NHẬN THỨC VỀ NỮ QUYỀN Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX *


(QUA  MỘT SỐ SÁCH CHUYÊN KHẢO  VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ)

 Đặng Thị Vân Chi
Kỷ yếu HT quốc gia"" Nữ quyền- những vấn đề lý luận và thực tiễn" ngày 8/10/2015, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, từ tr 173-186,



I.                   Mở đầu
             Cho tới thời Cận thế, địa vị của phụ nữ ở cả Phương Đông và Phương Tây đều vô cùng thấp kém. Phụ nữ không có bất cứ một quyền lợi nào trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế và văn hoá cũng như tôn giáo. Bắt đầu từ giữa thế kỷ 17, đặc biệt trong thế kỷ 18 trào lưu tư tưởng “ánh sáng[1] của Pháp với những tác phẩm Tinh thần luật pháp của Môngtecxkiơ, hay Luận về nguồn gốc và cơ sở của sự bất bình đẳng, Khế ước xã hội của Rútxô đã liên tiếp tấn công vào thành trì quân chủ chuyên chế bằng những học thuyết mới, tiến bộ và cách mạng. Trong thời kì khủng hoảng của chế độ phong kiến, trào lưu tư tưởng tiến bộ và cách mạng đó đã trở thành cương lĩnh chính trị của phong trào cách mạng, có ảnh hưởng khắp châu Âu và mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Sự thay đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế, xã hội, chính trị…lúc đó đã làm nảy sinh nhiều vấn đề như: vai trò phụ nữ, sự bất lợi về kinh tế của phụ nữ do bắt buộc phải phụ thuộc vào đàn ông, việc phụ nữ bị loại ra khỏi môi trường xã hội, vị trí thấp kém của phụ nữ về mặt pháp luật so với nam giới … 
Đến cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, ở phương Tây và đặc biệt là ở Mỹ đã xuất hiện các lý thuyết về nữ quyền. Đó là lý thuyết nữ quyền tự do (hay còn gọi là nữ quyền tư sản) và đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX xuất hiện lý thuyết.nữ quyền mác xít ( hay nữ quyền  xã hội chủ nghĩa). Nhìn một cách đại thể, lý thuyết nữ quyền tự do vận động đấu tranh cho quyền được học tập, quyền làm việc và quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ… Còn lý thuyết nữ quyền mác xít hay nữ quyền xã hội chủ nghĩa thì gắn việc giải phóng phụ nữ với cuộc đấu tranh giai cấp và cuộc cách mạng để xây dựng một xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Cùng với sự phát triển của báo chí và kỹ thuật in ấn, xuất bản… tất cả những vấn đề trên đã nhanh chóng trở thành chủ đề của các cuộc tranh luận trong xã hội, trên báo chí và các xuất bản phẩm... từng bước làm thay đổi nhận thức của xã hội và bản thân người phụ nữ về quyền con người và quyền phụ nữ.
Các tác phẩm về nữ quyền [2] của các nhà tư tưởng lớn qua nhiều con đường khác nhau đã được các trí thức Việt Nam tiếp thu, ủng hộ và giới thiệu trên báo chí cũng như xuất bản thành sách để phổ biến trong nhân dân. Những bài báo và các tác phẩm này đã phản ánh quá trình phát triển về mặt nhận thức của giới trí thức Việt Nam về vấn đề nữ quyền và bình đẳng nam nữ. Vào những năm nửa đầu thế kỷ XX, những cuộc thảo luận về vấn đề phụ nữ và cuộc vận động giải phóng phụ nữ ở Việt Nam đều xoay quanh và chịu ảnh hưởng bởi hai khuynh hướng vận động nữ quyền này.
II.               Những nhận thức ban đầu và cuộc thảo luận về nữ quyền trên báo chí  trong 25 năm đầu thế kỷ XX
Trước khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, với thể chế chính trị quân chủ chuyên chế và hệ tư tưởng Nho giáo là bệ đỡ cho chính quyền thì người dân Việt Nam chỉ là những “thần dân” của Hoàng đế, đặc biệt phụ nữ hoàn toàn không có bất cứ quyền lợi nào về kinh tế, chính trị và văn hóa. Vì vậy, những tư tưởng về nữ quyền và bình đẳng nam nữ là một khái niệm hết sức xa lạ.  Ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng dân chủ trên thế giới qua các “tân thư” cùng với sự xuất hiện của báo chí, lần đầu tiên người dân Việt Nam được tiếp cận với các tư tưởng mới và có cơ hội bày tỏ quan điểm của mình đối với các vấn đề xã hội, văn hóa và chính trị.
  Khái niệm nữ quyền lần đầu tiên được nhắc đến trong bài Về thói trọng nam khinh nữ của ta trên Đông Dương Tạp chí (ĐDTC) ngày 11/2/1914. Trong bài này, sau khi phân tích thực trạng địa vị phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội, tác giả kêu gọi phụ nữ đấu tranh “sao cho nữ quyền chúng ta ngày càng nhớn để cho các thầy nó đố dám lên mặt tu mi mà bắt nạt cân quắc”.  Như vậy, “nữ quyền” trong bài báo này chỉ là để cho nam giới không thể “bắt nạt” phụ nữ được nữa. Lần thứ hai “nữ quyền” được nhắc đến trong mục Nhời đàn bà số 5 ngày 21/1/1915 trên Trung Bắc TânVăn (TBTV) khi đặt vấn đề “muốn mang tư tưởng cùng chị em bàn bạc để đúc lấy nữ quyền dạy bảo nhau chóng nên người khôn ngoan, tài đảm để gây nên một giống nòi mạnh bạo, mai sau này chiếm lấy một phần nữ sử với hoàn cầu.”
Năm 1916, trên TBTV trong mục Nhời đàn bà, Nguyễn Văn Vĩnh có Bàn về nữ quyền cho rằng “người đàn bà trời sinh ra để làm bạn, để gánh vác một công việc với người đàn ông chứ không phải để làm thân trâu ngựa” và việc coi thường phụ nữ của người đàn ông Việt Nam xưa nay là một cách tự làm thiệt mình vì đã coi thường một người làm bạn với mình, một người cùng gánh vác công việc với mình.
Cũng trong năm 1916, trong bài Sự giáo dục đàn bà con gái  trên ĐDTC (bài này được đăng lại trên báo Nam Phong tháng 10/1917), Phạm Quỳnh đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong gia đình và  trong nền sản xuất xã hội nhưng cho rằng phụ nữ từ trước tới nay bị đánh giá thấp “suy cho cùng  chỉ vì không có học thức mà thôi”. Và quyền bình đẳng nam nữ lúc này chỉ được hiểu là “phải lưu tâm vào sự giáo dục đàn bà”.
 Như vậy cho đến năm 1917, trước khi chiến tranh thế giới I kết thúc, khái niệm nữ quyền chỉ được nhắc đền một cách hời hợt trong khi kêu gọi phụ nữ thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới, chưa ai đưa ra được định nghĩa “ Nữ quyền” là gì?
Năm 1918, tờ báo đầu tiên dành cho phụ nữ, báo Nữ giới chung  (NGC) phát hành số đầu tiên vào ngày1/2/1918.  Ngay sau khi ra đời, NGC đã có một cuộc thảo luận về khái niệm nữ quyền và quyền bình đẳng nam nữ. Các tác giả NGC  đã bàn đến  Nghĩa nam nữ bình quyền là gì (của Sương Nguyệt Anh) trên báo ra ngày 22/2/1918, Bàn thêm về chữ nữ quyền (của cô Bích Đào)  trên báo ngày 15/3/1918 hay Nữ quyền bình đẳng luận (của cô Liễu) trên báo ngày 15/3/1918 và Nữ quyền (của Cự Hải Nguyễn Hồng Nguyên.)..[3]
     Trong cuộc thảo luận này, mỗi người đều cố gắng đưa ra những lời giải thích riêng về nghĩa của các khái niệm. Một số người cho rằng tư tưởng này là những tư tưởng mới được du nhập từ phương Tây, trong khi đó một số người khác lại chỉ ra mầm mống của sự bình đẳng có thể tìm thấy trong xã hội Việt Nam truyền thống. Cuộc thảo luận cho thấy quá trình diễn dịch, hấp thu này đã làm biến dạng các quan niệm phương Tây về sự bình đẳng Nhìn chung lại, về nguồn gốc của khái niệm nữ quyền hầu như­ các tác giả đều thống nhất cho rằng đó là một khái niệm đến từ phư­ơng Tây và thực hành ở Việt Nam thì chưa thích hợp. Họ cho rằng “Đáng sợ thay con gái không có giáo dục mà lại chuyên quyền gia thất, thời bại hoại cang thường, cầm quyền quốc gia, thời đảo điên chánh sự” và nếu “đem cái gương nữ quyền mà treo ở các nước giáo dục chưa phổ cập, khác gì mượn đường cho hươu chạy, mà tưới thêm dầu vào đống lửa cháy để cái thói hư càng ngày càng tệ hại”...
Tuy nhiên, qua các bài báo, các tác giả đã thừa nhận vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử và địa vị tương đối được tôn trọng của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Thái độ vừa phản đối việc tuyên truyền cho tư tưởng nữ quyền phương Tây đồng thời vừa cổ suý việc giáo dục dành cho phụ nữ và đẩy mạnh phụ nữ chức nghiệp - những nội dung căn bản của lý thuyết nữ quyền tự do trong thời kì đầu của phong trào nữ quyền phương Tây của các tác giả trên NGC đã cho thấy nhận thức về khái niệm nữ quyền và bình đẳng nam nữ của các tác giả trên NGC vẫn còn khá mơ hồ. Tính mơ hồ của các khái niệm này có nguyên nhân từ việc tiếp nhận các khái niệm từ các nhà cải cách Trung Quốc theo những cách khác nhau.
Báo NGC phát hành được 22 số thì bị đình bản vào ngày 19 tháng 7 năm 1918. Sau khi NGC đình bản năm 1918 đến khi cuốn sách đầu tiên về chủ đề Nữ quyền và Bình đẳng nam nữ ra đời, các cuộc thảo luận trên báo chí về chủ đề phụ nữ chủ yếu xoay quanh việc nhìn nhận lại vai trò và địa vị của phụ nữ trong xã hội, vấn đề giáo dục cho phụ nữ và những thay đổi trong đời sống phụ nữ trước sự tác động của những thay đổi trong xã hội và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây …Cho đến cuối thập niên 1920, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các cuốn sách viết về nữ quyền và bình đẳng nam nữ của các tác giả Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, các cuốn sách chuyên khảo về đề tài này chính là di sản về tinh thần của giới trí thức Việt Nam trong một giai đoạn có tính bản lề của toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc.
III.            Sự phát triển nhận thức về nữ quyền và bình đẳng nam nữ qua những cuốn sách chuyên khảo.
a.      “Nam nữ bình quyền” của Đặng Văn Bảy, cuốn sách chuyên khảo đầu tiên về vấn đề bình đẳng nam nữ ở Việt Nam
Sau chiến tranh thế giới thứ I, Pháp thực hiện cuộc cải cách về giáo dục, cuộc cải cách giáo dục này thường được biết tới dưới tên gọi là “Học chính tổng quy”. Theo quy định của chính quyền thực dân Pháp, phụ nữ được theo học tại các trường Pháp- Việt đang mọc lên trên khắp cả nước. Tại các làng quê, trẻ em gái cũng được tới trường. Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục Việt Nam, phụ nữ chính thức được tới trường học tập. Ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và những trí thức trong nhà trường Pháp Việt đã làm hình thành nên tầng lớp nữ sinh Tây học, những “cô gái mới”… Trên báo chí thời kỳ này xuất hiện nhiều bài viết về giáo dục cho phụ nữ, phụ nữ học để làm gì và học như thế nào? Từ thực tế lịch sử, dưới thời phong kiến phụ nữ không được đi học, nên hầu hết các trí thức Việt Nam tiến bộ coi việc giáo dục cho phụ nữ là một biện pháp để thực hiện nữ quyền. Tuy nhiên, những thay đổi trong cuộc sống của người phụ nữ có học, những “cô gái mới” đã trở thành một thách thức đối với nếp sống và các giá trị đạo đức truyền thống. Trong bối cảnh đó, cuốn Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bẩy được coi là cuôn sách đầu tiên bàn về chủ đề này.
Đặng Văn Bẩy (1903-1983) là một giáo viên dạy học tại tỉnh Vĩnh Long. Năm  1925, ông viết cuốn Nam nữ bình quyền và hoàn thành nó vào năm 1927. Năm 1928 cuốn sách được xuất bản lần đầu  tại nhà in Tam Thanh (Sài Gòn).  Sách gồm 60 trang, ngoài phần mở đầu và kết luận, sách có 6 chương: chương 1: Công lý và nhơn đạo;  chương 2: Gia đình khảo lược; chương 3: Nữ lưu giáo dục sơ lược; chương 4: Bàn về chữ trinh; chương 5: Hôn nhân;  chương 6. Đạo vợ chồng.
Các chương của cuốn sách đã phản ánh bối cảnh xã hội và văn hóa cũng như nhận thức về tư tưởng nữ quyền và bình đẳng nam nữ trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, thực trạng địa vị bất bình đẳng của phụ nữ và ảnh hưởng của các tư tưởng dân chủ mới, cũng như những thách thức của quá trình tiếp nhận những tư tưởng mới này. Ngay từ lời mở đầu, tác giả đã thể hiện một tinh thần phản tư, thừa nhận có những nhận thức sai lầm: “Ta không phải thánh hiền từ trong bụng mẹ, nên sanh ra ta đã xa thánh hiền, mà thánh hiền còn nhận rằng mình nhiều khi lỗi, thời ta cũng chẳng ra ngoài lẻ kia… Vì xưng tội, vì đau-đớn, vì thương xót, tôi góp ý thành sách.”
Những cái lỗi mà tác giả nhận ra đó chính là quan niệm sai lầm dẫn đến cách đối xử bất bình đẳng với phụ nữ.
 Đặng Văn Bày đã phân tích tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ trong cách nhìn nhận địa vị của phụ nữ trong xã hội, sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con gái và con trai… trong gia đình.  Theo ông sự bất bình đẳng này là không hợp với công lý và nhân đạo. Tên cuốn sách là Nam nữ bình quyền, nhưng toàn bộ nội dung cuốn sách và các chương mục thể hiện thái đô phê phán quan niệm coi thường phụ nữ và thực trạng bất bình đẳng nam nữ trong xã hội. Ông viết: “Tôi đề xướng nam nữ bình quyền là do thấy phần nhiều đàn bà con gái bị chê bỏ, hiếp đáp, còn đàn ông con trai lại quá tự do. Phép công bình là đôi bên phải đồng, không khinh không trọng, không thấp không cao. Ai đã mến phép công bình cũng chẵng ghét vơ gì đến cái Nam Nử bình quyền nầy. Ai biết rằng bị người đè ép mình là thiệt thôi, đau đớn cho mình, thời cũng nên biết rằng đè ép người là làm cho người phải thiệt thòi đau đớn[4] Ông phân tích lý do cần phải thực hiện “ bình đẳng nam nữ” trên 2 phương diện, lẽ tự nhiên và đạo đức. Xét về lẽ tự nhiên” Sanh ra, dầu trai dầu gái, cũng đồng là người, thời cái quyền của con người chẳng phải riêng để cho một phe trai, mà cũng chung cho phe gái”, xét về đạo đức, “gái đã có người gánh việc nước nhà rạng danh anh liệt như Trưng –Trắc, Trưng-Nhị, Triệu-Ẩu, theo nghề nghiên bút, rền tiếng văn chương như Chi-Lan, Thị-Điểm, Xuân-Hương. Thế gái có kém gì trai, có khác gì trai”.  Những luận điểm của Đặng Văn Bảy trong các chương thường gắn với các câu chuyện thực tế xoay xung quanh trục chính là quan hệ trong gia đình, giữa chồng và vợ, giữa con gái và con trai. Các câu chuyện này phản ánh thực trạng quan hệ bất bình đẳng giữa vợ và chống như “chồng chúa vợ tôi”, “ xuất giá tòng phu”, “ trọng nam khinh nữ”… và quan điểm về giáo dục dành cho phụ nữ: “Thế nào là thương con”, giáo dục về thể chất ( thể dục), giáo dục tri thức ( Trí dục), giáo dục tư cách ( Đức dục)… cho phụ nữ như thế nào... Ông phản bác quan niệm coi thường phụ nữ bằng một thực tế lịch sử. Theo ông, phụ nữ được giáo dục sẽ là nguồn lực to lớn trong sự nghiệp giành độc lập và kiến tạo đất nước… “ lúc ông Phan-Sào-Nam về nước, đám tang ông Phan-tây-Hồ, lễ rước ông Bùi-quang-Chiêu, ta lại muốn có mặt đàn bà dự vào đấy? Nếu ta xưa nay một lòng cho con gái đi học như con trai, thời lẽ khi số người đàn bà đến trong mấy hội ấy còn đông gấp mười, gấp trăm số ta đó thấy.”[5] Tác phẩm của Đặng Văn Bảy cũng phản ánh ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ phương Tây và phong trào giải phóng phụ nữ khi đề cập đến khái niệm trinh tiết và quyền của phụ nữ trong hôn nhân,” hôn nhân tự do” và “đạo vợ chồng”…Nhà Nghiên cứu Bùi Trân Phượng đánh giá tác phẩm Nam nữ bình quyền của Đặng Văn Bẩy là một “tư tưởng nữ quyền tiên phong và thấu đáo”.[6]
3.2. Phan Bội Châu và cuốn “Vấn đề phụ nữ”
 Phan Bội Châu (1867-1940) là nhà yêu nước và cách mạng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, linh hồn của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX. Những hoạt động cách mạng của ông có ảnh hưởng lớn và thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Chính vì lẽ đó mà trong phiên toà xử Phan Bội Châu, luật sư Bôna (Bonard) đã phải thừa nhận: “Trong mấy chục năm gần đây, lịch sử Phan Bội Châu đã lẫn lộn với lịch sử của dân tộc’’.[7] Mặc dù, trong suốt 20 năm hoạt động của mình, Phan Bội Châu chưa có cái nhìn toàn diện, đúng đắn về những lực lượng xã hội cơ bản như nông dân và công nhân nhưng Phan Bội Châu lại có quan điểm tiến bộ về phụ nữ và sớm có ý thức vận động phụ nữ tham gia vào công cuộc giải phóng dân tộc. Có thể nói đề tài phụ nữ là một trong những mảng đề tài lớn trong các tác phẩm của ông.[8]
Năm 1929, Duy Tân thư xã ở Huế đã xuất bản cuốn Vấn đề phụ nữ của Phan Bội Châu.[9]
Cuốn Vấn đề phụ nữ có 31 trang khổ 14cm X 20,5cm gồm 3 chương: Chương 1: Địa vị với lịch sử phụ nữ; chương 2: Nữ quyền; và chương 3: Phụ nữ vận động
 Mở đầu cuốn Vấn đề phụ nữ  Phan Bội Châu đã khẳng định quyền của phụ nữ với tư cách là con người cũng như với tư cách là dân của một nước bằng cách đặt câu hỏi: “Đàn bà con gái có phải cũng loài người hay không?”, “Đàn bà con gái có phải cũng quốc dân hay không?” và tự khẳng định “Chắc không ai trả lời rằng “không phải được” [10]. Với 3 chương sách, Phan Bội Châu đã đi từ lịch sử loài người đến lịch sử phụ nữ để từ đó chỉ ra những nguyên nhân lịch sử dẫn tới địa vị bất bình đẳng của phụ nữ. Ông cho rằng phụ nữ có những đặc điểm riêng về sinh học, thể chất yếu ớt hơn nam giới, lại phải mang chức năng sinh nở nên trong điều kiện lịch sử phải cạnh tranh gay gắt để sinh tồn, chiến tranh giữa các bộ lạc…  đã khiến phụ nữ ở vị thế kém so với nam giới. Mặt khác, chính chiến tranh đã làm cho phụ nữ trở thành đồ vật khi phụ nữ bị coi như một thứ chiến lợi phẩm của bên thắng trận hoặc vì phụ nữ là mục đích của hành động cướp bóc trong chiến tranh nên để tránh “cái hoạ cướp mới nảy ra một cái lễ cho loài phụ nữ tức là một câu: “Phụ nữ bất xuất khuê môn”- Đàn bà con gái không được đi ra khỏi cửa buồng.”[11] Một lí do quan trọng làm cho phụ nữ có địa vị thấp kém, theo Phan Bộ Châu đó là vì tư tưởng phong kiến  “quyền vua quá nặng nên mới sinh ra học thuyết tam cương”, “ vua bảo tôi chết, tôi phải chết; cha bảo con chết, con phải chết; chồng bảo vợ chết, vợ phải chết”.[12]
 Về nữ quyền, Phan Bội Châu đặt nữ quyền trong phạm trù chung về quyền con người. Ông nói: “nữ quyền” nghĩa là quyền đàn bà con gái cũng như “nam quyền” nghĩa là quyền người con trai, nhưng xét cho đến gốc chân lý, thăm cho đến  nguồn triết học , thời “nữ quyền” với “nam quyền”  tất cả thu nạp trong hai chữ “nhân quyền”, nghĩa là quyền của người , mà cũng là quyền làm người”[13]. Điểm đặc biệt trong tác phẩm Vấn đề phụ nữ của Phan Bội Châu là gắn quyền của phụ nữ với nghĩa vụ của phụ nữ với tư cách một con người trong xã hội, và gắn với thực tế lịch sử Việt Nam đang nằm dưới sự cai trị của ngoại bang. Những phân tích của Phan Bội Châu về nữ quyền cuối cùng để đi đến kết luận: “Gánh việc quốc gia, trả thù đánh giặc, con trai làm được lẽ đâu lại cấm con gái không được làm” và “khi ta hết lòng gánh việc xã hội tức là hết nghĩa vụ làm người mà quyền người mới có thể khôi phục được. Quyền người đã khôi phục được thời quyền gái chẳng cần nói nữa” [14].     
Một bước tiến trong nhận thức về nữ quyền trong tác phẩm Vấn đề phụ nữ của Phan Bội Châu đó là ông dành 1 chương cho vấn đề vận động phụ nữ. Ở thời điểm này, Phan Bội Châu là người duy nhất đặt vấn đề vận động phụ nữ và liên kết đoàn thể phụ nữ.
Phan Bội Châu cho rằng: Phụ nữ vận động là một việc cần thiết trong xã hội đời bây giờ” và muốn bắt tay vào việc vận động phụ nữ trước hết phải nhận thức được vai trò của phụ nữ trong xã hội, trong quốc gia, trong loài người. Chủ trương vận động phụ nữ của Phan Bội Châu gồm 4 nội dung:
        “1. Mở mang về đường trí thức của phụ nữ
          2. Liên kết đoàn thể phụ nữ.
          3. Chấn hưng chức nghiệp của phụ nữ.
          4. Nâng cao địa vị của phụ nữ.”[15]
           Trong 4 nội dung trên theo Phan Bội Châu quan trọng nhất là việc nâng cao trình độ trí thức cho phụ nữ vì chỉ có trên cơ sở nâng cao trình độ trí thức cho phụ nữ mới có thể thực hiện nâng cao địa vị phụ nữ. Và ông cho rằng: “mình giáo dục lấy mình đó là thượng sách”. Vì vấn đề phụ nữ phải do chính phụ nữ tự quyết định.
            Đặt trong bối cảnh nhận thức về nữ quyền và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam những năm 1920 quan điểm về nữ quyền và bình đẳng nam nữ của Phan Bội Châu đã vượt lên trên các trí thức tư sản trong việc tiếp nhận các tư tưởng dân chủ tư sản trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất[16].
3.3. “Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam” của Trần Thiện Tỵ và Bùi Thế Phúc và khuynh hướng phê bình nữ quyền
            Sang những năm 1930, sau 2 cuộc khai thác thuộc địa cùng với kết quả của chương trình cải cách giáo dục của Pháp, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong xã hội Việt Nam trở nên sâu rộng hơn. Thời kỳ này được coi là thời kỳ “Âu hóa” triệt để. Đối với phụ nữ, đây cũng là thời kỳ phong trào phụ nữ có nhiều hoạt động sôi nổi. Sự ra đời của tờ báo Phụ nữ tân văn mở đầu cho sự xuất hiện dòng báo phụ nữ trong giai đoạn này đã kéo theo nhiều cuộc tranh luận về nữ quyền, bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ khi đề xướng trưng cầu ý kiến của các danh nhân về vấn đề phụ nữ. Nội hàm của khái niệm nữ quyền lúc này đã được mở rộng ra với đầy đủ nội dung: quyền học tập, quyền làm việc và quyền chính trị của phụ nữ. Bên cạnh những ý kiến kêu gọi đấu tranh đòi nữ quyền, giải phóng phụ nữ, cũng có không ít ý kiến phê phán phong trào này và hiện tượng các cô gái mới, coi đó như một sự đe dọa đối với nền tảng gia đình và đạo đức xã hội. Cuốn sách Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam của Trần Thiện Tỵ và Bùi Thế Phúc là một cuốn sách theo khuynh hướng phê bình nữ quyền này.
            Cuốn Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam của Trần Thiện Tỵ và Bùi Thế Phúc xuất bản năm 1932 [17]  gồm 7 chương[18]. Trong lời mở đầu, các tác giả xác nhận:“Xưa kia phụ nữ chỉ biết có bổn phận của mình mà thôi và cho sự làm vẹn bổn phận là cái danh dự tối cao của mình! Cái mục đích duy nhất trong đời là lo sao cho tròn các bổn phận ấy:bổn phận đối với cha mẹ, bổn phận đối với chồng con, bổn phận  đối với ông bà nội ngoại… Ngày nay không như thế nữa, theo ngọn gió Tân trào người đàn bà An Nam đã đổi mới. Bắt chước chị em Âu Mỹ chị em chẳng kể chi buổi quá vãng, ầm ầm cổ động nữ quyền[19]. Các tác giả phê phán phong trào nữ quyền, và những người cổ súy phong trào nữ quyền là họ đã làm cho con cái đối với cha mẹ, vợ đối với chồng, đàn ông đối với đàn bà trở nên thù địch… và kết tội: “ làm cho 2 phần tử quốc gia trở nên ghen ghét nhau là không biết thương nước thương nòi, một việc phá hoại xã hôi. Sau này đứng trước lịch sử các ngài hãy tự lãnh cái trách nhiệm nặng nề ấy[20]… Các tác giả đã phân tích và tìm ra những hạt nhân hợp lý để lý giải cho việc phụ nữ có địa vị thấp kém trong xã hội của một số quốc gia như  Hi Lạp, La Mã, Ấn Độ và Trung Hoa. Đó là vấn đề tôn giáo, tục thờ cúng tổ tiên, vấn đề duy trì nòi giống và cấu trúc gia đình truyền thống… Các tác giả cũng phân tích địa vị của phụ nữ Pháp và cho biết, phụ nữ Pháp hiện cũng chưa có quyền lợi gì cả về kinh tế lẫn chính trị, văn hóa. Địa vị phụ nữ Việt Nam tuy theo luật Gia long còn nhiều hạn chế do ảnh hưởng của Luật nhà Thanh ở Trung Quốc, nhưng trên thực tế, những luật lệ ở địa phương vẫn vận dụng luật Hồng Đức ( thế kỷ 15)  và vì vậy so với các nước khác,  địa vị phụ nữ Việt Nam  có phần rộng rãi hơn và bình đẳng hơn. Các tác giả cũng đề cập đến các vấn đề đang gây tranh cãi trên các diễn đàn báo chí như : Phụ nữ giáo dục, phụ nữ chức nghiệp và hôn nhân tự do… Các tác giả không ủng hộ việc phụ nữ đi làm, cho rằng phụ nữ đi làm sẽ không quán xuyến gia đình vốn là bổn phận của họ, còn trong vấn đề hôn nhân, các tác giả đưa ra một quan điểm trung dung hơn, đó là cha mẹ cũng cần quan tâm đến nguyện vọng của con cái khi quyết định việc hôn nhân cho con cái... Riêng vấn đề giáo dục cho phụ nữ các tác giả cho rằng đây là một việc hết sức cần thiết, và học không chỉ để chăm lo gia đình mà cần nâng cao trình độ cho phụ nữ… Để kết luận các tác giả cho rằng: “Phái nữ quyền có hô hào sao đi nữa cũng không cải được lẽ của tạo hóa. Một người tôi mọi thuở xưa còn có thể nên người tự do được. Nhưng một người đàn bà dẫu có quyền đến đâu nữa cũng vẫn là người đàn bà.”[21]
            Cuốn sách Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam của Trần Thiện Ty và Bùi Thế Phúc đã gây nên cuộc thảo luận trên báo chí và Nguyễn Thị Chính[22] đã viết bài phê phán những luận điểm trong cuốn sách này. Bài phê phán của Nguyễn Thị Chính cũng mở ra một cuộc tranh luận trên báo chí giữa Nguyễn Thị Chính và Phan Khôi “Vấn đề giải phóng phụ nữ với nhân sinh quan” đăng trên báo Phụ nữ Tân văn ngày 7-14/7/1932. Cuộc tranh luận này được Shawn Mc. Hale đánh giá là “làm nền cho nhiều cuộc thảo luận về “cô gái mới” và gia đình- hai chủ để rất được tầng lớp phụ nữ thượng lưu thời bấy giờ quan tâm”[23].
3.4. “Vấn đề phụ nữ” của Nguyễn Thị Kim Anh [24]do nhà xuất bản Thân dân ấn hành vào năm 1938.    
            Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng cộng sản đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ và ra nhiều nghị quyết về công tác vận động phụ nữ. Trong Án nghị quyết về công tác vận động phụ nữ, Đảng cộng sản đã nhấn mạnh  một trong những nhiệm vụ của Đảng là “làm cho phụ nữ thoát khỏi tư tưởng tư bổn, đánh đổ cái mộng tưởng “nam nữ bình quyền” trong vòng tư bổn chủ nghĩa” và lưu ý cần tuyên truyền cho phụ nữ nhận thức được rằng: Chỉ khi nào nước nhà được độc lập, chế độ phong kiến bị xoá bỏ thì phụ nữ mới có cơ hội được bình đẳng thực sự, được giải phóng thực sự, do vậy việc vận động phụ nữ tham gia vào các hoạt động cách mạng là vô cùng quan trọng, “nếu phụ nữ đứng ngoài cuộc đấu tranh cách mạng của công nông thì không bao giờ đạt mục đích giải phóng được”[25]. Để tthực hiện chủ trương vận động phụ nữ của Đảng, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền, nhiều phụ nữ được cử chuyên trách công tác vận động phụ nữ, không chỉ viết bài trên các báo công khai phổ biến tư tưởng nữ quyền mác xít, phê phán các quan điểm nữ quyền tư sản mà còn đi sâu vận động nữ công nhân, nông dân.
            Theo nhiều nhà nghiên cứu [26] Nguyễn Thi Kim Anh chính là bút danh của Nguyễn Thị Minh Khai- một nữ trí thức cách mạng nổi bật trong thời kỳ vận động cách mạng giải phóng dân tộc của nhân Việt Nam trước năm 1945.
            Nguyễn thị Minh Khai tham gia cách mạng từ sớm, bà đã tham dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức ở Quảng Châu. Năm 1934, bà là đại biểu của Đảng cộng sản Đông Dương sang Nga tham dự đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 7. Tại Đại hội này bà đã đọc tham luận về “Vai trò của của phụ nữ Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh đé quốc và bảo vệ hòa bình”. Sau đó bà ở lại học ở Đại học Phương Đông. Năm 1937 bà về Sài Gòn làm bí thư thành ủy Sài Gòn và phụ trách công tác vận động phụ nữ của Đảng. Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, dưới bút danh Kim Anh, Nguyễn Thị Kim Anh bà viết nhiều bài báo phổ biến quan điểm nữ quyền Mac xit, đấu tranh với những quan niệm sai lầm trong việc nhận thức các vấn đề về nữ quyền và giải phóng phụ nữ… trên các báo Dân chúng, Đời nay. .. Năm 1938, nhà xuất bản Thân dân Chợ Lớn đã xuất bản cuốn sách Vấn đề phụ nữ của bà.         
           Tác phẩm “Vấn đề phụ nữ của bà gồm có 8 chương. Trong Lời nói đầu ( chương 1) Nguyễn Thị Kim Anh nhấn mạnh “Vấn đề phụ nữ là một vấn đề quan trọng trong những vấn đề xã hội, có mật thiết liên lạc với nền tảng kinh tế chính trị của xã hội loài người”. Từ chương 1 đến chương 6, bà trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin về địa vị của người phụ nữ trong lịch sử loài người, từ xã hội nguyên thủy cho tới xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản và  xã hội xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, bà dành nhiều trang để giới thiệu về địa vị của phụ nữ trong xã hội Xô viết: Sự bình đẳng về chnh trị, tỷ lệ phụ nữ trong Đảng Cộng sản Liên Xô ngày càng tăng, về kinh tế thì phụ nữ tham gia vào khắp mọi ngành nghề; Về văn hóa, số phụ nữ có bằng đại học cũng tăng lên nhanh chóng từ 28% vào năm 1930 đến năm 1936 đã lên 36%. Phụ nữ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực y tế (chiếm 45%) và lĩnh vực giáo dục (chiếm 90%) phụ nữ làm khoa học chiếm 30,2%, trong Viện hàn lâm phụ nữ cũng chiếm tới 28%...
            Chương 7 và chương 8 bà đi vào phân tích “Hai xu hướng vận động đàn bà hiện nay” (chương 7) và tình hình “Phụ nữ ở Đông Dương” (chương 8). Ở chương 7 bà vạch rõ  xu hướng vận động phụ nữ tư sản có điểm tiến bộ là chống phong kiến, nhưng vẫn là cuộc vận động giải phóng phụ nữ trong “trật tự  của tư bản  nhằm giữ đặc quyền bóc lột của tư bản” Còn cuộc vận động phụ nữ của phụ nữ lao động là nhằm “chống lại chế độ người bóc lột người- nguyên nhân sanh ra sự bất bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà, giữa người với người, tranh đấu để thực hiện chế độ Xã Hội chủ nghĩa”. Bà cũng phân tích đặc điểm, ý nghĩa cuộc vận động của phụ nữ phú hào, phụ nữ lao động, thái độ của quốc tế Cộng sản đối với vấn đề phụ nữ từ đệ nhất quốc tế tới đệ nhị, đệ tam quốc tế…Chương 8 là chương phân tích tình hình và nhiệm vụ của cuộc vận động phụ nữ ở Đông Dương. Cuối cùng bà kết luận: “Vấn đề phụ nữ là vấn đề xã hội, cần phải đưa nó ra giải quyết ở phạm vi một nước, một xã hội”.
3.5. Bộ sách “Đời chị em”và “Chị em phải làm gì” của Cựu Kim Sơn và Văn Huệ
               Cũng trong năm 1938, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam đòi dân chủ lên cao, Đảng cộng sản ra hoạt động công khai, đẩy mạnh tuyên truyền vận động quần chúng tham gia đấu tranh. Cùng với cuốn Vấn đề phụ nữ của Nguyễn Thị Kim Anh phổ biến tư tưởng nữ quyền mac xit, Cựu Kim Sơn[27] và Văn Huệ[28] viết bộ sách ”Đời chị em” và “Chị em phải làm gì” góp phần tuyên truyền hướng dẫn phụ nữ đấu tranh. Hai quyển sách này được xuất bản bởi nhà in Dân chúng.
               Mở đầu cuốn Đời chị em các tác giả khẳng định “vấn đề phụ nữ, một vấn đề gay gắt đòi phải giải quyết ngay. Vấn đề phụ nữ, thật vậy, là một vấn đề khá quan trọng”. Vì “hiểu rõ sự quan trọng của nó, chúng tôi mới xuất bản cuốn Đời chị em này”.[29]
               Các tác giả cũng cho biết “Đời chị em mới là một cuốn sách đầu tiên trong loại sách phụ nữ. Nó đặt cuộc đời của chị em phụ nữ Đông Dương dưới ánh sáng thực tế, sau nó còn sách phụ nữ khác bày tỏ phương pháp chị em phải dùng, con đường chị em phải đi để tới cõi hoàn toàn bình đẳng tự do.” [30] Ngay trang cuối cuốn Đời chị em, có bài giới thiệu cuốn “Chị em phải làm gì?” là cuốn sách “nói rõ tại sao phải giải phóng phụ nữ Đông Dương”[31]
               Cuốn “Đời chị em” 41 trang, khổ nhỏ 14cmX 20,5cm, gồm 6 chương. Chương 1: “Sinh hoạt của các chị em”, các tác giả đã mô tả thực trạng đời sống khó khăn khốn cùng của các tầng lớp phụ nữ trong xã hội từ chị em vô sản, tới những phụ nữ  phải đi làm con sen, con ở, vú em, phụ nữ nông dân, phụ nữ tiểu thương, phụ nữ trí thức, phụ nữ phong kiến và phụ nữ tư sản dưới chế độ phong kiến cũng như dưới chế độ thuộc địa. Chương 2, chương 3 và chương 4  các tác giả trình bày về các hủ tục phong kiến, chế độ hôn nhân và gia đình trói buộc phụ nữ, lý do vì sao phụ nữ Đông Dương phải tham gia phong trào vận động giải phóng phụ nữ…Chương 5 về thực trạng mãi dâm trong xã hội thuộc địa và chương 6  nói về  tình cảnh chị em thất học. Ở chương này, các tác giả nhấn mạnh vào những di hại của việc thất học đối với đời sông của phụ nữ.
              Cuốn Chị em phải làm gì do Đồng Xuân thư quán phát hành có  69 trang gồm 2 phần :
               Phần 1: Chị em phải làm gì trog thời kỳ hiện tại. Phần này có 7 mục đặt vấn đề “Tại sao phải giải phóng phụ nữ Đông Dương” và phân tích cuộc vận động giải phóng phụ nữ Đông Dương, ở mỗi tầng lớp phụ nữ ( bình dân, phụ nữ tư sản,) các tác giả phân tích hoàn cảnh cụ thể  của họ và gợi ý những mục tiêu đấu tranh, những khẩu hiệu phù hợp với điều kiện và mục đích đấu tranh của họ. Các tác giả cũng vạch ra hững nhiệm vụ hiện nay của phụ nữ, các khẩu hiệu đấu tranh, việc tổ chức và cách làm việc…
               Phần 2 của cuốn sách có tiêu đề Chị em phải làm gì về tương lai đã đưa ra đường hướng phát triển của cuộc vận động phụ nữ, những mục tiêu cần đạt tới và đặc biệt nhấn mạnh phải gắn cuộc vận động giải phóng phụ nữ với việc giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và xây dựng một xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thực sự mang lại tự do và bình đẳng cho phụ nữ…
               .
   
            Kết luận
               Trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ, cùng với sự phát triển của báo chí và kỹ thuật in ấn, xuất bản, người dân Việt Nam đã có điều kiện được tiếp cận với những tư tưởng mới, tư tưởng dân chủ, nữ quyền và bình đẳng nam nữ …
Quá trình nhận thức tư tưởng nữ quyền, bình đẳng nam nữ ở Việt Nam chịu tác động và được quy định bởi những ảnh hưởng lâu dài của hệ tư tưởng Nho giáo lên đời sống xã hội, đặc biệt là những định kiến của xã hội về địa vị và thân phận họ  trong xã hội. Sự nhận thức này ngày càng trở nên đầy đủ hơn, đặc biệt trong điều kiện của một nước thuộc địa, nhận thức về nữ quyền và bình đẳng nam nữ sớm chuyển biến gắn cuộc vận động giải phóng phụ nữ với giải phóng dân tộc. Từ những nhận thức đầy mơ hồ những năm đầu thế kỷ XX, chỉ 30 năm sau đó các trí thức Việt Nam đã thể hiện sự hiểu biết của mình về nữ quyền và bình đẳng nam nữ từ điều kiện thực tiễn của Việt Nam qua những cuốn sách chuyên khảo về nam nữ bình quyền, nữ quyền và cuộc vận động giải phóng phụ nữ…
 Các sách chuyên khảo về chủ đề nữ quyền và bình đẳng nam nữ được xuất bản trong thời kỳ này không chỉ phản ánh quá trình nhận thức về những tư tưởng tự do và bình đẳng mà còn là di sản về tinh thần của người dân Việt Nam và là nguồn tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu  khi tìm hiểu về lịch sử tư tưởng Việt Nam cũng như lịch sử phong trào nữ quyền, cuộc vận động giải phóng phụ nữ ở Việt Nam trong những năm nửa đầu thế kỷ XX.

*. Bài đã đăng trong Kỷ yếu HT quốc gia"" Nữ quyền- những vấn đề lý luận và thực tiễn" ngày 8/10/2015, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, từ tr 173-186


Tài liệu tham khảo và trích dẫn
1.Nguyễn Thị Kim Anh ( 1938) Vấn đề phụ nữ, NXB Thân dân, Chợ Lớn
2.      Đặng Văn Bảy(1928) Nam nữ bình quyền, Nhà in Tam Thanh, Da Kao
3.      Phan Bội Châu ( 1929) Vấn đề phụ nữ, NXBDuy tân thư xã, Huế
4.      Đặng Thị Vân Chi,(1998), “Phan Bội Châu với vấn đề phụ nữ đầu thế kỷ XX” trong  Phan Bội Châu con người và sự nghiệp, Đại học quốc gia Hà Nội
5.      Đặng Thị Vân Chi,  (2001) “Vấn đè nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam lần thứ nhất, t4, NXB Thế giới
6.      Đặng Thị Vân Chi, “Đường lối vận động phụ nữ của Đảng cộng sản Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc (1930-1945)” Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ 2: Việt Nam trên đường phát triển và Hội nhập: truyền thống và hiện đại," t2, NXB Thế giới,
7.      Đặng Thị Vân Chi, “Dòng báo phụ nữ ở Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945”, T/c NCLS  tháng  6 /2006
8.      Đảng cộng sản Việt Nam,( 1998), Văn kiện Đảng toàn tập, t2, NXB Chính trị quốc gia
9.      Trần Hàn Giang,( 2003) “Lịch sử phát triển của lý thuyết nữ quyền và Lý thuyết giới””, T/c Khoa học về phụ nữ số 6  (161)
10.  Nguyễn Thị Ttường Khanh (2004) Nữ giới chung, tờ báo phụ nữ đầu tiên ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Đại học Khoa học Xã hội và  Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
11.  Tôn Quang Phiệt ( 1958), Phan Bội Châu và mỗi giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam, NXB Văn Hóa, H,
12.  Cựu Kim Sơn, Văn Huệ( 1938) Đời chị em, NXB Dân Chúng
13.  Cựu Kim Sơn, Văn Huệ, (1938) Chị em phải làm gì, NXB Dân chúng,
14.  Trần Thiện Tỵ và Bùi Thế Phúc ( 1932) Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam, Sàigòn
15.  McHale Shawn Frederick ( 1995) Priting, power and the transformation of vietmames , 1920-1945 Dissertation, Cornell University
16.  Các tờ báo xuất bản trước năm 1945 đang được lưu giữ tại thư viện quốc gia Việt Nam







[1] Những đại diện xuất sắc của trào lưu triết học ánh sang là Môngtextkiơ (Charles Louis Montesquieu ) (1689-1755),  Vôn te (Voltaire ) (1694-1778) và  đặc biệt là Giăng Giắc Rút xô (-Jacques Rousseau) (1712-1778)

[2] Sự biện minh cho các quyền của phụ nữ” (1792) của Mary Wollstonecraft (1759-1799); “Sự khuất phục của phụ nữ”” (1869), của John Stuart Mill và  Harriet Taylor
[3] Xem Đặng Thị Vân Chi ( 2001) Vấn đề nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ 20, Kỷ yếu HT quốc tế Việt nam học lần thứ I, , T4, NXB thế giới
[4] Đặng Văn Bảy (1928), Nam nữ bình quyền, Tam Thanh, Sài Gòn, tr4
[5] Đặng Văn Bảy ( 1928) Nam nữ bình quyền, tr 39
[6]  Bùi Trân Phượng ( 2014) ” Một tư tưởng nữ quyền tiên phong và thấu đáo” Nguồn: http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/mot-tu-tuong-nu-quyen
[7] Tôn Quang Phiệt ( 1958), Phan Bội Châu và mỗi giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam, NXB Văn Hóa, H, tr 236
[8] Xem thêm Đặng Thị Vân Chi ( 1998) “Phan Bội Châu với vấn đề phụ nữ đầu thế kỷ XX” trong “ Phan Bội Châu- con người vầ sự nghiệp” Đại học quốc gia Hà Nội , tr 303-318).
[9] Vào năm 1997, GS.TS ( lúc đó là PGS.TS) Trần Chí Dõi, trong chuyến công tác tại Pháp đã tìm thấy cuốn Vấn đề phụ nữ của Phan Bội Châu do Duy Tân thư xã ở Huế xuất bản năm 1929 tại Trung tâm lưu trữ quốc gia Pháp. GS Trần Chí Dõi đã photo cuốn này mang về Việt Nam. Cuốn sách này của Phan Bội Châu đã được Đặng Thị Vân Chi đề cập đến trong bài “Phan Bội Châu với vấn đề phụ nữ đầu thế kỷ XX” và  đã được công bố trong cuốn “ Phan Bội Châu- con người vầ sự nghiệp” Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1998.
[10] Phan Bội Châu (1929),Vấn đề phụ nữ, Tân dân thư xã, tr1
[11] Phan Bội Châu (1929),Vấn đề phụ nữ tr4
[12] Phan Bội Châu, ( 1929) Vấn đề phụ nữ… tr 4
[13] Phan Bội Châu,(1929) Vấn đề phụ nữ… tr 8
[14] Phan Bội Châu, ( 1929), Vấn đề phụ nữ, tr 10
[15] Phan Bội Châu ( 1929) Vấn đề phụ nữ, tr 11
[16] Xem thêm bài “Vấn đề nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX “của Đặng Thị Vân Chi trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ nhất tập 4, NXB Thế giới năm 2001.
[17] Cuốn sách này hiện còn lưu dưới dạng Microfilm  tại Thư viện Quốc gia  In bằng 2 thứ tiếng Pháp và tiếng việt, phần tiếng Việt bắt đầu từ trang 62 đên trang 105, khổ nhỏ, Trang bìa :La question Fe’minine en pays  D’Annam par Trần Thiện Tỵ, Diplome’ des Hautes E’tudes Indochinoises.
[18] 1: Địa vị của phụ nữ ở Hy Lạp- La mã, Ấn độ và Trung Hoa; 2: Địa vị đàn bà ở Châu Âu bây giờ; 3: Địa vị đàn bà Việt Nam;4: Vấn đề hôn nhân cha mẹ nên nghe ý kiến con cái; 5: Vấn đề phụ nữ giáo dục; 6: Vấn đề phụ nữ chức nghiệp; 7: Kết luận
[19] Trần Thiện Tỵ và Bùi Thế Phúc, (1932) Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam, tr64
[20] Trần Thiện Tỵ và Bùi Thế Phúc ( 1932) Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam, tr 66
[21] Trần Thiện Tỵ và Bùi Thế Phúc ( 1932) Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam, tr 105
[22] Nguyễn Thị Chính là vợ của nhà cách mạng Tạ Thu Thâu, người đã từng du học ở Pháp và tham gia viết báo.
 [23] Taylor KW and Jonh K. Whitmore ( 1995) Editor . Essays  in to Vietnamse Pasts Cornel University New York, tr88,
[24] Ngoài Nguyễn Thị Kim Anh còn có 2 tập sách” Đời chị em”, Chị em phải làm gì” của Cựu Kim Sơn và Văn Huệ cũng giới thiệu quan điểm nữ quyền Mác xít cũng như vận động phụ nữ ở Đông Dương, ngoài ra cũng có công trình “ vấn đề phụ nữ ở Việt Nam” của Trần Thiện tỵ và Bùi Thế Phúc
[25] Đảng cộng sản Việt Nam ( 1998), Văn kiện Đảng TT: tập 2, tr 189
[26] Các tác giả Wiliam Ducker, David Marr, Sophie Qinn Judge và TS Nguyễn Văn Khoan trong các công trình nghiên cứu của mình đều cho rằng Nguyễn thị Kim Anh là bút danh của Nguyễn Thị Minh Khai. Tôi ( Đặng Thị Vân Chi) cũng đồng ý với nhận định này.
[27] Cựu Kim Sơn tên thật là Trần Đức Sắc, được biết đến nhiều dưới tên Văn Tân- một nhà cách mạng và là nhà nhà sử học
[28] Văn Huệ tên thật là Phạm Văn Hảo có thời kỳ làm Giám đốc Bảo tang Cách mạng Hà Nội.
[29] Cựu Kim Sơn và Văn Huệ ( 1938) Đời chị em, Nhà in Dân Chúng, tr 2
[30] Cựu Kim Sơn và Văn Huệ ( 1938) Đời chị em, Nhà in Dân Chúng, tr2
[31] Cựu Kim Sơn và Văn Huệ ( 1938) Đời chị em, Nhà in Dân Chúng, tr 41

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC: NHỮNG DẤU TÍCH VĂN HÓA VẬT CHẤT

MỘT VÀI NÉT VỀ BÁO CHÍ VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA (1865-1945)

TỘC NGƯỜI VÀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI *