu quần thần. Nhà vua cần phải cấm chỉ ngay việc sai các quan đi mua vàng bạc châu báu, ngà voi để về phân phát cho phi tần cung nữ.

5. Phải giảm bớt số thái giám và cư xử theo các bậc tiền nhân. Về đời Gia Long, Minh Mạng, thị vệ chỉ được đến tam tứ phẩm; bây giờ chánh đội thị vệ Trần Kiêm cậy thế quyền nhũng lạm, sách nhiễu. Cử chỉ ấy sợ rằng người khác bắt chước làm bậy.

6. Phải cẩn thận lựa chọn bầy tôi, lấy những người thực thà, chính trực, nghĩa khí, loại những người gian ác, tham lam, đạo đức giả, hiếu danh, cần sự công bình trong việc lựa tuyển; Nội vụ bộ sẽ tuyển văn quan. Binh bộ sẽ tuyển võ quan.

7. Giảm bớt tạp dịch cho binh lính để lấy thì giờ luyện võ, điều cần để chiến thắng.

8. Tăng lương cho các quan lại: như tăng lương đầy đủ, họ không nghĩ đến hối lộ và xử án công bằng hơn”[31].

Về bản đề nghị này, Tự Đức đã phải phê rằng: “Hai khanh đều là tôi lương đống của triều đình, trẫm cũng biết là khanh buộc tội cho trẫm. Nhưng không bao giờ trẫm làm việc nhẹ dạ. Trẫm tin ở lòng ái quốc của khanh và khanh nên vui lòng theo ý trẫm”[32].

Đến năm 1883, Phan Thanh Giản lại dâng sớ đề nghị nhà vua sửa đổi chính trị, trong đó có ba khoản đáng chú ý:

-       Cứu cấp trẻ nghèo để giảm sự khổ sở của toàn xứ.

-       Sửa đổi học chính để mở mang bệnh viện.

-       Sửa sang đường sá cho sự giao thông được thuận tiện, đóng xe bò để vận tải được dễ dàng[33].

Cũng do vậy mà trước kia Phan Thanh Giản được Minh Mạng khen là “người ngay thẳng, quả cảm, học lực rộng và có biệt tài”, sau này lại được Tự Đức ban thưởng chiếc kim khánh có khắc bốn chữ “liêm bình cần cán”.

Những việc lớn đã thế, những việc nhỏ sau đây càng tỏ ra rằng Phan là một người rất thương yêu gần gũi nhân dân. Câu chuyện một vị quan đại thần ở Viện Cơ mật về chịu tang cha vận quần áo sô gai như một người thường dân đi một mình không có lính hầu, khi đi qua bến đò Ba Lai (giữa Mỹ Tho - Bến Tre) bị một người lính đồn không biết là đại thần đã khám xét lục soát và bị cả người cai đồn giữ lại… vẫn không tỏ ra khó chịu hách dịch gì mà sau lại ban khen tặng thưởng cho họ vì những người đó đã “làm tròn phận sự”. Cử chỉ ấy của Phan Thanh Giản đã làm cho mọi người mến phục. Hay là câu chuyện: Một hôm đi tỉnh mộ về, Phan bị một người vác cây tre lòa xòa đi đằng trước đụng vào người bị thương. Người vác tre quay lại thấy ông cả sợ, mặt tái xanh như chàm đổ, ông bèn gọi lại và bảo đưa cho ông mượn luôn con dao rựa, người vác tre càng khiếp đảm lo cho tính mệnh chẳng còn. Nhưng không ông bèn phát nốt mấy cành lòa xòa ở thân tre và từ tốn nói với người vác tre rằng: “Bận sau bác phải cẩn thận, kẻo gặp người khác thì không xong đâu”[34].

Những cử chỉ như vậy của Phan đã được nhân dân khắp miền truyền tụng và nhận ông là một người rất mực khoan nhân đại độ.

Về việc Phan Thanh Giản quan tâm đến đời sống nhân dân, chúng ta còn thấy thể hiện khá nhiều ở các bài thơ trong tập Lương Khê thi thảo. Như bài “Vọng vũ” (Mong mưa) của Phan làm năm Quảng Nam bị hạn hán kéo dài (1836):

“Kính tuần thiên bất vũ

Nhật mộ chỉ vi lương

Khinh vân từ dục hợp

         Đong phong suy cản dương,

Thiên tế tự trung uất

Thánh thần như phi sương

Chiêm bỉ cao đê điền

Hà Miêu bán uy hoàng

Thu lai mễ già ngang

Huống phục thử khang hạn

Nông dân thực khả thương

Nguyệt Tỏa giáng xuân cao

Cập thời tô trưng thương”

Dịch nghĩa:

“Suốt hàng tuần trời không mưa

Ngày muộn chỉ hơi mát

Mây nhẹ từ từ muốn họp lại

Bị gió nồm thổi liền bay tan đi

Khoảng trời cứ nung nấu bức bối

Sáng sớm như có sương bay

Trông những thửa ruộng cao thấp kia

Mạ lúa đã úa vàng mất nửa

Vụ chiêm này dù có được mùa

Sang thu này giá gạo tất cao

Huống lại bị hồi hạn dữ này

Nông dân thật đáng thương

Mong trời sớm cho xuống trận mưa xuân

Để kịp thời cho dân tỉnh táo lại”.

Trong bài thơ tiễn đưa Lại bộ thị lang Hoàng Kiện Trai đi nhậm chức bố chánh Gia Định, ông nhắn nhủ:

“Than tức tự lòng khai hấn họa

Chi kim do vị khởi sang di

Lư diêm dẫn lĩnh bằng hà nhuận

Quốc kế dân tình triệt để ti”.

Dịch nghĩa:

Than thở từ ngày gây ra thù giận tai vạ,

Ngày nay vẫn chưa hàn khỏi được những vết đau thương.

Làng xóm nghển cổ đợi mong nhờ được ân trạch của các quan nhân đức.

Kế nước tình dân phải lo nghĩ sao cho được mười phân vẹn phân mười.

Ông mong muốn tất cả những ai có trách nhiệm “trị nước, an dân” hãy hết lòng hết sức giữ đạo công bằng, lòng liêm khiết, cương trực để cho nước cho dân được nhờ,… Đó cũng chính là những đức độ cao cả, những tình cảm, tình thương tốt đẹp của Phan Thanh Giản đã làm cho ông có được vị trí khá trân trọng trong suy nghĩ và tình cảm của mọi người. Cũng vì thế mà sau khi Phan Thanh Giản chết, ngay trong hàng ngũ sĩ phu yêu nước đã có những nhận định về ông khá công bằng và rộng lượng, tỏ ra thông cảm với ông.

Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp, trong bài văn tế Phan một mặt nêu rõ trách nhiệm của Phan trong lịch sử, nhưng mặt khác cũng nói rõ lòng trung nghĩa của Phan.

“Năm xưa lập hòa ước, ông đã cam là kẻ có tội để cứu vãn sự nguy cấp của nước nhà. Nay ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên tình thế nguy ngập giống như tổ chức bị gió mưa lay bạt. Thế mà ông không đề phòng để quân giặc đánh trộm giống như Điền Quảng nước Tề bị Hàn Tín đánh úp. Lỗi đó sẽ phải về mình, than tiếc cũng không thể lấy lại được.

Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo.

Một phong di biểu, ngỏ hết can trường thật đáng cho người đọc phải khóc. Tiếc thay trong lúc hiểm nghèo như thế quẻ truân kinh dịch, một người trung tín như ông lại gặp phải cuộc gian nan ấy. Rồi đây việc biên thùy nhà vua chắc về sau sẽ soi thấu nhưng mà kẻ tầm thường lại bảo ông làm lỡ nước nhà”[35].

Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cũng đã có bài thơ điếu nêu rõ lòng trung nghĩa của Phan, đồng thời cũng vạch rõ trách nhiệm của triều đình Huế:

“Non nước tan tành bệ ở đâu

Dầu dầu mây bạc cõi ngao châu

Ba triều công của vài hàng sớ

Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu

Ải bắc ngày chờ tin nhạn vắng

Thành Nam đêm chạnh tiếng quyên sầu

Minh sinh chín chữ lòng son tạc

Trời đất từ đây bặt gió thu”[36].

Nguyễn Thông, một nhà thơ yêu nước khác ở miền Nam “cho việc Phan Thanh Giản tử tiết quan hệ đến phong giáo” đã tâu xin Tự Đức “ban thưởng” để “khích lệ” người sau. Nhưng Tự Đức đã cự tuyệt và đã khép (Phan Thanh Giản) vào tội “trảm quyết” (nhưng vì đã chết nên được miễn) và “lột hết chức tước và đục hết tên trên bản các ông đỗ tiến sĩ…”. Tự Đức làm như vậy là cốt để đổ tất cả tội lỗi bán nước đầu hàng giặc của triều đình nhà Nguyễn lên đầu Phan Thanh Giản - người đã chết.

Lời trối trăng của Phan Thanh Giản với các con trước khi nhắm mắt là “chớ khởi nghĩa mà vô ích”, “chớ làm quan với triều Nguyễn” cũng như lời Phan Thanh Giản dặn các thân nhân ghi trên mộ rằng: “Đại Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan chi cửu diệc dĩ thư chi mộ” (mộ của người học trò già họ Phan ở bờ bể nước Đại Nam) đã phản ánh đúng đắn tinh thần khiếp nhược và nỗi chán chường bế tắc của ý thức hệ phong kiến đến ngày suy tàn thảm hại. Nội dung “trung”, “hiếu” của Nho giáo lúc này đã quá lỗi thời, nó phải được quan niệm lại. Nên chi sau khi Phan Thanh Giản chết, các con của ông là Phan Tôn, Phan Liêm đã nổi lên cùng với nhân dân anh dũng chống Pháp, dù trái lại với lời dặn của cha, nhưng như thế mới là chí hiếu. Hai anh em của họ Phan sau khi thất bại ở Bến Tre lại ra Bắc cùng Nguyễn Tri Phương trấn giữ Hà Thành tiếp tục chiến đấu và đó cũng chính là có hiếu với cha, trung với vua và yêu nhân dân đất nước tích cực. Ở đây hai anh em họ Phan đã nhận rõ mối quan hệ giữa “ái quốc” với “trung quân” và “hiếu tử”. Trung quân chỉ nặng khi nào có minh quân. Vua có thể là hôn quân, còn lòng ái quốc tức là yêu đất nước quê hương đồng nội, yêu nước là yêu truyền thống lịch sử lâu đời thì không bao giờ có thể đổi dời, mà càng ngày càng sâu sắc hơn, nhất là những lúc bị nạn ngoại xâm đe dọa, bị kẻ địch giày xéo. Yêu nước thì phải bằng mọi cách để bảo vệ đất nước. Nhân dân ta và hai anh em họ Phan đã hiểu được điều thiết thân đó và đã hành động khác với cha mình khi xưa. Cho nên có thể nói thêm rằng, chính hai con của Phan đã góp phần chuộc lỗi lầm cho cha.

Trên đây, chúng tôi đã cố gắng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa trách nhiệm to lớn của Phan Thanh Giản với trách nhiệm triều đình Huế của giai cấp phong kiến, đồng thời nói thêm về thân thế sự nghiệp của Phan, cũng như tìm hiểu thêm về cái chết của Phan và thái độ các tầng lớp nhân dân đối với Phan Thanh Giản, mong các nhà nghiên cứu và các bạn đọc xa gần thành thật chỉ giáo cho.

                                                                Hà Nội, ngày 31-12-1962


*  Bài đã đăng trên : 1.Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 48, năm 1963, tr.12-24, theo thứ tự tác giả: Đặng Huy Vận, Chương Thâu.

                                       2 Đặng Huy Vân ( 2019), Phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX ,Đầu thế kỷ XX,   NXB  Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh 



[1] Dẫn theo Lê Thành Tường trong Un patriote annamite admirateur de la France, Hanoi, 1938, tr.7.

[2] Dẫn theo Lê Thành Tường trong Un patriote annamite admirateur de la France, Hanoi, 1938, tr.7.

[3] Tam Thanh và Hoành Hải, Phan Thanh Giản, NXB Đời Mới, Hà Nội, 1945, tr.6-7.

[4] Tam Thanh và Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.6 và 7.

[5] Khuyết danh, Hịch đánh giặc Pháp.

[6] Cảm tác của Phan Thanh Giản sau lần “Chánh sứ như Tây”.

[7] Nguyên văn chữ Hán: Bà ban xảo diệu tề thiên địa.

                                      Duy hữu tử sinh tạo hóa quyền” (Cảm tác của Phan Thanh Giản).

[8] Lời của Trương Sơn Chí, dẫn theo Nam Xuân Thọ viết trong quyển Phan Thanh Giản, Nhà xuất bản Tân - Việt, Sài Gòn, 1950, tr.114.

[9] Dẫn theo Thomazi trong quyển La conquête de l’Indochine. Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự dẫn trong Lịch sử cận đại Việt Nam, tập 1, Hà Nội, 1959, tr.70.

[10] Vial, Histoire de Cochinchine do Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Sự dẫn trong Lịch sử cận đại Việt Nam, tập 1, Hà Nội, 1959, tr.112.

[11] Trích Nguyễn Đình Chiểu, Ngư tiều y thuật vấn đáp.

[12] Phan Văn Trị, Cảm tác.

[13] Theo Bản triều bạn nghịch liệt chuyện, Bản chữ Hán, Thư viện Khoa học Trung ương, ký hiệu A.997.

[14]  Trích theo báo Mai, Sài Gòn, số 4, ngày 21-3-1936.

[15] Tôn Thọ Tường tự ví mình theo Pháp cũng như Từ Thứ hàng Tào Tháo tỏ ra ý nghĩa quyền biến và thời thế bắt buộc. Nhưng việc của Tường làm Việt gian và việc của Từ Thứ hàng Tào Tháo khác xa nhau. Vì thế Phan Văn Trị đã vạch mặt Tường như vậy (CT).

[16] Phạm Phú Thứ, Văn tế Phan Thanh Giản.

[17] Theo Tam Thanh và Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.56-57.

[18] Quốc triều chính biên toát yếu.

[19] Phạm Phú Thứ, Văn tế Phan Thanh Giản.

[20] Theo Tam Thanh và Hoành Hải, Sách đã dẫn.

[21] Thơ của Phan Thanh Giản lúc đi sứ.

[22] Dẫn theo: Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.24.

[23] Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế Lục tỉnh nghĩa sĩ trận vong.

[24] Theo bản dịch của Nguyễn Văn Tố trong Tạp chí Tri tân, số 98, ngày 3-6-1943.

[25] Theo Cultur, Histoire de la Cochinchine Francaise des origins à 1883, Paris, 1910, tr.117.

[26] Theo Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang trong quyển Thơ văn yêu nước Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1962, tr.15.

[27] Nguyên văn bài Tự than:

“Từ ngày đi sứ đến tây kinh

Thấy việc Âu châu phải giật mình

Kêu tỉnh đồng bang mau kịp bước

Hết lời năn nỉ chẳng ai tin”

[28] Nguyên văn chữ Hán:

Phá toái dao cầm phụng dĩ hàn

Tử Kỳ bất toại đòi thùy đàn

Xuân phong mãn địa giai bằng hữu

Dục mịch tri âm nan thượng man”.

[29] Theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.26.

[30] Theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.31.

[31] Dẫn theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.46-47.

[32] Dẫn theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.47-48.

[33] Dẫn theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.49.

[34] Theo Tam Thanh, Hoành Hải, Sách đã dẫn, tr.37.

[35] Phạm Phú Thứ, Văn tế Phan Thanh Giản, dẫn theo Hoành Hải, Tam Thanh trong quyển Phan Thanh Giản, Hà Nội, 1945, tr.115.

[36] Nguyễn Đình Chiểu, Điếu Phan Thanh Giản.

 




PHAN THANH GIẢN TRONG LỊCH SỬ CẬN ĐẠI VIỆT NAM *

                                                                        Đặng Huy Vận- Chương Thâu Lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX trở đi...