Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

Báo chí Việt Nam thời thuộc địa ( nhân ngày báo chí Việt Nam 21/6

Bài này đã được bổ sung chỉnh sửa lại, đã xuất bản và đăng ở đây:
http://chuyencuachi.blogspot.com/2016/02/mot-vai-net-ve-bao-chi-viet-nam-thoi.html
Mời các bạn đọc ở bài mới để có được thông tin đầy đủ hơn. Xin cám ơn!- Đặng Thị Vân Chi)
Tặng các nhà báo Việt Nam- bạn tôi.
Đặng Thị Vân Chi
Những tờ báo đầu tiên
        Ngay từ những ngày đầu xâm lược Việt Nam, báo chí đã được thực dân Pháp sử dụng như một công cụ phục vụ quá trình xâm lược của Pháp. Lịch sử cũng như nội dung các báo thời kì này phản ánh rõ quá trình xâm lược của thực dân Pháp cũng như vai trò phục vụ công cuộc xâm lược của báo chí. Ví dụ ngay trong quá trình xâm lược Nam Kỳ, Pháp đã ra tờ Nam kì viễn chinh công báo năm 1861. Đến năm 1865 sau khi ba tỉnh còn lại của Nam Kỳ bị thôn tính thì tên báo được đổi là Nam Kỳ thuộc Pháp công báo và đến năm 1889, khi nền thống trị của Pháp được xác lập trên toàn cõi Việt Nam thì báo lại được đổi tên Đông Dương thuộc Pháp công báo...
         Các tờ công báo này đăng tải các  nghị định, công văn, đạo luật, các chỉ thị của bộ máy thực dân, các bài diễn văn của thống đốc Nam Kỳ lưu hành chủ yếu trong đám sĩ quan và viên chức thực dân, vì vậy tất cả đều là báo bằng tiếng Pháp.
        Bên cạnh những tờ công báo bằng tiếng Pháp naỳ, Pháp còn cho ra tờ báo chữ Hán Xã thôn công báo để phổ biến những quyết định, những mệnh lệnh của đội quân xâm lược tới đám chức sắc bản xứ cộng tác với Pháp. Ngoài ra, Pháp còn cho xuất bản những tờ báo phục vụ công cuộc khai thác kinh tế  như tờ Tập san của Uỷ ban canh nông Nam Kỳ) năm 1865Công báo của Uỷ ban nghiên cứu nông, công, thương Trung Kỳ và Bắc Kỳ năm 1889
        Theo bài báo “Thử tìm long mạch của tờ báo ta” do tác giả Quán Chi khảo cứu đăng trên Trung Bắc chủ nhật từ số 101(3.3.1942) đến số 104 (29.3.1942) thì chữ quốc ngữ đã được dùng khá phổ biến ở Nam Kỳ từ trước khi tờ báo Tiếng Việt đầu tiên ra đời là tờ Gia Định báo xuất bản ngày 15/4/1865. Gia định công báo lúc đầu chỉ là một tờ tuần báo chủ yếu đăng những thông tư, chính luận của chính quyền thực dân, một số bài thơ, vài câu chuyện hài đàm, chuyện cổ tích... chưa phải là một tờ báo có tính chất thông tin và truyền bá tư tưởng. Sau Gia định báo, tờ báo tiếng Việt thứ hai là tờ Phan Yên báo xuất bản năm 1868 và Nam Kỳ địa phận xuất bản  năm 1883 cũng có nội dung tương tự.
Về thực chất các tờ báo này cũng chỉ là công cụ của Pháp trong quá trình xâm lược. Nội dung của các tờ báo chỉ đơn giản là dịch đăng  những tờ công báo tiếng Pháp sang tiếng Việt cho người Việt đọc như các công văn, giấy tờ, các văn kiện của chính quyền thực dân hoặc những tờ thông báo, cáo thị, tình hình giá cả, thuế khoá của sở thuế, phòng thương chánh, toà thị chánh... Shawn.F.Mc. Hale trong công trình nghiên cứu  “n phẩm và quyền lực”của mình đã nhận xét : “Chính quyền thuộc địa Pháp cần rất nhiều tài liệu in ấn (mẫu đơn từ, hoá đơn, baó cáo...) để hoạt động một cách trôi chảy (có người đã cho rằng chính phủ thực dân cần giấy nhiều như vũ khí để giữ người dân dưới sự kiểm soát của họ)”[1].
        Những người Việt tham gia viết báo thời kỳ này hầu hết là những viên chức của chính quyền thực dân thông thạo chữ Hán, chữ Pháp, chữ quốc nhữ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Tôn Thọ Tường, Lương Khắc Ninh...
       Cùng với báo chí, thực dân Pháp đã sớm ban hành những đạo luật, sắc lệnh về báo chí cho Đông Dương. Sắc lệnh ngày 30/12/1898 đã đình chỉ việc thi hành luật tự do báo chí ngày 29/7/1881 của chính phủ Pháp ở Đông Dương. Theo sắc lệnh này việc thành lập một tờ báo  hay xuất bản phẩm định kì bằng bất cứ thứ tiếng nào đều có thể  bị đình chỉ bởi nghị định của quan Toàn quyền và không một tờ báo tiếng Việt nào có thể xuất bản nếu không được phép của quan Toàn quyền. Giấy phép xuất bản chỉ được cấp với điều kiện là văn bản các bài đem đăng báo phải được quan Toàn quyền Đông Dương duyệt y. Giấy phép này có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Việc cấp giấy phép cũng rất hạn chế. Ví dụ ở Nam Kì từ năm 1927 đến năm 1933 có hơn 77 đơn xin ra báo nhưng chỉ có 13 tờ báo được xuất bản [2] các tờ báo đều phải nộp tiền kí quỹ. Các bài báo đều bị sở báo chí của chính quyền địa phương kiểm duyệt trước. ( Các bài báo được Sở mật thám Pháp dịch sang tiếng Pháp rồi đưa sang sở báo chí kiểm duyệt). “Khi báo lên khuôn, thanh tra nhà in đến nhà in đọc từng dòng những bài bình luận, phần tin tức quốc tế và các bài tường thuật những cuộc du hành quan phương”[2]. Cho đến năm 1914, ở Đông Dương có tới 16 sắc lệnh của Tổng Thống Pháp và 20 nghị định của Toàn quyền và Thống sứ có liên quan tới báo chí đã được ban hành. Như vậy thực tế là đã không có tự do báo chí mà chỉ có lưỡi kéo của chế độ kiểm duyệt.
        Tình trạng này được duy trì và khẳng định lại một lần nữa bằng luật báo chí ngày 4/10/1927 và kéo dài cho đến năm 1938 mới được bãi bỏ nhờ phong trào bình dân những năm 1936-1939.
Báo chí tiếng Việt những năm đầu thế kỷ XX
         Sang đầu thế kỉ XX, quá trình đô thị hoá cũng như sự phát triển của tầng lớp thị dân, lối sống thị dân, những hoạt động công thương nghiệp...đã tạo điều kiện cho báo chí phát triển phong phú hơn. Báo chí thời kì này không còn là của riêng chính quyền thực dân nữa mà đã xuất hiện những tờ báo tư nhân. Về nội dung, các báo cũng không đơn thuần là những tờ công báo nữa mà phản ánh quyền lợi của giới kinh doanh công thương nghiệp cũng như phản ánh những chuyển biến trong tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá của Việt Nam lúc bấy giờ. Đáng chú ý là một số tờ như Nông cổ mín đàm, Đại Nam Đăng cổ tùng báo, Đại Việt tân báo đã bàn nhiều về vấn đề văn hoá xã hội như tuyên truyền cho xu hướng canh tân hoặc đả phá chế độ khoa cử lỗi thời, những hủ tục...Tờ Đại Việt tân báo do E. Babut sáng lập và Đào Nguyên Phổ làm chủ bút. Theo Quán Chi thì Đào Nguyên Phổ là người có công đầu trong việc dịch đăng các tư tưởng mới và các sách Tân thư phổ biến trên báo. Có một hiện tượng đáng chú ý là ngay từ rất sớm vấn đề phụ nữ đã được đưa lên mặt báo, vừa là bàn về vấn đề của phụ nữ nhưng cũng từ vấn đề của phụ nữ và mượn lời phụ nữ để bàn về những vấn đề chung của xã hội.
        Đại Nam Đăng cổ tùng báo chỉ tồn tại khoảng 10 tháng trong năm 1907. Sau khi  Đại nam Đăng cổ tùng báo đóng cửa trong suốt 6 năm từ 1907 tới 1913 ở Việt Nam chỉ còn lại hai tờ báo tiếng Việt xuất bản ở Nam Kì là tờ Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn.
        Năm 1913, Đông Dương tạp chí được xuất bản ra số đầu tiên ngày 15/5 tại Hà Nội. Người sáng lập và chủ nhiệm báo là Schneinder, người đã từng ở Việt Nam từ năm 1882 và đã xuất bản tờ Lục tỉnh tân văn và Đại nam đồng văn nhật báo . Vì vậy lúc đầu Đông Dương tạp chí được coi là một chi nhánh của Lục tỉnh tân văn ở Bắc và Trung Kỳ. Chủ bút báo là Nguyễn Văn Vĩnh với sự cộng tác của các tác giả Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Trần Trọng Kim, Nguyễn Khắc Hiếu...
       Trong 2 năm đầu 1913-1914 Đông Dương tạp chí (ĐDTC) mang tính chất một tờ báo ngôn luận thông thường tổng hợp, đăng tải các bài về tin tức thời sự chính trị xã hội lẫn văn chương học thuật. Tháng 1-1915 báo Trung bắc tân văn (TBTV) xuất bản ở Hà Nội, chủ nhiệm báo vẫn là Schneider và Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút với các cộng tác viên như của ĐDTC. Và để phục vụ chính sách động viên cho chiến tranh của Pháp, TBTV sẽ chuyên “nghị luận về những việc thời vụ”  còn ĐDTCí sẽ chuyển thành một tờ báo có tính chất văn học chuyên giới thiệu và dịch các tác phẩm văn học nước ngoài và các bài về khoa sư phạm. Cũng như ĐDTC, TBTV lúc đầu là một tờ tuần báo, đến năm 1916 thì 3 ngaỳ ra một số và đến năm 1919 khi Nguyễn  Văn Vĩnh mua lại tờ báo và nhà in từ Schneider thì báo ra hàng ngày.
Từ sau chiến tranh thế giới I đến I930
        Cũng từ sau chiến tranh thế giới I báo chí phát triển mạnh hơn do Pháp không giữ độc quyền báo chí như trước nữa. Nhiều người Việt Nam được phép xuất bản báo chí và đương nhiên là phải tuân theo pháp luật của chính quyền thực dân và phải chịu sự kiểm soát của chúng. Đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới I tới những năm đầu thập niên 30, báo tiếng Việt phát triển nhanh chóng cả về số lượng và nội dung. Năm 1922, cả nước chỉ mới có 19 tờ báo tiếng Việt thì đến năm 1925 đã có 25 tờ, năm 1927 có 36 tờ và năm 1929 lên tới 47 tờ. Các tờ báo tiêu biểu thời kì này là: Đông Dương tạp chí (1913-1918),Trung Bắc tân văn (1915-1945), Nam Phong (1917-1935), Nữ giới chung (1918), Thực nghiệp dân báo(1920-1933), Khai hoá nhật báo (1921-1927), Hữu thanh tạp chí (1921-1924), Đông Pháp thời báo(1923- 1928), An nam tạp chí (1926-1930), Thần chung (1929-1930), Trung lập báo (1924-1933), Tân dân báo (1924-1925) Pháp Việt nhất gia (1927), Tiếng dân (1927-1943), Hà thành ngọ báo (1927-1929), Báo Đông -Tây (1929-1932), Phụ nữ tân văn (1929-1935), Kì lân báo (1928-1929), Văn minh(1926-1931)...
Từ năm I930 đến I945
        Sang những năm 1930, báo chí Tiếng Việt có sự phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh khoảng 30 tờ báo và tạp chí có từ trước vẫn đang tiếp tục lưu hành thì có khoảng 180 tờ báo và tạp chí mới ra đời. So với trước đây số lượng các tờ báo xuất bản trong thời kì này tăng lên gấp đôi, đặc biệt bên cạnh báo chí hợp pháp phát hành công khai còn xuất hiện dòng báo bí mật của Đảng Cộng sản Việt Nam và dòng báo lưu hành trong các nhà tù của thực dân.
        Báo chí thời kì này phản ánh khá rõ nét tình hình kinh tế xã hội và chính trị tư tưởng đương thời. Đó là bên cạnh trào lưu Âu hoá và lối sống tư sản trong các đô thị là tin tức về các hoạt động cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, các cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng như cuộc thảo luậncủa Hải Triều và Thiếu Sơn về “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” [ Đời Mới-24/3-27/3/I933] ,  cuộc thảo luận của Hải Triều và Phan Khôi về “Duy vật và Duy tâm” [ Phụ nữ thời đàm- 8 và 29/I0/ I933]; cuộc thảo luận của Phan Khôi và Nguyễn Thị Chính  về “Vấn đề giải phóng phụ nữ với nhân sinh quan” [ Phụ nữ tân văn- 7 và I4/7 và  4/8/I932], cuộc tranh luận về “Phổ thông đầu phiếu” trên báo Công luận năm 1932 và các bài về quyền bầu cử của phụ nữ...
            Thắng lợi của Mặt trận dân chủ Đông Dương trong cuộc đấu tranh đòi tự do báo chí, Pháp đã phải thừa nhận hiệu lực của Luật tự do báo chí ban hành năm 1881 được áp dụng ở Đông Dương. Đó là bộ luật quy định báo chí phát hành chỉ cần báo trước 24 giờ. Chính thắng lợi này đã làm báo chí giai đoạn 1936-1939 phát triển mạnh mẽ,  nhiều tờ báo cách mạng được phát hành công khai. Theo Daniel Hemery, Sở An ninh Đông Dương ước tính vào tháng 11/1938, chỉ riêng Nam Kỳ có tới 18 tờ báo cộng sản, trốtkit, hoặc thân cộng. Số in của báo tiếng Pháp giảm chỉ còn 30.580 bản trong khi số in của báo tiếng Việt là 153.000 bản. Tính đến ngày 1/1/1939 trên toàn cõi Đông Dương số báo tiếng Việt và song ngữ Pháp Việt  là 120 tờ trong khi số báo tiếng Pháp chỉ còn 69 tờ.[3]
        Thời kì từ năm 1939, do điều kiện chiến tranh, kinh tế suy thoái, mực và giấy là hai nguồn vật liệu phục vụ cho ngành in ấn trở nên khan hiếm và đắt đỏ đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành xuất bản, trong đó có báo chí. Nhiều tờ báo phải đóng cửa hoặc giảm trang, in trên giấy xấu. Mặc dù vậy, do nhu cầu tìm hiểu tình hình trong nước và quốc tế tăng, độc giả ngày càng nhiều, tình hình phát hành báo chí vẫn được duy trì với một số lượng khá lớn. Tất cả báo chí cách mạng phải phát hành bí mật song cũng không vì thế mà báo chí cách mạng không phát triển. Tiêu biểu cho báo chí cách mạng thời kì này là các tờ Tạp chí Cộng sản, Cờ giải ghóng, Cứu quốc, Việt Nam độc lập, Kèn gọi lính, Mê Linh, Phá ngục, Kháng địch, Cởi ách, Chiến đấu, Tiên phong, Dân tộc, Tiếng súng khởi nghĩa…
         Dòng báo chí công khai cũng bị phân hoá thành nhiều khuynh hướng: báo chí thân thực dân như các tờ: Đông Pháp (ĐP), Tin mới, Đàn bà (ĐB), Tân Việt Nam, Nỗ lực. Báo chí cấp tiến như các tờ Ngày nay, Thanh nghị, Tri tân... Ngoài ra còn có một số tờ báo của nhóm Trốtkít như tờ Văn mới, Tân thời...,các loại báo văn học, tôn giáo và các loại báo chuyên biệt khác như báo thể thao, báo kinh tế, báo trẻ em... Một đặc điểm đáng chú ý là hầu hết các báo xuất bản thời kì này đều có dành riêng một mục cho phụ nữ hoặc có các trang phụ nữ như Công luận, Đông Pháp, Tân thời tuần báo (TT), Dân hiệp (DH), Nam Kỳ tuần báo (NKTB)... Đặc biệt thời kì này còn hình thành cả một dòng báo phụ nữ.
       Năm 1940, phát xít Đức tấn công nước Pháp, chính phủ Pháp do Reynaud cầm đầu nhanh chóng sụp đổ. Chính phủ mới do Thống chế Philippe Petain thành lập tuyên bố đầu hàng phát xít Đức. Một nhóm khác do tướng Charles de Gaulle lãnh đạo chạy sang Anh và thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Pháp. Chính phủ bình dân của Pháp không còn tồn tại, Đảng Cộng sản bị giải tán, phải đi vào hoạt động bí mật. Việc nước Pháp bị Đức xâm chiếm ảnh hưởng mạnh mẽ đến những diễn biến chính trị tại Đông Dương. 
         ở Đông Dương, từ tháng 7/1939 chức vụ Toàn quyền Đông Dương cũng thay đổi từ một quan toàn quyền dân sự là Brevie chuyển sang cho một quan toàn quyền quân sự, tướng Catroux và sau đó là Đô đốc Jean Decoux. Pháp đã chuẩn bị cho tình trạng chiến tranh ở các nước thuộc địa. Hành động đầu tiên của chính quyền thuộc địa là ra sức đàn áp Đảng Cộng sản. Sắc lệnh ngày 28/9/1939 cấm ngặt tất cả hành vi tuyên truyền về Quốc tế III và các tổ chức có liên quan. Đảng Cộng sản, các đoàn thể và các nhóm liên quan đều bị giải tán. Thực dân Pháp đã quy định kiểm duyệt toàn bộ báo chí nước ngoài trong các khu vực thuộc địa của Pháp. Trong vòng 4 tháng cuối năm 1939, Pháp đã ký tới 10 Sắc lệnh và Nghị định về báo chí và liên quan đến báo chí. Giấy và mực in cũng được chính quyền quản lý chặt chẽ thông qua phòng kiểm duyệt Liên đoàn giấy. Năm 1943, Toàn quyền Đông Dương ra một nghị định mới về việc phát hành báo chí. Nghị định này quy định: khuôn khổ báo sẽ bị hạn chế để tiết kiệm giấy. Nếu báo xuất bản hàng ngày thì phải nghỉ ngày chủ nhật. Nếu phát hành ngày chủ nhật thì không được phát hành các ngày khác trong tuần, không được in báo trên giấy khổ 23 x 2000 cm2, nên dùng khổ báo không cần phải cắt giấy để tiết kiệm... [HP-1/5/1945]
         Ngay từ trước khi có sắc lệnh trên, một loạt tờ báo đã bị khám xét, bắt bớ và đóng cửa. Tờ Ngày mới bị đóng cửa ngày 26.8.1939, Dân chúng ngày 30/8/1939, Người mới ngày 5/9/1939, Thế giới ngày 13/9/1939, Đời nay ngày 29/9/1939. Trước tình hình đó Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo cách mạng, thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, ra chỉ thị cho những người làm báo và các tờ báo Đảng rút vào bí mật.
         Ngày 23/9/1940, Nhật vào Đông Dương đặt thêm một ách thống trị mới lên xã hội Việt Nam và từng bước ép Pháp phải nhường cho Nhật một số quyền lợi về kinh tế chính trị, quân sự. Đồng thời Nhật cũng ráo riết tuyên truyền chính sách Đại Đông á, văn hoá Nhật... nhằm gây ảnh hưởng trong dân chúng. Nhật cũng thành lập văn phòng kiểm duyệt báo chí, ra thông báo về việc kiểm duyệt toàn bộ báo chí, xuất bản phẩm và các phương tiện tuyên truyền kể cả áp phích quảng cáo và các kịch bản... Dựa vào Nhật, một số đảng phái mới ra đời như Đại Việt dân chính, Đại Việt quốc xã, Phục quốc... và đều ra báo để gây ảnh hưởng. Tháng 5/1941 quyết nghị thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh)
       Phong trào Việt Minh phát triển, ở các vùng căn cứ địa cách mạng, báo chí cách mạng cũng được xuất bản góp phần tuyên truyền và vận động nhân dân như tờ: Việt Nam độc lập, Cứu quốc, Cờ giải phóng... ở các địa phương cũng có báo cách mạng để vận động tuyên truyền nhân dân. Như báo Đuổi giặc nước của cơ quan tuyên truyền cổ động của Việt Minh Thanh Hoá, báo Hiệp lực, cơ quan cổ động của Việt Minh tỉnh Bắc Ninh ...



[1]McHale.Shawn Frederick (1995), Printing, power, and the transformation of Vietnamese cultture, 1920-1945, dissertation, Cornell University 

[2]  Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc, vĩnh Sính, (2005) Từ Đông sang Tây,NXB Đà Nẵng, tr90

[3]Cao Huy Thuần...Từ Đông sang tây.. tr88

Giới thiệu một bài báo đăng trên báo Đàn Bà mới năm I935.

Bạc bẽo thay nghề làm báo ở xứ này
 Tờ báo là một bó đuốc để tìm Chân Lý.
Người làm báo là kẻ cầm bó đuốc ấy, là kẻ thờ Chân lý một cách chánh đại quang minh, không sợ kẻ lớn quyền nhiều thế, bao giờ cũng muốn làm cho rõ trắng đen, dầu có phải gặp nguy hiểm cũng cam. Tóm lại người làm báo là kẻ có thể nói như Zola: " Tôi tố cáo đây nè!"
Tố cáo những kẻ lạm quyền.
Tố cáo những tội nhân của xã hội mà pháp luật chưa tìm ra được.
Tố cáo những vụ áp chế mà kẻ bị húng hiếp do ngắn cổ mà không kêu được tới các nhà cầm quyền. Nhà làm báo không để cho một việc gì còn được lẩn khuất trong só ( xó) tối.
Vì vậy mà ở các nước nghề làm báo là một cái quyền: quyền thứ tư trong nước. Tờ báo ở Âu Mỹ là một sức mạnh. Chính nhờ cái sức mạnh của báo giới đã bênh vực cho mình mà quan ba Dreyfus ở Pháp vốn bị xử oan, bị khép lầm vào tội phản quốc, sau được luật pháp xét xử lại, tuyên bố ông vô tội. Ta còn thấy cái sức mạnh của báo giới làm cho nội các của nước Pháp phải đổ nhào sau vụ án Dreyfus và chính trị nước Pháp xoay về phía tả. Ở bên Mỹ, Hearst, ông vua làm báo bị Nội các Tardieu trục xuất ra khỏi nước Pháp một cách vô lý, sau về nước cổ động dân Mỹ công kích nước Pháp dữ quá đến đỗi nghị định trục xuất ông Hearst phải hủy đi.
Nhưng nếu ở các nước nghề làm báo là một sức mạnh mà kẻ cầm quyền phải vì nể thì ở xứ Đông Dương này, ngựơc lại, nghề làm báo mới bạc bẽo làm sao!
Không những báo giới quốc âm đã bị khép vào một chế độ riêng về mặt chánh trị, đến báo giới viết bằng chữ Pháp cũng phải giảm thế lực trước những kẻ lớn quyền mạnh thế.
Vụ án Populaire đã tỏ rõ sự ấy. Đây chúng tôi không tường thuật vụ ấy vì luật pháp không cho thuật những vụ án phỉ báng. Chúng tôi chỉ tỏ ít cảm tưởng đối với bạn đồng nghiệp Bonvicini chẳng may đã đụng chạm tới ông vua tiền tỉnh Bạc Liêu là ông Hội đồng Trần Trinh Trạch
Sau khi Tòa án đại hình tuyên bố không có quyền xử vụ án ông Trần kiện báo Populaire, dầu ông này đã làm Hội đồng quản hạt, đã có chân trong Hội đồng tư vấn, có Bắc Đẩu Bội tinh, sau khi tòa đưa trả vụ này cho Tòa Trừng trị, thì chúng tôi chắc thế nào ông Bonivicini cũng bị án rồi.
Vì ở Tòa Trừng trị, điều luật thứ 35 trong Đạo luật năm 1881 không cho viện bằng cớ ra, sự tuyên phạt đã thành một lẽ dĩ nhiên đi rồi. Tòa chỉ cần xét xem bị cáo nhơn có phải vì công tâm mà viết bài báo phạm tới danh giá bên nguyên không? Thì các người làm chứng đều công nhận rằng ông Boncini vì công tâm mà chỉ trích ông Trần Trinh Trạch, rằng ông chủ bút báo Populaire là một người chân chánh.
Nhưng ông Biện lý Serrau khép tội trong vụ án này nói rằng: Dầu có vì công tâm mà chỉ trích bên nguyên ông Bonvicini cũng không được trắng án nào; sự công tâm chỉ là trường hợp được giảm đẳng ( circonstaince atte'nuante) mà thôi.
Thế nghĩa là ở tòa trừng trị, luật pháp đã sẵn sàng để phạt kẻ đã viết báo phạm tới danh giá người ta, dầu là một kẻ viết báo chân chánh, muốn tố cáo việc ám muội, hay một kẻ viết báo chuyên môn làm nghề "thầy hót" cũng để ngang hàng với nhau cả. Quan Biện lý và Quan chánh á trong vụ Populaire cũng chỉ làm đúng pháp luật mà thôi, chúng tôi biết vậy lắm. Nhưng đạo luật về tôi phỉ báng như vậy đối với nghề viết báo mới khắt khe làm sao!
Rồi đây, có một ngày kia, có một thằng điếm móc túi - nếu có muốn, cũng có thể đem một nhà báo ra trước pháp xin được bồi thường danh giá vì nhà báo đó đã đăng tin...nó ăn cắp.
Nghề làm báo như vậy thì còn gì đáng gọi là một quyền nữa?
Tờ báo là mảnh gương phản chiếu dư luận của quần chúng.
Quần chúng bị điều gì áp bức ; sự công phẫn bị đè nén trong lòng không dám lộ ra ngoài, nhưng có một ngày kia nó sẽ bung ra. Khi đó nó sẽ như một thùng thuốc đạn đã bị đè nén lâu rồi, khi nổ ra gây sự hại không phải ít. Rồi nó sẽ gây ra lắm việc đáng tiếc như việc ngày 6 Fe'vrier năm ngoái ở Pháp vậy.
Nay nếu pháp luật hay nhà cầm quyền không cho tờ báo chiếu ra ngoài ánh sáng sự công phẫn ấy thì có khác nào một việc thất sách, một việc thất sách rồi đây khó mà chữa sửa được. Trạng sư Gallet bênh vực cho ông Bonvicini, có tỏ cái nhiệm vụ quan trọng của nhà báo như vầy:
" Dư luận của công chúng mà báo giới làm tiêu biểu, là một sự mà ta không thể nhãng bỏ được, vì sự ấy làm ta tránh được nhiều việc tai biến. Báo giới báo trước cho ta biết những sự nguy hiểm khó tránh nó sắp xảy tới nơi.
Các ngài không thấy ở bên Pháp đó sao? Chẳng phải Báo giới đã kêu: "Phải coi chừng" mỗi khi mà dư luận công chúng bị đè nén sắp sửa bung ra bằng sự biểu tình ghê gớm.
Người ta thấy rằng nhờ Báo giới mà nước Pháp đã tra xét ra được bao nhiêu vụ ám muội nó đem nước Pháp chỉ còn hai bước thì đến cuộc cách mạng. Nếu người ta bịt miệng Báo giới thì sẽ ra sao?"
Nhưng than ôi ! Những lời lẽ hùng hồn của Trạng sư Gallet không đủ làm cho tòa lưu tâm đến cái nghề làm báo ở xứ này, một cái nghề có lợi ích cho chính phủ, cho trật tự trong nước, đáng hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Trạng sư biết rằng quan tòa không thể tha cho ông Bonvicini vì luật pháp đã bắt buộc thế, nên ông Gallet xin tòa xử hết sức nhẹ cho bị cáo nhơn.
Vậy mà sau khi nghị án có tới một giờ đồng hồ, tòa tuyên phạt ông chủ nhiệm báo Populaire 1000 quan tiền, và bồi thường danh giá cho bên nguyên 3000 đồng.
Ba ngàn đồng phạt bồi thường danh giá, 1000 quan tiền phạt! những người đi xem xử vụ ấy đều tỏ ý ngạc nhiên vì có lẽ từ trước tới giờ họ chưa thấy một nhà báo nào bị xử nặng đến thế.
Nhưng thôi, luật pháp đã tuyên án, không còn có thể bình phẩm được nữa...

(Bài đăng ở báo Đàn bà mới năm 1935)

4 nhận xét:

  1. Vô tình vào log đọc được bài viết. Rất cảm ơn Chi.

    Trả lờiXóa
  2. Cô có thể giải đáp giúp cháu một câu hỏi là : Trong thời gian chính quyền Pháp quản lý nghiêm ngặt các bài báo mà những nhà báo Việt Nam thời ấy viết ra, họ đã làm cách nào để thể hiện lòng yêu nước của mình thông qua những bài báo mà chính quyền lúc ấy không nhận ra ?

    Trả lờiXóa
  3. Trong thời Pháp thuộc, báo chí, đặc biệt ở Bắc Kỳ và báo chí tiếng Việt bị kiểm duyệt rất kỹ, báo tiếng Pháp ở Nam Kỳ thì đỡ hơn. Tuy nhiên cũng có thời kỳ 1936-1939, báo giới Nam Kỳ đã đấu tranh để được hưởng Luật tự do báo chí của Pháp, là các báo chỉ cần nộp tiền ký quỹ và đăng ký... là có thể xuất bản báo. Tranh thủ cơ hội này, nhiều tờ báo đã xuất bản tuyên truyền tinh thần yêu nước, kêu gọi đấu tranh chống chế độ thực dân... Còn trước đó, một cách mà các nhà báo thường làm là dưới danh nghĩa nói về các vấn đề phụ nữ để khích lệ lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Ví dụ như " trong bài “Khuê môn bất xuất” tác giả Tiểu Minh chuyên phụ trách mục Nhời đàn bà của Thần Chung phân tích: Phụ nữ sinh ra cũng tai mắt, tay chân như mọi người thì không có lý gì lại phân ra việc của nam việc của nữ riêng. Nếu cho ràng việc bên ngoài là việc của nam giới, việc trong nhà là việc của phụ nữ thì cũng giống như “ có con mắt mà không biết nhìn , có cái óc mà không biết nghĩ.... Ngay như thời tục nam tôn nữ ty còn thịnh đã có câu “quốc gia hưng vong, thất phụ hữu trách” nghĩa là vận nước thịnh hay suy người đàn bà cũng có trác nhiệm đến” Vì vậy “gặp lúc vận nước đương cơn bĩ cực, anh em đương còn cắm cúi trong đám bùn lầy cố công gượng đứng dậy mà còn phải lao đao, chị em ta há để đành doạn ngồi yên trong cái vòng eo hẹp gia đình mà ngó sao[TC-12.11.1929] Hoặc “Sanh là dân trong nước, dẫu trai hay gái cũng là phần tử của quốc gia, quốc gia thịnh hay suy phần nhiều đều trông cậy vào các đoàn thể của xã hội mà các đoàn thể của xã hội được thịnh đều nhờ vào tấm lòng công ích của quốc dân. Bất luận nam hay nữ đều phải biết nghĩa vụ với nhân quần.[HTNB-8.8.1927]" ( Trích từ Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, NXB Khoa học xã hội 2008)

    Trả lờiXóa
  4. Hoặc như: "Nam Kiều ( Trần Huy Liệu) trên Đông Pháp thời báo phê phán quan niệm cho rằng phụ nữ chỉ cần lo công việc gia đình mà quên mất trách nhiệm đối với xã hội qua việc phê phán câu ca dao “ Thành đổ đã có Vua Chúa xây, Can chi gái goá lo ngày lo đêm” là một câu rất có hại vì “Xin chớ bảo rằng thành đổ mà gái goá không phải lo được. Kìa như hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc, bà Triệu ẩu một mình đánh với quân Ngô, nếu cứ theo như cái thuyết “ thành đổ chúa xây” thì sáu mươi lăm thành Linh biểu can chi phải đến Hai bà Trưng gánh vác, quân Ngô tàn bạo can chi phải đến Bà Triệu liều mình...Buồn thay cho xã hội ta ngày nay, việc công ích không ai tán thành, việc công phẫn không ai phấn khích...[ĐPTB- 13.3.1929] (Trích từ Đặng Thị Vân Chi: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945, NXB Khoa học xã hội 2008)

    Trả lờiXóa