Quan hệ Việt-Trung: Bài học từ lịch sử


"Nước lớn phải lấy chữ nhân để đối xử với nước nhỏ, với thái độ nhường nhịn, không hẹp hòi, không áp đặt. Nước nhỏ thì dùng trí để giao hảo với nước lớn, tôn trọng nước lớn, xem nước lớn là đàn anh nhưng vẫn giữ tinh thần độc lập, có bản sắc riêng và có những lãnh đạo tài trí".- GS. Trần Văn Thọ.


LTS: Thưa quí vị độc giả, Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng "núi liền núi, sông liền sông". Trong quá khứ và hiện tại, có nhiều lúc mối quan hệ này đồng chí hướng, nhiều lúc không thật hài hòa, đặc biệt hiện nay hai nước đang khúc mắc trong vấn đề chủ quyền biển, đảo.
Đối thoại trí thức Việt-Trung là sáng kiến của GS. Trần Văn Thọ (Đại học Wesada, Nhật Bản). Giáo sư hy vọng qua các cuộc đối thoại, trí thức hai nước sẽ hiểu biết, tin tưởng nhau hơn và họ sẽ tác động tích cực đến các tầng lớp dân chúng khác để nhân dân hai nước hòa hiếu với nhau, điều kiện để cùng chung sống hòa bình. Nhằm cung cấp thêm tư liệu để độc giả suy ngẫm, Tuần Việt Nam giới thiệu cuộc trò chuyện của nhà báo Thu Hà với GS. Trần Văn Thọ xung quanh các cuộc đối thoại trí thức Việt-Trung vừa được tổ chức tại Tokyo (Nhật Bản).
Kỳ 1 của loạt bài xoay quanh vấn đề Quan hệ Việt-Trung: Bài học lịch sử về điều kiện để có quan hệ tương kính.
Nhà báo Thu Hà: Thưa giáo sư Trần Văn Thọ, được biết ông là người nêu sáng kiến về sự cần thiết phải có đối thoại trí thức giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực ra thì giới trí thức trên thế giới luôn có rất nhiều cơ hội để chia sẻ quan điểm, góc nhìn. Không biết vì sao ông nghĩ rằng những cuộc đối thoại giữa trí thức Việt Nam và Trung Quốc cần phải đặt thành vấn đề vào thời điểm hiện nay?
GS. Trần Văn Thọ: Quan hệ giữa Việt Nam (VN) và Trung Quốc (TQ) từ khoảng năm 2007 có nhiều diễn tiến xấu. Một trong những nguyên nhân lớn là tình hình khẩn trương ở Biển Đông. Phản ứng của dân chúng VN, đặc biệt là giới trí thức như ta đã biết nhưng dân chúng TQ hình như nhiều người cũng cho rằng họ đúng. Tháng 3 năm 2010 nhân dịp thăm Quảng Châu tôi có gặp một số giáo sư ở Đại học Trung Sơn. Tuy mục đích cuộc gặp là trao đổi về kinh tế Á châu nhưng cũng có hai người tìm cách nhắc đến Biển Đông và cho rằng VN quá khích, xâm phạm chủ quyền của TQ.
Ngoài ra, mỗi năm đến tháng 2, cuộc chiến tranh biên giới 1979 lại khơi dậy tình cảm phức tạp không phải chỉ của người VN đối với TQ mà cả phía TQ đối với VN nữa. Rõ ràng đó là cuộc chiến do Đặng Tiểu Bình phát động, nhưng nhiều người TQ vẫn tin đó là cuộc "phản kích tự vệ"(!). Thêm vào đó, quan hệ kinh tế Việt -Trung phát triển một chiều cũng gây lo ngại và tạo tình cảm bất tín của VN đối với hàng nhập ào ạt từ TQ, đối với hành vi của thương nhân, doanh nghiệp TQ tại VN. Nhưng người TQ không hiểu sự tình cho rằng tình cảm bất tín đó là do người VN vốn không ưa TQ và quên ơn TQ đã giúp VN trong quá trình giành độc lập.

Các trí thức tham gia chương trình đối thoại Việt-Trung.
Ai cũng có thể nhận thấy tình hình này rất bất lợi cho cả hai nước, nhưng đặc biệt là đối với VN, một nước nhỏ và yếu hơn. Đáng lo hơn nữa là nhiều vấn đề do lịch sử để lại, không dễ giải quyết một sớm một chiều, ảnh hưởng lâu dài đến con đường phát triển của VN. VN vừa phải củng cố nội lực, tranh thủ sức mạnh của thời đại, vừa phải cố gắng xây dựng quan hệ hữu nghị lâu dài với nước láng giềng lớn mạnh này trên cơ sở tương kính, tin tưởng lẫn nhau. Đặc biệt sự tương kính, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau phải bén rễ trong lòng của các tầng lớp dân chúng.
Từ nhận định đó tôi chợt nghĩ đến sự cần thiết phải có đối thoại giữa trí thức VN và TQ với hy vọng là qua các cuộc đối thoại, trí thức hai nước sẽ hiểu biết, tin tưởng nhau hơn và họ sẽ tác động tích cực đến các tầng lớp dân chúng khác. Tôi nghĩ đã gọi là trí thức thì, ngoài trình độ hiểu biết, phải khách quan, khoa học, trung thực và có tinh thần xây dựng, có trách nhiệm với xã hội. Do đó đối thoại giữa các trí thức hy vọng mang lại kết quả tốt.
Nhà báo Thu Hà: Vâng, có lẽ ý tưởng này thiết thực trong bối cảnh giữa hai quốc gia láng giềng đang còn nhiều điểm khúc mắc. Xin được hỏi, về phía các học giả Trung Quốc và quốc tế họ hưởng ứng thế nào với sáng kiến của GS?
GS. Trần Văn Thọ: Tôi cho rằng, các cuộc đối thoại như thế này giúp ta hiểu biết hơn về suy nghĩ của một số trí thức TQ (và VN), đồng thời gợi mở một số vấn đề VN cần quan tâm trong quá trình cải thiện quan hệ với nước láng giềng phương Bắc. Rất may là ở Đại học Wvaseda, nơi tôi đang giảng dạy có giáo sư Lưu Kiệt, chuyên về sử cận đại, người Trung Quốc, phóng khoáng và có tinh thần trách nhiệm với công việc chung. Giáo sư Lưu Kiệt cũng thấy ý nghĩa của chương trình đối thoại Việt-Trung và đồng ý đứng tên chung trong dự án này. Bước tiếp theo, tôi viết thư cho Giám đốc của Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản, đề nghị ông ủng hộ chương trình này.  Rất mừng là ông đã đánh giá cao ý tưởng và đồng ý đưa dự án vào chương trình tài trợ cho tài khóa 2011, nếu kết quả tốt sẽ tài trợ cho tài khóa 2012.
Từ mùa hè năm ngoái đến nay hội nghị trù bị và hội nghị chính thức lần thứ nhất đã được tổ chức tại Tokyo. Chúng tôi định các hội nghị chính thức tiếp theo sẽ tổ chức tại Trung Quốc và Việt Nam. Chúng tôi cũng dự định kết quả các cuộc đối thoại sẽ in thành sách bằng tiếng Việt và tiếng Trung và phổ biến rộng rãi tại hai nước. Dự định là như vậy nhưng chưa biết sẽ thực hiện được tới đâu vì còn phụ thuộc vào ngân sách và một số yếu tố khác.
Quan hệ Việt-Trung thời phong kiến: Nhân và trí là quan trọng
Nhà báo Thu Hà: Nhìn lại các cuộc đối thoại, giáo sư thấy ý kiến hai bên có gì đặc biệt? Trước hết nói về quan hệ hai nước từ thời xưa có điểm gì đáng chú ý?
GS. Trần Văn Thọ: Chúng tôi cùng nhìn lại mối quan hệ giữa hai nước cả trong quá khứ và hiện tại. Nhìn chung, về quan hệ Việt-Trung thời phong kiến, ý kiến hai bên không khác nhiều, ngoài phần báo cáo về nội dung sách giáo khoa lịch sử của phía VN là có gây tranh luận. Trong các bản báo cáo đặc biệt có một số nội dung đối với tôi khá mới và thú vị...
Nhà báo Thu Hà: Điểm mới và thú vị ông tìm thấy trong các cuộc đối thoại này là gì ạ?
GS. Trần Văn Thọ: Giáo sư Bộ Bình (Bu Ping) của Viện Khoa học xã hội TQ trong bản báo cáo tại hội nghị trù bị năm ngoái nhấn mạnh là trong các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, vì nhiều nguyên nhân đã phát sinh chiến tranh giữa hai nước nhưng đó chỉ là những giai đoạn rất ngắn.
Ông lấy một ví dụ điển hình là trong chiến tranh năm 1789 mà ông gọi là Chiến tranh Thanh Nguyễn, Tôn Sĩ Nghị từ lúc cho quân xuất phát tiến qua VN đến khi bại trận ở Thăng Long chỉ có 70 ngày. Theo ông, hầu hết thời gian từ khi Đinh Bộ Lĩnh lập ra nước Đại Cồ Việt (968) với tư cách là quốc gia độc lập đến nay, dân tộc hai nước sống trong hòa bình, giao lưu hữu hảo là chính, tuy quan hệ có tính cách giữa nước lớn và nước nhỏ, biểu hiện bằng sách phong và triều cống. Và sự gắn bó ấy đã phát triển lên cao vào thời đại hai bên cùng tranh đấu chống thực dân và đế quốc. Ông còn nhấn mạnh là "Tình hữu nghị gắn bó hai dân tộc được nhuộm bằng máu trong đấu tranh, nhân dân hai nước và con cháu sau này phải giữ gìn mãi mãi". Tôi nghĩ những trí thức như giáo sư Bộ Bình rất có tinh thần xây dựng và thực sự mong hai nước ngày càng có quan hệ tốt.
Về sách phong và triều cống, bản báo cáo của Phó giáo sư Nguyễn Minh Tường (Viện Khoa học xã hội VN) cũng đưa ra mấy chi tiết mới. Theo giáo sư Tường, từ thời Đinh Tiên Hoàng (cụ thể là từ năm 970) cho đến năm 1225, chưa có triều cống mà chỉ là sính (sính lễ). Chế độ triều cống chỉ chính thức bắt đầu từ năm 1225 (thời Trần Thái Tông), nhưng cũng không được thực hiện nghiêm ngặt, lúc có lúc không. Chỉ từ thời nhà Lê, bắt đầu năm 1428, mới thực sự có triều cống theo đúng như khái niệm đó quy định (chế độ triều cống này chấm dứt năm 1884).
"Sính" là quà thăm hỏi, không định kỳ hạn, không bắt buộc, thường được tiến hành khi hai bên muốn giao hảo thân thiết, còn "Cống là thuế, là phải nộp những sản vật quý như vàng, bạc, sừng tê, ngà voi... cho các nước lớn mạnh, có tính chất bắt buộc". Nhưng trong sử TQ thì không phân biệt hai khái niệm sính và cống. Trong giai đoạn VN cho là chỉ có "sính" họ cũng ghi là "cống". Về giai đoạn "cống", giáo sư Tường có nhận định thêm là "Cho dù phải cầu phong và triều cống, cho dù Trung Quốc có quyền sách phong cho Việt Nam, nhưng đó chỉ là hình thức nghi lễ ngoại giao, trong thực tế, ông vua Việt Nam vẫn toàn quyền cai trị đất nước mình".
Rất tiếc là tôi vẫn chưa rõ tại sao VN chỉ thực sự thực hiện triều cống nghiêm túc từ thời nhà Lê. Trong quan hệ Việt Trung, giai đoạn 970-1428 khác với giai đoạn sau như thế nào. Tôi định có dịp sẽ hỏi thêm giáo sư Nguyễn Minh Tường.
Nhà báo Thu Hà: Ôn lại lịch sử thời xưa có rút ra được bài học gì cho ngày nay không, thưa giáo sư?
"Nước lớn phải lấy chữ nhân để đối xử với nước nhỏ, với thái độ nhường nhịn, không hẹp hòi, không áp đặt. Nước nhỏ thì dùng trí để giao hảo với nước lớn, tôn trọng nước lớn, xem nước lớn là đàn anh nhưng vẫn giữ tinh thần độc lập, có bản sắc riêng và có những lãnh đạo tài trí".
GS. Trần Văn Thọ
GS. Trần Văn Thọ: Như tôi đã nói, về quan hệ hai nước thời phong kiến hai bên không khác nhiều. Đặc biệt hai bên có vẻ nhất trí ở tư tưởng của Mạnh Tử về chữ "nhân" và chữ "trí" (hiểu theo ý rộng hơn nguyên nghĩa) và đây là bài học ngày nay nên tham khảo.
Nước lớn phải lấy chữ nhân để đối xử với nước nhỏ, với thái độ nhường nhịn, không hẹp hòi, không áp đặt. Nước nhỏ thì dùng trí để giao hảo với nước lớn, tôn trọng nước lớn, xem nước lớn là đàn anh nhưng vẫn giữ tinh thần độc lập, có bản sắc riêng và có những lãnh đạo tài trí. Thái độ ấy của nước lớn và nước nhỏ là điều kiện để thiên hạ thái bình và để có quan hệ hữu hảo giữa hai nước. Văn cảnh này liên tưởng đến một câu chuyện thú vị trong bản báo cáo của giáo sư Tường kể về thái độ của Hoàng đế Càn Long nhà Thanh đối với vua Quang Trung. Nhờ tài trí mà Quang Trung được Càn Long rất nể trọng đến nỗi biết Quang Trung không đích thân sang chầu nhà Thanh mà đưa người khác giả mình sang TQ, Càn Long cũng làm ngơ.
Bản báo cáo của phó giáo sư Đào Tố Uyên (Đại học Sư phạm Hà Nội) về sách giáo khoa lịch sử VN là gây tranh cãi nhiều nhất. Giáo sư Uyên giới thiệu những nội dung chính trong giáo trình ở bậc đại học, cao đẳng và sách giáo khoa phổ thông, liên quan đến quan hệ VN-TQ từ thời cổ trung đại đến cuối thế kỷ 19 và nhấn mạnh là tuy bị phương Bắc xâm lược nhiều lần, VN vẫn giữ được độc lập, trong các thời kỳ bị TQ đô hộ, nhân dân VN vẫn liên tục đấu tranh giành độc lập và chống đồng hóa của phong kiến phương Bắc. Tuy nhiên, một giáo sư Nhật đã bình luận là bản báo cáo thiếu phần nói về những mặt tích cực trong quan hệ Việt-Trung, trong đó VN đã du nhập văn hóa, tư tưởng, ngôn ngữ từ TQ mà so với những thời kỳ có chiến tranh, quan hệ mang lại hiệu quả tốt cho việc dựng nước của VN dài hơn nhiều.
Ý kiến của giáo sư Nhật được phía TQ đồng tình. Một học giả TQ còn nói thêm là trong các cuộc chiến tranh không phải lúc nào TQ cũng xâm lược VN, chẳng hạn Lý Thường Kiệt đã đem quân sang Quảng Tây hồi thế kỷ 11. Đúng là do phải cổ võ tinh thần yêu nước, nỗ lực giữ nước trong giai đoạn chống ngoại xâm, sách giáo khoa lịch sử VN có khuynh hướng nhấn mạnh những nội dung như bản báo cáo nói trên.
Trong phần thảo luận, giáo sư Uyên có bổ túc là VN và TQ là hai nước láng giềng nên sự giao lưu và ảnh hưởng văn hóa lẫn nhau là điều đương nhiên. Trong thời kỳ Bắc thuộc, để thực hiện chính sách đồng hóa VN, TQ đã mở trường dạy học chữ Hán và truyền bá tư tưởng Nho giáo. Nhưng với tinh thần tự cường dân tộc, nhân dân Việt Nam đã tiếp thu một cách chủ động và sáng tạo, chẳng hạn dùng chữ Hán để Việt hóa âm đọc cho dễ nhớ, dễ học. Từ chữ Hán VN cũng sáng tạo ra chữ nôm và sử dụng chữ Hán để sáng tác các tác phẩm văn học, viết và xây dựng các công trình văn hóa như các tác phẩm sử học, y học, hệ thống văn bia bằng chữ Hán...
Cũng trong phần thảo luận này, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc ((Đại học Quốc gia Hà nội) có phát biểu là, vì VN bị ngoại xâm nhiều nên phải nhấn mạnh nỗ lực giữ nước trong sách giáo khoa lịch sử, và không riêng gì TQ, lịch sử VN cũng nói nhiều đến các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Theo phát biểu của giáo sư Đỗ Tiến Sâm (Viện Khoa học Xã hội VN) ở hội nghị trù bị năm ngoái, trong quá khứ, VN đã phải đương đầu với 16 cuộc chiến, trong đó 12 cuộc là do các triều đại phong kiến TQ gây ra.
Nói chung trao đổi ý kiến về quan hệ hai nước thời xa xưa cũng rất hữu ích. Đặc biệt chữ "nhân" và chữ "trí" được nhiều người nhắc lại nhiều lần.
Thu Hà

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC: NHỮNG DẤU TÍCH VĂN HÓA VẬT CHẤT

MỘT VÀI NÉT VỀ BÁO CHÍ VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA (1865-1945)

TỘC NGƯỜI VÀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI *