Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

Hà Nội tiến nhanh về phía trước: không gian công cộng trong thành phố không tưởng

Lisa Drummond
( Đặng Thị Vân Chi dịch- Do trình độ Tiếng Anh có hạn, mong nhận được sự góp ý của các bạn để bản dịch được hoàn chỉnh- Xin cám ơn)
Lisa Drummond là một phó giáo sư  về đô thị học tại Đại học York ở Canada, Toronto và là một khách mời nghiên cứu  tại Trung tâm Nghiên cứu Đông  và Đông Nam Á ở Lund tháng 5 năm 2007.
Sau khi sống và làm việc tại Hà Nội, Việt Nam trong những năm 1990, Lisa đã hoàn tất một văn bằng về nhân học Địa lý tại Đại học Quốc gia Úc và một học bổng sau tiến sĩ được thực hiện tại Đại học Quốc gia Singapore. Nghiên cứu của bà tập trung chủ yếu vào đời sống xã hội đô thị Việt Nam, kể cả các phân tích về văn hóa bình dân, cụ thể trong loạt chương trình truyền hình và các tạp chí phụ nữ, vai trò của phụ nữ trong xã hội Việt Nam, và áp dụng các khái niệm phương Tây  như công và tư  để chỉ về không gian trong các thành phố Việt Nam .
 Bà đồng chủ biên một số cuốn sách  về xã hội Việt Nam, gần đây nhất là  văn hóa tiêu thụ trong Khu đô thị  đương đại Việt Nam,cùng với Mandy Thomas, và  thực tiễn về giới trong  Việt Nam đương đại cùng với Helle Rydstrom. Lisa hiện đang nghiên cứu và viết một cuốn sách về không gian công cộng tại Hà Nội từ thời kỳ thực dân Pháp cho đến nay.
Hà Nội tiến nhanh về phía trước: không gian công cộng trong thành phố không tưởng
Lisa Drummond
Đại học York, Toronto, Canada
Nếu một thành phố có thể được coi là một cơ thể sống, thì không gian công cộng  là máu của nó. Không gian công cộng là không gian mà chúng ta chơi, đi bộ, gặp nhau tại đó, và chỉ đơn giản là nơi ghé qua- mang đến cho ta cuộc sống thành phố. Thật khó mà tưởng tượng rằng có thể sống trong một thành phố không có vỉa hè, không có công viên, không có chợ, không có đường phố. Thành phố sẽ  không có cuộc sống, lạnh lẽo và chết choc.
Không gian công cộng thì đa dạng, chúng mang các dáng vẻ khác nhau  trong các thời gian và địa điểm khác nhau.  Quy tắc về cách sử dụng không gian công cộng và cách cư xử ở “nơi công cộng”  cũng  được quy định cụ thể trong các không gian, văn hóa và  xã hội  khác nhau. Trong các xã hội phương Tây, không gian "tư "  chủ yếu được hiểu là không gian của ngôi nhà, nơi mà các hoạt động và hành vi được tự quy định, không có sự giám sát từ  bên ngoài, còn không gian "công"  được hiểu  là đối lập với nó:  ở bên ngoài, có thể tự do quan sát, là khu vực của tất cả mọi người, là đối tượng quy định của xã hội. Vì ý tưởng về không gian và thực hành không gian đã biến đổi theo  thời gian, hai lĩnh vực công  và tư  có xu hướng được hiểu là phân chia theo giới tính: không gian tư  trở thành không gian của phụ nữ (vốn là của phụ nữ và thuộc về người phụ nữ) và không gian công là không gian của nam giới. Nhiều học giả đã xem xét  không gian đã tồn tại và đã trải nghiệm thực tế  như thế nào và rõ ràng  là hiện nay công  và tư chưa bao giờ là hoàn toàn thuần túy và  đối lập về quyền lợi. Tuy nhiên, ý tưởng về công và tư  đươc khoanh lại trong các tập quán hàng ngày.
Trong ý nghĩa đơn giản nhất, không gian công cộng là những không gian mà tất cả các thành viên của xã hội, về mặt lý thuyết, có quyền sử dụng. Đôi khi, tuy nhiên, "tất cả" thì  nhiều tính độc chiếm hơn bao gồm. Thường  những không gian thuộc sở hữu tư nhân hoặc  những không gian đã được quản lý như quán cà phê, nhà hàng, rạp hát, rạp chiếu phim, hành lang khách sạn, trung tâm mua sắm..., cũng được coi là không gian công cộng, mặc dù quyền sử dụng tại các cơ sở này có thể bị hạn chế bởi khả năng chi trả hoặc diện mạo ( ví dụ người vô gia cư là rất hiếm khi được chào đón trong các nhà hàng hoặc trung tâm mua sắm, ). Những nơi này và công viên, quảng trường, vỉa hè, chợ, sân chơi, thư viện, vườn, nhà thờ, đền thờ, nghĩa trang, sân tập thể thao, hồ, bờ sông ... tất cả đều được coi là hoặc có thể là không gian công cộng. Điều mà tất cả các không gian công cộng đều có điểm chung là chúng là những nơi mà mọi người gặp gỡ, do nhu cầu hoặc do ngẫu nhiên, hay chỉ là ghé qua. Không gian công cộng là không gian của sự tụ họp trong thực tế hoặc còn ở dạng tiềm năng.
Chức năng quan trọng của chúng là  cung cấp các cơ hội gặp gỡ những người hàng xóm của chúng ta trong thành phố, những người mà chúng ta có thể không gặp ở những nơi khác, bởi vì chúng ta sống, làm việc, hoặc học tập ở những nơi khác nhau, hoặc vì những khác biệt về giai cấp hay tôn giáo. Không gian công cộng là vương quốc của sự hòa hợp, hội họp, giao lưuKhông có quyền sử dụng đối với không gian công cộng, chúng ta  cam chịu  chỉ gặp gỡ những người chúng ta biết  và những người giống như chúng ta. Chúng tmất nhiều cơ hội để tham gia cùng và có thể học hỏi từ những người chúng ta không biết hoặc những người không giống mìnhTuy nhiên, chuẩn mực xã hội và pháp luật có xu hướng phản ánh mong muốn có tính xã hội của những người có quyền lực,  thường rất cố gắng để giữ cho con người tách biệt nhau:  người nghèo cách xa những người giàu có, phụ nữ cách xa nam giới, giữ những người thuộc các tôn giáo hoặc dân tộc khác nhau trong không gian riêng của họ.
Vì vậy, làm thế nào để chúng tđảm bảo rằng sự hòa hợp có thể xảy ra? Làm thế nào để chúng ta ngăn những người giàu hoặc  giới thượng lưu  việc họ tự cách ly  hoàn toàn khỏi "công chúng"? Làm thế nào để chúng ta đảm bảo rằng người nghèo có quyền sử dụng không gian công cộng? Làm thế nào để chúng ta đảm bảo rằng chúng ta hoàn toàn cảm thấy thoải mái với những cách mà không gian công cộng được sử dụng bởi những người dân có  nền tảng giáo dục, sở thích  và khả năng khác nhau?
Không gian công cộng cũng là không gian trong đó xã hội  đặt  ra những hành vi  nào là có thể được chấp nhận. Chúng ta có công nhận hay bỏ qua những người xa lạ không? Làm thế nào để chúng ta thể hiện bản thân mình trước công chúng? Điều gì là chấp nhận được trong những quy định về quần áo hoặc thái độ? Những loại hoạt động nào thì được chấp nhận trong không gian công cộng? Ai có thể sử dụng không gian công cộng của thành phố và sử dụng cho các mục đích gì? Có sự đồng thuận về những gì là thích hợp hay có những cuộc tranh giành và  đối kháng về việc sử dụng không gian công cộng không? Lợi ích của những ai làm chủ trong việc sử dụng không gian công cộng và  đòi hỏi của ai thì bị bỏ qua?
Không gian công cộng của Hà Nội trong quá khứ và hiện tại
Hà Nội, Kinh đô, dường như đã có một ít không gian công cộng dành cho  những cuộc hội họp của công chúngThành,  như chỗ ở cho vua chúa, sẽ không  được mở cho người dân của thành phố để giải trí hoặc tụ họp. Tương tự như vậy đô-thị có đặc trưng đường phố chật hẹp, mỗi đường phố thuộc về một phường  thủ công mà mỗi phố đều có cổng và bảo vệ ở cả hai đầu. Hồ Hoàn Kiếm hầu như được bao quanh bởi  nhà ở tư nhân dọc theo con ngõ hẹp, hạn chế quyền sử dụng hồ. Không có công viên, như chúng ta biết, nhưng có rất nhiều các chùa và đền thờ và các ngôi nhà chung. Đây sẽ là các không gian chính cho việc tụ họptuy nhiên đây không phải là nơi được sử dụng tự do, mà được quy định theo giới tính và tình trạng hôn nhân. Các đường phố của phố chợ (khu phố cổ)  bình thường đã đông đúc với các cửa hàng và người bán hàng rongnhững người bán hàng và khách hàng của họVào những dịp đặc biệt có diễu hành đường phố và đám rước trong lễ hội tôn giáo, đám tang, hoặc những chuyến vi hành của Hoàng giaBan đêm các cổng phường  được đóng lại để bảo vệ chống lại kẻ trộm và kẻ cướp.
Kẻ chinh phục Pháp đã đưa những ý tưởng châu Âu về không gian đô thị và quy hoạch đô thị cho Hà Nội. Đường phố hẹp đã được mở rộng để phù hợp với các công sở lớn hơn của Pháp; Các cổng  phố đã được loại bỏ khỏi các phố phường với cùng một mục đích. Đối với người châu Âu, vỉa hè là không gian quan trọng cho cuộc đi dạo, nơi những người đi bộ có thể  giữ để khỏi bị  bùn và đất bẩn của các đường phố dính vào và giữ an toàn giao thông; một chương trình mở rộng các vỉa hè đã bắt đầu. Dự án phát triển đô thị  rộng lớn đã được thực hiện. Ví dụ: Khu vực xung quanh Hồ Hoàn Kiếm, đã  phá bỏ các ngôi  nhà ở tư nhân để tạo ra một công viên mới. Tường thành  đã bị phá bỏ và  các tòa nhà mới thuộc  chính quyền cai trị được xây dựng trên cùng một không gian. Chùa đã bị phá hủy hoặc bị chuyển đi để làm đường cho các tòa nhà mới, hoặc các công viên mới, chẳng hạn như chỗ Chùa Quan Thượng  hiện nay là Bưu điện. Các làng xung quanh thành phố đã dần dần nhập vào cảnh quan đô thị. Ý tưởng về  không gian công cộng là gì và làm thế nào để sử dụng chúng bắt đầu thay đổi. Cuộc đụng độ giữa các ý tưởng Pháp và Việt Nam về việc làm thế nào để tận dụng tốt nhất  vỉa hè, cho thoải mái, cho buôn bán, đã xảy ra hàng ngày.
Ý tưởng về không gian công cộng, việc sử dụng  và người sử dụng nó  đã được áp đặt bởi người Pháp tiếp tục ảnh hưởng đến việc sắp xếp và quy định về không gian công cộng tại Hà Nội ngày hôm nay. Các cuộc đấu tranh về việc sử dụng tốt nhất vỉa hè, các chợ, và các công viên và về  những người sử dụng được chấp nhận nhất đối với các không gian này diễn ra rất ác liệt. Nhưng dường như không gian công cộng ngày càng giảm thay vì ngày càng tăng ở thành phố hiện đại: vỉa hè bị chiếm làm rất nhiều bãi đậu xe, không gian xanh ở hai bên đường phố đang dần dần bị đốn đi để cho phép lưu lượng xe lớn hơn, có rất ít công viên mới xây dựng trong các khu dân cư mới của thành phố. Hầu như không có bất kì dấu hiệu thuận lợi nào cho một thành phố không tưởng trong tương lai .
Không gian công cộng của Hà Nội trong tương lai
Thành phố lý tưởng của tương lai là gì? Công bằng, bền vững, sinh động, phong phú, lành mạnh, an toàn ... Để  tất cả những điều này, nó sẽ cần khoảng không gian xanh, công viên, vườn hoa, cây, và không gian cho cuộc tụ họp, xem, chơi, gặp gỡ, kỷ niệm, học tập. Sẽ có những không gian  có thể mang lại cho cả người già và người trẻ của tất cả các tầng lớp, tín ngưỡng, và các nhóm lợi ích, và cả đàn ông và phụ nữ đều có thể  sử dụng một cách an toàn, bình đẳngTất nhiên, vấn đề là tìm chỗ cho những không gian này ... Có lẽcách duy nhất để bắt đầu là  lên trên.
Tôi tưởng tượng một Hà Nội trong tương lai với các không gian công cộng của nó nổi lên trên bầu trời: không gian công cộng trên tầng thượng của các tòa nhà, hoặc trên  các cây cầu giữa các tòa nhà, hoặc trên các mặt phẳng được xây dựng đặc biệt năm hoặc mười hay hai mươi  tầng ở trên. Các mặt đất sẽ được sử dụng cho  vận tải (giao thông công cộng, tất nhiên!) và cho sản xuất, công nghiệp, thương mại ... nhưng lơ lửng trên những không gian nhỏ trông dể thương, sẽ là mặt phẳng rộng  có chứa các công viên và khu vườn, quảng trường, quán cà phê, nhà hàng, chợ ngoài trời. Giống như một kết nối chưa hoàn chỉnh với quảng trường ngoài trời để ánh sáng vẫn có thể phủ trên bề mặt, và vì vậy mà  không gian công cộng vẫn còn  các bề mặt như Hồ Hoàn Kiếm -sẽ có bầu trời phía trên chúng. Tòa nhà cao tầng sẽ đặt các công viên trên mái nhà của họ, một số thậm chí có thể có vườn rau, vườn chung-  nơi cư dân đô thị có thể có chỗ đất riêng nho nhỏ của họ  để phát triển rau, quả, và hoa ...
Tôi mơ về một Hà Nội, nơi không gian công cộng thực sự là công cộng. Không gian mở cho tất cả các thành viên của công chúng, và công chúng tưởng tượng đó càng mở rộng  càng tốt. Trước khi có thể thực hiện các quyết định sẽ phải tìm xem bằng cách nào và ai quyết định việc sử dụng không gian được chấp nhận. Tầm nhìn của ai sẽ chi phối định nghĩa về "công cộng" và " có thể chấp nhận"? Làm thế nào những cái đó có thể được đàm phán công bằng và hòa bình?
Vì vậy, trong thành phố không tưởng của tôi, không gian công cộng là phong phú và đa dạng. Trong Hà Nội không tưởng của tôi, thành phố của hồ cũng là  thành phố công viên,  thành phố của đường phố chật hẹp và những đại lộ, vỉa hè để đi bộ và để xem  thế giới diễu qua, quảng trường cho các quán cà phê và  các ghế ngồi, không gian nghi lễ cho những cuộc diễu hành nghi lễ và nghi thức, và không hạn chế cơ hội cho  những cuộc gặp gỡ đô thị cũng như mở rộng chân trời.


Bạn Lê Thanh Hải góp ý về bản dịch ( Lưu ý là bạn Hải bên cạnh việc góp ý về phần dịch có bàn thêm về lý thuyết " không gian công cộng")
1- dấu gạch ngang trong essay rất quan trọng, nó là ký hiệu qui định một không gian được tách ra trong tư duy, ở đây cái -XX- dùng để định nghĩa cái khái niệm về không gian công đứng trước đó. Và tác giả nhắc đi nhắc lại chữ IN, ý nói là chơi trong đó, đi bộ trong đó, hoặc vào đó/đến đó để chơi. Lifeless không có sự sống, không có sinh khí, và cần tôn trọng thứ tự gốc
2.- evolution là tiến hóa, hơn là biến đổi theo nghĩa bình thường. Experienced in practice - được trải nghiệm trên thực tế. Nhưng ở đây chữ Practice là một phạm trù mà Michel de Certeau đã dùng, tức là nói đến các xoay sở của người bị động/ hưởng thụ và chiến lược do nhà cầm quyền đặt ra (coi note trước). THIS IDEA - cách tư duy NÀY/ĐÓ. Đây là khái quát hệ tư duy về private và public, mà Drummond từng nói rằng ở VN không hoàn toàn chia như vậy, vì người ta đem cái riêng tư ra ngoài - mặc áo rách tập thể dục trước lăng Bác, quần đùi đồ bộ trong nhà ra chạy bộ ở bờ hồ v.v. hay như Friere thì kiểu như là (đái đường và) làm tình trên yên xe máy. Vì Drummond là phụ nữ, cho nên cũng phát triển theo 1 xu hướng đương đại của nhân học là feminism, và nhìn thấy không gian qua mắt phụ nữ/đàn ông, tuy nhiên, chưa thấy có phát triển gì về mặt lý thuyết.

 3- sense cũng là một khái niệm đương đại của ngành sử sau khi khoanh tay cúi đầu trước nhân học - making sense of - theo cách hiểu đơn giản nhất, theo cách diễn giải đơn giản nhất ... Access là truy cập, có thể tạm coi là sử dụng, nhưng nếu dùng chữ sử dụng thì có thể bị coi là function trong structuralism. Lobbies là khu tiền sảnh của khách sạn, nơi khách bên ngoài gặp khách bên trong, nơi trung chuyển giữa các nhóm khác nhau, chứ hành lang khách sạn là nơi riêng tư rồi. Accident có nghĩa là tai nạn nhưng cũng có thể hiểu ở đây - on purpose or by accident, tức là cố tình đến để gặp nhau hoặc bị dàn xếp để người ta gặp, hoặc chẳng may rơi vào chỗ này, một cách hiểu "tai nạn" như thủ tướng buổi sáng ra Ba Đình tập thể dục bị gặp dân oan cũng ra đó để tập thể dục, hơn là bị xe tông. Passing - đi ngang qua, tức là nơi đó không phải là điểm đến để làm gì đó, bao gồm cả "gặp nạn". Congregation là tập họp, nhưng cũng là buổi lễ thánh Chủ Nhật, tức có thể hiểu như là nơi gặp để biểu tình. đang được dùng, hay nhiều khả năng sẽ được dùng v.v. Critical có thể dịch là quan trọng cũng được, nhưng nếu có thời gian có thể tìm hiểu thêm, có thể là biện chứng theo nghĩa phê và tự phê của Mác, có thể là nghiêm trọng tức là hơn cả quan trọng vì nó dùng để giải quyết xung đột. Khi nói một người đang trong tình trạng critical tức là người đó đang trong tình trạng nguy cấp có thể chết bất cứ lúc nào nhưng vẫn có nhiều khả năng cứu sống. Provide cũng có thể là tạo ra. Realm ở đây không phải là vương quốc, nó là một khái niệm triết học, một không gian, một thể chế, một cái gì đó. Mix là trộn lẫn, giống như việc tắt đèn trong đêm đóng ấn thánh Trần, phó thủ tướng thì cũng ngang TAO - bảo vệ hay phóng viên, tất cả đều trộn lẫn trong cái đám cướp giành nhau mấy mảnh vải bị làm dơ. Hòa hợp, hội họp và giao lưu là interpretation theo từ ngữ thường dùng hiện nay tại VN, thể hiện ý đồ của nhà cầm quyền, không phải cách nói trung dung trong văn bản khoa học - có những nguyên tắc để bảo đảm tư duy là cái cao nhứt. Doomed ở đây là bị buộc, khác với (tự nguyện) cam chịu. Những cơ hội khác với nhiều cơ hội, chỗ này có thể làm khác nghĩa. Emgage là một từ khá khó, nếu Mỹ engage vào công việc nội bộ của VN thì chị Nga sẽ lên phản đối Mỹ "can thiệp". Engage thông thường là tham gia vào, tương tác, nhưng nếu chỉ nói chữ tham gia không thì không rõ nghĩa bằng nhập hội, nhập bọn, giống như facebook là một không gian như vậy. Comment trên trang người khác là engage rồi, còn nếu chỉ đăng ký và đứng nhìn thì chưa thể coi là engage được. Law ở đây là luật lệ, để phân biệt, một cái là những lệ không thành văn, cái kia là văn bản, luật pháp thì là một hệ thống rồi. Và dấu phẩy cũng là thành phần quan trọng, mang tính định nghĩa, nhắc nhở ý muốn nói tới cái gì. Các qui định và luật lệ xã hội, vốn thường thể hiện phác thảo/kế hoạch/quyết tâm chính trị xã hội của giới quyền lức, rất thường vận hành theo hướng .... work không có nghĩa là cố gắng. tách riêng nghèo và giàu, đàn bà và đàn ông...

 4. Chữ Insulate ở đây rất là nặng, không đơn giản là "cách ly hoàn toàn", mà là đặt ra những lớp cách nhiệt, kiểu như muốn vào cửa quan phải qua thằng bảo vệ, rồi đến thằng thư ký, nhiều cửa nhiều tầng. Elite là thượng tầng, khác với nghĩa thượng lưu là người giàu. Elite ở VN tức là tổng bí thư, bí thư thường trực, chủ tịch nước, thủ tướng hê hê hê, giỡn chơi chút, chính xác hơn là tất cả những ai quanh các vị ấy. Thể chế gồm có nguyên thủ quốc gia và các lãnh đạo, và dưới nhóm đó tất cả là elite, từ cán bộ trung cao cấp cho đến sinh viên - những người thuộc tầng lớp trên và nằm trong bộ máy cầm quyền. Access - một lần nữa, ở đây là truy cập, khác với quyền sử dụng, vì không gian đã có đâu mà quyền sử dụng, Hà Nội có chỗ nào để tập thể dục đâu, cho nên người ta phải ra trước lăng HCM mà thể hiện các tư thế không được hay ho cho lắm. Câu bị động có thể dịch chuyển trở lại nhưng đó không phải là điều đáng quan tâm trong note này.

 Constitution là hiến pháp, tức không chỉ đặt ra, mà còn mang tính như tiên đề, tạo ra đầu tiên, tạo ra tiền lệ, phác thảo nên v.v. Acknowledge or ignore stragers phải hiểu là khi có người lạ, người KHÁC đến đây thì ta có NHẬN BIẾT họ hay không, tức là trong cái không gian đó có ai là người khác không, có bị nhận ra không, hay là nhận ra nhưng mọi người làm ngơ coi như không có kẻ khác đó, bởi vì khi còn kẻ KHác thì không gian đó vẫn chưa hoàn toàn là Công, bởi vì đã là Công thì Ai Cũng Có Thể là thành viên được, không thể Khác được. Contest cũng lại là một phạm trù triết học, Contesting Spaces là đề tài nhiều người đã viết. Confrontation thì không còn là tranh giành theo nghĩa contest (ví dụ dân HN ra "cướp" Ba Đình để tập thể dục là contest) mà là chia ra, tạo ra những khoảng không riêng để đánh nhau, chỗ này bắc loa chơi nhạc rap chỗ kia kể chuyện Kiều đối kháng nhau. Dominate ở đây là nghĩa bao trùm, là nhóm quyền lợi mạnh hơn trong xã hội, ở đây có nghĩa là "thắng thế"....

Bạn Lê Thanh Hải còn có nhận xét về trình độ và khả năng người dịch, nhưng thấy rằng nó nằm ngoài văn bản dịch nên chỉ xin trích dẫn những nội dung liên quan trực tiếp đến văn bản.
 Thực ra tôi dịch bài này chỉ để học tiếng Anh, để tập dịch, để khỏi quên tiếng Anh chứ không vì bất cứ lý do nào khác, vì vậy xin cám ơn bạn Hải về những góp ý của bạn cho bản dịch này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét