TỪ VĂN LANG ĐẾN THĂNG LONG – QUÁ TRÌNH TÌM CHỌN KINH ĐÔ MUÔN ĐỜI CỦA ĐẤT NƯỚC

GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc
( Bài đăng trên báo Nhân dân ngày 3 tháng 8 năm 2010)
Kinh đô là trung tâm chính trị, hành chính, quân sự, kinh tế và văn hóa của đất nước. Dời đô và định đô là công việc có ý nghĩa trọng đại không chỉ phản ánh nhu cầu của triều đại, đất nước và xã hội, mà còn là thước đo trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, văn minh của một đất nước, một vương triều.
Thời đại dựng nước của Việt Nam được mở đầu trong khoảng từ 6-7 thế kỷ trước Công nguyên đến một vài thế kỷ sau Công nguyên với sự ra đời của ba nhà nước: Văn Lang ở khu vực Bắc Bộ, Chămpa ở khu vực Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Phù Nam chủ yếu ở khu vực Nam Bộ, nhưng dòng chủ lưu của toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam được tính từ nhà nước Văn Lang, Âu Lạc qua nghìn năm Bắc thuộc đến các quốc gia Đại Việt, Đại Nam và Việt Nam. Trong giai đoạn lịch sử từ khi nhà nước đầu tiên xuất hiện cho đến đầu thế kỷ XI, nếu chỉ quan sát riêng dòng chủ lưu, không tính những chính quyền đô hộ của ngoại bang, đã trải qua nhiều lần chuyển đổi trung tâm chính trị-hành chính của đất nước, từ Cổ Loa, Hoa Lư đến Thăng Long. Mỗi lần định đô và dời đô đều có những lý do, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhưng đều như những bước chuẩn bị cho công cuộc định đô ở Thăng Long của Lý Thái Tổ vào năm 1010.
Vua Hùng dựng nước Văn Lang vào khoảng thế kỷ thứ VII hay thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, lấy tên kinh đô là Văn Lang. Tương truyền Hùng Vương từ ngày đầu dựng nước đã chọn ngã ba sông Bạch Hạc (tương đương với khu vực thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) làm địa điểm xây dựng kinh đô Văn Lang. Nước Văn Lang tồn tại từ khoảng thế kỷ thứ VI đến năm 208 trước Công nguyên. Trong gần một nửa thiên niên kỷ ấy, trên đất Văn Lang, kỹ thuật rèn sắt đã có những bước phát triển lớn, công cụ sản xuất bằng sắt từng bước giữ vai trò chủ đạo trong nền sản xuất nông nghiệp và nông nghiệp dùng cuốc đang chuyển dần sang nông nghiệp dùng cày. Năng suất lao động được nâng cao, đời sống cộng đồng được cải thiện và cảnh quan đồng bằng thay đổi nhiều. Nước Âu Lạc ra đời trên căn bản hợp nhất giữa Tây Âu và Lạc Việt, giữa Hùng và Thục, trong bối cảnh cộng đồng cư dân đã khai thác được toàn bộ vùng châu thổ, biến thành đồng ruộng, xóm làng, phát triển thâm canh nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước. Theo đà phát triển này, trung tâm đất nước có xu hướng chuyển về khu vực trung tâm châu thổ sông Hồng. Và An Dương Vương đã quyết định dời đô xuống Cổ Loa, ngay phía trên ngã ba sông Hồng và sông Đuống.
Khảo cổ học đã tìm thấy di tích văn hóa Sơn Vi ở Cổ Loa chứng tỏ từ hậu kỳ Đá cũ cách ngày nay khoảng một vạn năm nơi đây đã có con người sinh sống. Tuy nhiên, sau đó là thời kỳ biển tiến và suốt trong thời đại Đá mới, vùng đất Cổ Loa lại vắng bóng người. Mãi cho đến đầu thời đại Kim khí, cùng với quá trình biển thoái, người Phùng Nguyên tràn xuống Cổ Loa và khu vực trung tâm châu thổ sông Hồng lập ra những xóm làng sống bằng nghề trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy sản và săn bắn. Trên địa bàn huyện Đông Anh ngày nay, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trên những doi đất cao hai bên bờ sông Hoàng Giang các di chỉ Đồng Vông (Dục Tú), Bãi Mèn (Cổ Loa), Đình Tràng lớp dưới (Dục Tú), Xuân Kiều, Lỗ Khê (Liên Hà) thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên; các di chỉ Tiên Hội, Bãi Mèn lớp trên, Đình Tràng lớp giữa, Xuân Kiều lớp trên thuộc giai đoạn Đồng Đậu và Đường Mây (Cổ Loa), Đình Tràng lớp trên thuộc giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Ngoài ra ở Cổ Loa còn tìm được rất nhiều các hiện vật đồng như mũi tên đồng, lưỡi cày đồng, trống đồng, rìu đồng, trong đó trống đồng, mũi tên đồng và lưỡi cày đồng là các hiện vật đặc trưng và tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn. Như vậy, trải qua quá trình phát triển lâu dài và liên tục từ sơ kỳ thời đại đồ đồng cho đến sơ kỳ thời đại đồ sắt, vùng đất Cổ Loa cũng đã hình thành một trung tâm dân cư, trung tâm kinh tế và văn hóa quan trọng của nước Văn Lang.
Dấu tích còn lại ở Cổ Loa cũng cho phép xác định tòa thành Cổ Loa gồm ba vòng thành và hào khép kín. Thành Nội hình chữ nhật, chu vi 1.730m, mở một cửa về phía nam. Thành Trung có chu vi 6.300m, mở năm cửa: Nam, Đông, Bắc, Tây Bắc, Tây Nam. Thành Ngoại có chu vi 7.789m, có ba cửa: Đông, Tây, Bắc và cửa Nam chung với cửa Nam của thành Trung. Thành Cổ Loa là một kiến trúc quân sự đồ sộ, kiên cố, được phòng vệ chắc chắn, kết hợp chặt chẽ giữa quân bộ và quân thủy. Mặc dù sau này tòa thành được nhiều lần tái sử dụng, tu sửa hay xây đắp thêm, nhưng những dấu tích còn lại cho đến ngày nay trên căn bản vẫn là hình ảnh tòa thành kinh đô của nước Âu Lạc xưa. Trong thành, An Dương Vương cũng đã xây dựng đền đài, cung điện. Khu vực Đền Thượng được coi là nơi ở của nhà vua và khu vực đình Ngự Triều Di Quy là nơi thiết triều.
Năm 179 trước Công nguyên, do sai lầm chủ quan của An Dương Vương, nước Âu Lạc bị rơi vào tay Triệu Đà. Thành Cổ Loa mất đi vị trí kinh thành, nhưng vẫn được các chính quyền đô hộ tiếp tục khai thác, sử dụng như những trung tâm chính trị-hành chính địa phương.
Nhà Đông Hán đặt trung tâm của chính quyền đô hộ ở Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh). Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của Đông Hán, chiếm thành Cổ Loa làm bàn đạp tấn công giải phóng Luy Lâu, giành lại nền độc lập, chọn Mê Linh (Hạ Lôi, Mê Linh, Hà Nội), ngay trên bờ sông Hồng làm đất đóng đô. Triều đình Trưng Vương chỉ tồn tại 3 năm (40-43), nhưng đã trở thành cột mốc bản lề của lịch sử đất nước, khẳng định các giá trị vĩnh hằng của thời đại dựng nước Văn Lang, Âu Lạc và mở đường, định hướng cho tương lai phát triển của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc suốt cả thiên niên kỷ thứ nhất.
Năm 542, Lý Bí – hào trưởng Thái Bình (vùng Sơn Tây cũ) tiến hành cuộc khởi nghĩa dân tộc thành công, đánh đuổi quân Lương ra khỏi bờ cõi. Năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế (Lý Nam Đế), đặt quốc hiệu nước là Vạn Xuân, mở nền độc lập, tự chủ, xây Đài Vạn Xuân làm nơi triều hội. Các nhà sử học đời Nguyễn trong sách Việt sử thông giám cương mục cho rằng: “Nay ở xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì có hồ Vạn Xuân, còn gọi là đầm Vạn Phúc. Vậy điện Vạn Xuân có lẽ là ở đấy”. Lý Nam Đế chọn đất dựng chùa Khai Quốc ở phía ngoài đê Yên Phụ và được chuyển về vị trí cạnh đường Thanh Niên trong Hồ Tây từ đầu thế kỷ XVII. Khi Trần Bá Tiên đem quân sang đánh triều đình Vạn Xuân, Lý Nam Đế đã tổ chức đắp thành ở cửa sông Tô Lịch (khu vực phố Chợ Gạo, quận Hoàn Kiếm) để trực tiếp bảo vệ kinh đô và sau khi thành ở cửa sông Tô Lịch thất thủ, Lý Nam Đế cùng toàn bộ triều đình Vạn Xuân phải rút lên Gia Ninh (Phú Thọ). Các nguồn tư liệu trên cho phép xác định kinh đô Vạn Xuân của Lý Nam Đế được đặt ngay tại vùng đất nội thành Hà Nội hiện nay.
Mặc dù chỉ tồn tại trong khoảng một năm rưỡi (từ tháng 1 năm 544 đến tháng 6 năm 545), nhưng kinh đô Vạn Xuân của Lý Nam Đế lại có vị trí đặc biệt quan trọng, khẳng định vùng đất nội thành Hà Nội đã thực sự phát triển và bắt đầu trở thành một trung tâm của đất nước. Lý Nam Đế là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhận ra vị thế ưu việt của vùng đất nội thành Hà Nội và đưa lên thành quốc đô. Tuy nhiên do thế và lực chưa đủ mạnh và thời gian tồn tại quá ngắn nên hình ảnh kinh đô Vạn Xuân trên vùng đất nội thành Hà Nội mới chỉ là vài nét chấm phá ban đầu.
Triệu Quang Phục tiếp tục sự nghiệp của Lý Nam Đế giành lại nền độc lập, nhưng sau đó bị Lý Phật Tử dùng mưu cướp quyền hành và đất đai. Lý Phật Tử lúc đầu đóng đô ở thành Ô Diên (Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội), nhưng sau một thời gian lại chuyển về thành Cổ Loa và duy trì nhà nước Vạn Xuân cho đến năm 602.
Các chính quyền đô hộ Tùy, Đường đều chọn vùng đất nội thành Hà Nội làm trung tâm của chính quyền đô hộ. Năm 622 nhà Đường đặt ra Giao Châu đô hộ phủ, đến năm 679  đổi thành An Nam đô hộ phủ. Năm 769, nhân việc đánh bại các cuộc tấn công của Côn Luân và Chà Bà, Trương Bá Nghi tổ chức đắp La Thành. Có thể hình dung La Thành của Trương Bá Nghi là tòa thành quân sự kiên cố có quy mô lớn đầu tiên được xây dựng tại khu vực trung tâm nội thành Hà Nội. Các năm 791, 808 Triệu Xương và Trương Chu cho tổ chức đắp thêm và tu sửa tòa thành này. Năm 824, Lý Nguyên Gia cho đắp thêm một thành nhỏ khác ở bên bờ sông Tô Lịch, cũng gọi là La Thành. Năm 866, Cao Biền tổ chức “đắp La Thành vòng quanh 1982 trượng lẻ 5 thước,… lại đắp con đê vòng quanh dài 2125 trượng 8 thước…, cùng làm nhà cửa 40 vạn gian”. Như vậy, tuy cùng được gọi là La Thành nhưng trong thực tế có nhiều tòa thành khác nhau của An Nam đô hộ phủ thời Đường. Những tòa thành này vào các đời sau đã nhiều lần được cải tạo, thay đổi, nên hầu như không còn để lại dấu tích trên mặt đất. Từ năm 2002 đến nay, với các chương trình khai quật khảo cổ học quy mô lớn ở khu 18 Hoàng Diệu và khu khuôn viên Hội trường Ba Đình, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ở lớp dưới cùng của di tích những móng trụ kiến trúc, bó nền nhà, gạch Giang Tây Quân, dấu tích kiến trúc nhà cửa, giếng nước, cống thoát nước, một số đồ gốm sứ Việt Nam, Trung Quốc  và Tây Á… có niên đại từ thế kỉ thứ VII đến thế kỉ IX. Đây chính là những hình ảnh chân thực của An Nam đô hộ phủ thời Đường từng được phản ánh qua các nguồn thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam.
Ở trung tâm của châu thổ sông Hồng, nơi hội tụ và tỏa rộng của các tuyến đường giao thông thủy bộ, có quá trình phát triển lâu dài, đặc biệt vào nửa cuối của thiên niên kỉ thứ nhất, khu vực thành Đại La không chỉ có hệ thống thành hào bề thế và kiên cố làm trụ sở của chính quyền đô hộ, mà đã dần dần hình thành một đô thị quy mô khá lớn và mức độ tập trung dân số cao hơn hắn so với tất cả các vùng khác trong nước.
Đầu thế kỉ X, Khúc Thừa Dụ -  hào trưởng Hồng Châu (Hải Dương ) và Dương Đình Nghệ - hào trưởng Ái Châu (Thanh Hóa) tiếp nối nhau vươn dậy giành quyền tự chủ. Các chính quyền tự chủ đầu tiên của người Việt sau nghìn năm Bắc thuộc đều đóng đô ở thành Đại La.
Năm 938, Ngô Quyền sau trận chiến ở Bạch Đằng lại không chọn thành Đại La mà trở về đóng đô ở Cổ Loa. Ông cho tu sửa lại tòa thành nghìn năm trước, xây dựng đền đài cung điện lên trên các di tích của An Dương Vương. Đôi câu đối cổ ở Đền Thượng mách báo điều này :
                            “Thục quốc sơn hà nguyên Cồ Việt,
                            Loa thành cung cấm tự Tiền Ngô”
                            (Nước Thục non sông nguyên Việt Cồ,
                            Loa thành cung điện tự Tiền Ngô )
Ngô Quyền đã tiến hành nhiều hoạt động xây dựng vương triều, thể chế, nâng tầm kinh đô Cổ Loa thành kinh đô của một quốc gia độc lập. Cổ Loa một lần nữa khẳng định vai trò kinh thành, quân thành và thị thành giống như thời kỳ nhà nước Âu Lạc, nhưng ở tầm cao mới. Tiếc là chỉ sáu năm sau, Ngô Quyền qua đời, triều đình nhà Ngô phân rã và thành Cổ Loa lại bị mất vị trí quốc đô, chỉ còn tồn tại như là cơ sở cát cứ của một sứ quân.
Đinh Bộ Lĩnh mặc dù đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng đế, lập ra vương triều Đinh, nhưng thế và lực chưa đủ mạnh, tình hình vùng châu thổ sông Hồng vẫn còn phức tạp và nhà Tống đang lăm le xâm lấn bờ cõi, nên trở về đóng đô ở Hoa Lư, vừa tranh thủ tăng cường lực lượng, vừa giữ an toàn cho triều đình.
Kinh đô Hoa Lư chủ yếu nằm trên địa phận xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, được bao bọc bởi hệ thống núi đá vôi khá hiểm trở. Nơi đây từ sớm đã là một tụ điểm cư dân ở vào vị trí yết hầu trên trục đường Nam-Bắc, liền sông và không xa biển. Mạch máu giao thông quan trọng nhất nối Hoa Lư với châu thổ sông Hồng và mọi miền đất nước là con đường thủy qua sông Hoàng Long, sông Đáy, đổ ra cửa biển Thần Phù, thông sang Châu Ái và khu vực phía Nam đất nước.
Đinh Bộ Lĩnh cho xây đắp thành lũy nối liền các quả núi tự nhiên lại với nhau tạo nên hai vòng thành khép kín là Thành ngoại và Thành nội. Dấu tích các đền đài cung điện không còn trên mặt đất, nhưng kết quả khai quật khảo cổ học có thể cho phép hình dung một cấu trúc tổng thể các kinh đô và những nét độc đáo của công trình xây dựng quy mô lớn đầu tiên của quốc gia Đại Cồ Việt. Nhà Đinh sụp đổ, Lê Hoàn được sự ủng hộ của Dương Thái Hậu và triều đình Hoa Lư lên ngôi Hoàng đế, lập ra vương triều Lê (Tiền Lê) và tổ chức kháng chiến chống quân xâm lược Tống. Sau chiến thắng, Lê Hoàn tập trung ổn định đất nước, tổ chức lại chính quyền, phát triển sản xuất. Quốc gia Đại Cồ Việt đã thực sự có một đế đô tráng lệ, khiến sứ thần nhà Tống là Tống Cảo khi đến Hoa Lư vào năm 990 cảm thấy “Hoa Lư không khác Trường An đời nhà Hán” .
Trong hơn 42 năm (968-1010), kinh đô Hoa Lư đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, tạo điều kiện cho triều Đinh (968-980) và Tiền Lê (980-1009) củng cố chính quyền trung ương, bảo vệ nền độc lập dân tộc, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất của quân Tống (980-981) và giữ vững nền thống nhất quốc gia, đặt cơ sở cho bước phát triển toàn diện của đất nước.
Nhưng Hoa Lư với địa thế núi non hiểm  trở đã dần dần bộc lộ những hạn chế, không còn phù hợp với yêu cầu xây dựng đất nước trên quy mô lớn, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế, mở mang văn hóa. Dưới con mắt của Lý Công Uẩn, người sáng lập vương triều Lý năm 1009, thì “thành Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương” khiến ông “rất đau đớn, không thể không dời”.
Lý Thái Tổ trong Chiếu dời đô khẳng định việc dời đô là việc lớn không thể “theo ý riêng tự tiện chuyển dời”, mà phải “tính kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân”. Vấn đề đặt ra lúc này là dời đô đi đâu?. Lý Thái Tổ chọn thành Đại La với đủ các tiêu chí thủ đô của một quốc gia thống nhất và thịnh đạt “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam, bắc, đông, tây; tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.   
Tất cả những điều kiện tự nhiên và kết quả phát triển của lịch sử đã tạo dựng những tiền đề cho Đại La đóng vai trò kinh đô của đất nước thời kỳ phục hưng dân tộc. Lý Công Uẩn không chỉ nhận thức sâu sắc tất cả những tiền đề đó, mà điều quan trọng hơn là ông tin tưởng ở sức mạnh của đất nước, ở tương lai phát triển của dân tộc. Quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La của Lý Công Uẩn là kết quả của một quá trình chuẩn bị, trù tính, tìm chọn của cả dân tộc hàng nghìn năm nên trở thành tuyệt đối đúng, đáp ứng được trọn vẹn không chỉ nhu cầu phát triển của đất nước, ý chí của Hoàng đế và vương triều mà còn là nguyện vọng tha thiết của toàn dân.
Thành Thăng Long với biểu tượng Rồng Bay vừa mang khí thế vươn lên mạnh mẽ của dân tộc, vừa chứa đựng ý niệm thiêng liêng về cội nguồn Rồng Tiên và ước mơ về nguồn nước, mưa thuận gió hòa của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. 
Thành Thăng Long từ thời Lý đã gồm ba vòng thành, trong đó Cấm Thành là trung tâm chính trị của Vương triều. Phía ngoài, cùng với một số cung điện, chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và cả các thôn trại. La Thành là vòng thành ngoài cùng có chức năng vừa là thành lũy bảo vệ vừa là đê ngăn lũ lụt. Ngay từ khi kiến lập kinh thành Thăng Long, Lý Công Uẩn đã triệt để tận dụng địa thế tự nhiên trong quy hoạch xây dựng nhằm biến những sông, hồ thành những con hào tự nhiên, những đường giao thông thủy thuận tiện và một hệ thống thoát nước liên hoàn, điều tiết môi trường, bảo vệ cảnh quan sinh thái.
Điều hết sức đặc biệt là toàn bộ diện mạo kinh thành Thăng Long mà chúng ta biết hiện nay đều được thiết kế và thi công trong khoảng hai thập kỷ đầu Vương triều Lý. Tiếp sau đó, các Vương triều Lý, Trần đã xây dựng mới nhiều công trình kiến trúc quan trọng khác ở cả trong và ngoài Cấm thành, nhưng trên thực tế những kiến trúc này chỉ bổ sung và hoàn thiện thêm quy mô, cấu trúc kinh thành đã được hoàn chỉnh ngay dưới thời Lý Thái Tổ.
Công việc tạo dựng kinh mới “đủ làm chỗ ở của đế vương” vô cùng gian nan vất vả. Nhà sử học đời Trần Lê Văn Hưu (1230-1322) trách Lý Thái Tổ đã “tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể”. Lời trách ấy gián tiếp xác nhận những cố gắng phi thường và thành công tuyệt diệu của ông và thế hệ ông.
Sau Lê Văn Hưu gần nửa thiên niên kỷ, sử thần Ngô Thì Sĩ (1726-1780) đã có đủ cơ sở để nhìn nhận và đánh giá đúng đắn tầm vóc của sự kiện định đô Thăng Long: “Lý Thái Tổ lên ngôi, chưa vội làm việc khác, mà trước tiên mưu tính việc định đô đặt đỉnh, xét về sự quyết đoán sáng suốt, mưu kế anh hùng, thực những vua tầm thường không thể theo kịp. Cho nên truyền ngôi hơn 200 năm, đánh giặc Tống, dẹp giặc Chiêm, nước mạnh dân giàu, có thể gọi là đời rất thịnh trị. Các vua đời sau noi theo đều gìn giữ được ngôi vua, chống chọi với Trung Quốc. Lý Thái Tổ có thể nói là một bậc vua biết mưu tính việc lớn đấy!”
Lý Thái Tổ là người sáng lập ra Vương triều Lý (1009-1226) – Vương triều rạng rỡ văn trị, võ công, khai mở và xác lập thời kỳ phát triển toàn diện và rực rỡ nhất của lịch sử Việt Nam. Ông là con người kết tinh của lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, khéo biết đúc kết và kế thừa toàn bộ tri thức, kinh nghiệm của cha ông, vươn tới nhãn quan chính trị rộng lớn và tầm nhìn thiên niên kỷ. Ông là nhà thiết kế, nhà thi công, tác giả đầu tiên, vĩ đại nhất của kinh đô Thăng Long – Kinh đô, Thủ đô của quốc gia Đại Việt, của đất nước Việt Nam nghìn năm qua và mãi mãi về sau./.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC: NHỮNG DẤU TÍCH VĂN HÓA VẬT CHẤT

MỘT VÀI NÉT VỀ BÁO CHÍ VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA (1865-1945)

TỘC NGƯỜI VÀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI *