Biển đông trong chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước của vương triều Tây Sơn


 Nguyễn Quang Ngọc


Biển của ta, đảo của ta...
  Nước ta có bờ biển dài với nhiều đảo và quần đảo. Suốt trong tiến trình lịch sử đất nước, biển và đảo bao giờ cũng giữ vị trí hết sức trọng yếu trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của cộng đồng. Cùng với quá trình hình thành đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, tổ tiên ta đã đồng thời khai chiếm cả núi rừng, cả đồng bằng và biển cả, triệt để khai thác điều kiện tự nhiên, thiên nhiên phong phú và đa dạng, tạo nên thế mạnh căn bản của cộng đồng ngay từ thuở mới khai sinh. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nhà nước Việt Nam ta từ xưa, dù người đứng đầu vương triều xuất thân từ một dòng họ vạn chài hay từ một vùng sơn trại, thì triều đại nào cũng đều có chiến lược đối với các vùng biển đảo. 
Biển và đảo Việt Nam nằm ở khoảng giao điểm của các luồng đường, luồng hàng từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, hội được nhiều thuận lợi cho giao thương, cho tiếp xúc, hội nhập về kinh tế, về văn hoá, nhất là trong cách mạng thương nghiệp và cách mạng công nghiệp, thời đại mà chủ nghĩa tư bản phương Tây đang tìm đường bành trướng sang phương Đông. Thế nhưng, biển và đảo trong hoàn cảnh đổi thay của thế giới, lại trở thành mối nguy hiểm thường xuyên cho đất nước trước nguy cơ xâm lược và thôn tính của kẻ thù cả ở phương Đông và phương Tây, ở cả phía Nam và phía Bắc. Trong bối cảnh lịch sử ấy, tiến ra biển không chỉ là nhu cầu phát triển của đất nước, mở mang kinh tế, giao lưu văn hoá, mà còn là để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vì sự tồn vong của giống nòi.
Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam dựng nghiệp đã sớm chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho việc chiếm lĩnh các quần đảo giữa biển Đông. Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ  tuyến ngoài. Đây là một phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của nhà nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được.
Được thừa hưởng những cơ sở và kinh nghiệm của người Chăm, của vương quốc Chămpa và đặc biệt của các chúa Nguyễn trước đây, vương triều Tây Sơn, kể từ Thái Đức Nguyễn Nhạc đến Quang Trung Nguyễn Huệ và Cảnh Thịnh Quang Toản sau này, đều đặc biệt quan tâm bảo vệ chủ quyền trên biển và chăm lo xây dựng và phát triển lực lượng thuỷ quân, hải quân. 
Bản đồ bờ biển Việt Nam và các quần đảo HS-TS  năm 1754 
1. Xây dựng và phát triển lực lượng thuỷ quân, hải quân hùng mạnh
 Trong lịch sử phát triển của phong trào nông dân Tây Sơn, ngay từ thời kỳ đầu đã có nhiều lần xuất quân vượt biển từ Qui Nhơn tấn công vào Gia Định làm tan rã lực lượng cát cứ của chúa Nguyễn, tiêu diệt gần 4 vạn quân xâm lược Xiêm. Đến năm 1786, sau khi giải phóng hoàn toàn đất Đàng Trong, Nguyễn Huệ kéo đại quân ra Bắc tiêu diệt chế độ thống trị của họ Trịnh. Riêng đạo quân tiên phong tập kết ở Vị Hoàng trước khi đánh thẳng vào Thăng Long cũng có tới 400 chiến thuyền. Đến cuối năm 1788, sau khi lên ngôi hoàng đế, Quang Trung Nguyễn Huệ tổ chức một cuộc hành quân  thần tốc ra Bắc diệt giặc Thanh.  Phương tiện vận chuyển binh lính, vũ khí, quân lương trong cuộc hành quân thần tốc này cũng chủ yếu là thuyền. Nét độc đáo trong chiến dịch đại phá quân Thanh đầu năm Kỷ Dậu 1789 là quân Tây Sơn đã xây dựng được phòng tuyến thuỷ bộ liên hoàn Tam Điệp - Biện Sơn làm bàn đạp cho ba đạo quân tấn công chính diện trên bộ và hai đạo quân thuỷ vượt biển bao vây sau lưng địch.
Sau khi chiến thắng vẻ vang thù trong, giặc ngoài, trong chủ trương xây dựng quân đội, Quang Trung muốn phát triển một cách tương đối hài hoà các binh chủng bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, pháo binh để phát huy sức mạnh tổng hợp của quân đội. Đặc biệt, Quang Trung tập trung phát triển mạnh lực lượng hải quân và quyết tâm đưa hải quân lên hàng quân chủng. Chiến thuyền của Tây Sơn bao gồm nhiều loại, trong đó loại lớn trọng tải đến 900 tấn, có thể chở được voi chiến hoặc có khi chở được 700 lính và 60 khẩu đại bác.
Trong quá trình xây dựng và phát triển lực lượng thuỷ quân, hải quân đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của đất nước, các vương triều Tây Sơn, đặc biệt là triều Quang Trung và Cảnh Thịnh đều đặc biệt chú ý đến việc khai thác, sử dụng lực lượng Tàu Ô đang có mặt trên Biển Đông. Họ là những người giỏi đi biển hay chuyên hoạt động trên biển hoặc vì trung thành với triều đình nhà Minh, hoặc vì chống đối chính quyền Mãn Thanh mà bị đánh đuổi phải phiêu bạt, nương náu trên vùng biển đảo. Không ít trong số họ đã kết lại thành các băng đảng cướp biển khét tiếng. Triều Tây Sơn đã ban nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này qui thuận. Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ họ “ra vào nơi bể nước, tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm bậy, phần vì những chính sách bạo ngược xua đẩy” và kêu gọi họ sớm đầu hàng. Quang Trung luôn “mở lòng bao dung, tuỳ tài cất dụng” và chiều theo sở nguyện của từng người, thậm chí chấp thuận cho cả “những người có chí lớn, muốn xông pha nơi ngọn sóng cùng hải đảo”. Qui thuận những người Trung Quốc xiêu dạt sống gửi trên mặt biển và sử dụng họ tham gia vào công việc giữ gìn Biển Đông là một chính sách quan trọng và có hiệu quả cao của vương triều Tây Sơn. 
Sách Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (1794-1857) cho biết có nhiều người Trung Quốc làm nội ứng cho An Nam, được chúa An Nam Quang Toản phong cho làm Tổng binh hoặc Đông Hải vương: “Triều đình đang phải chú ý việc Tây chinh, chưa trù tính được việc ngoài hải đảo. Do đó thế giặc lại càng ác dữ. Năm đầu niên hiệu Gia Khánh (1796), tướng ở Phúc Châu là Khôi Luận, Tổng đốc Lưỡng Quảng là Cát Khánh đều tâu rằng: Bắt được bọn Trần Thiên Bảo là giặc biển Tàu Ô, chúng có sắc phong cho làm Tổng binh và có ấn ngọc, sắc ghi An Nam quốc vương Nguyễn Quang Toản. Tra hỏi thì họ bảo: Việc đó quốc vương không biết. Năm thứ 4 (1799), vua Nguyễn cũ ở Nông Nại An Nam (chỉ Nguyễn Ánh) cùng vua Nguyễn mới (chỉ Quang Toản) đánh nhau, bắt được bọn giặc là Mạc Phù Quan, đều là dân gian của nước ta (chỉ nhà Thanh Trung Quốc) nhận sắc của của An Nam phong cho làm Tổng binh và tước Đông Hải vương” Nguỵ Nguyên: Thánh vũ ký, Trung Hoa thư cục khắc in 1846, quyển 8, tr 25b (đoạn chép về  biển Đông Nam thời Gia Khánh) . Cũng trong cuốn sách này Ngụy Nguyên mô tả “Di thuyền” (thuyền An Nam khi đó, tức là thuyền của Tây Sơn): “Các thuyền Di rất cao to, trang bị nhiều súng, gặp mà đánh chưa chắc thắng được. Vì có bọn trộm địa phương rất xảo quyệt làm nội ứng, mỗi lần tạm trốn rồi chúng tụ tập ngay” Nguỵ Nguyên: Thánh vũ ký, Sđd, tr 25b . Đến khi nhà Tây Sơn thất bại, quân Nguyễn thu được nhiều ấn sách của nhà Thanh phong cho  quân Tây Sơn, bắt được nhiều tướng thuỷ quân vốn là người Trung Quốc đi theo Tây Sơn gọi là gặc biển Tề Ngôi như Mạc Quang Phù, Lương Văn Canh, Phàn Văn Tài. Những người này theo như sách Đại Nam thực lục là bọn đầu sỏ gặc biển, đã được Tây Sơn thu nạp trao cho chức thống binh. Họ từng làm bá chủ trên mặt biển gây cho cả nhà Thanh và quân Nguyễn muôn vàn khó khăn và tổn thất. Vì thế khi bắt được họ, chúa Nguyễn đã giao cho Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Hoàng Ngọc Uẩn giải họ về Hổ Môn nộp cho Tổng đốc Quảng Đông. Cả ba người này đều đã bị vua Thanh ra lệnh tử hình  Đại Nam thực lục, (T I, Bản dịch Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 387, 495-496. )
Ghi chép này là một bằng chứng về sự thành công đáng kể của quân Tây Sơn trong việc sử dụng lực lượng Tàu Ô tham gia giữ gìn biển đảo và xác nhận hải quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông, giao thương trên Biển và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo kể cả khu vực ven bờ và giữa biển Đông.
Nguyễn Ánh hơn ai hết, hiểu rất rõ thế mạnh của thuỷ quân, hải quân Tây Sơn nên từ đầu những năm 1790 đã mời và đặc biệt trọng dụng anh em nhà Dayot (Jean Marie Dayot và Felix Dayot) trong chủ trương xây dựng lực lượng hải quân, đóng mới tầu chiến hiện đại và điều tra thám sát, vẽ bản đồ các hải cảng, bờ biển và toàn bộ vùng biển, đảo một cách khoa học, có hệ thống với chất lượng chuyên môn cao. Anh em  nhà Dayot đã góp phần rất quan trọng giúp cho Nguyễn Ánh tạo ra năng lực trội vượt của hải quân, thuỷ quân Nguyễn, làm cơ sở đánh bại lực lượng hải quân, thuỷ quân Tây Sơn vốn rất mạnh nhưng lại sớm bị rơi vào tình trạng tàn tạ và tan tác của vương triều giai đoạn cuối mùa. Sự thất bại của hải quân Tây Sơn trước hải quân Nguyễn Ánh không hề phủ định một thời hoàng kim mạnh mẽ và oai hùng của nó, nhất là vào những năm dưới thời Quang Trung và đầu thời Quang Toản.
Âm Linh tự- nơi tổ chức Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa
2. Bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển đảo giữa Biển Đông
 Thành tựu vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn là đã bước đầu thống nhất được đất nước sau nhiều thế kỷ bị chia cắt thành hai khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài. Đây là lần đầu tiên sự thống nhất được thực hiện trên phạm vi rộng lớn tương đương với nước Việt Nam ngày nay. Đây cũng là lần đầu tiên toàn bộ đường bờ biển chạy dài từ vịnh Bắc bộ đến vịnh Thái Lan với hàng nghìn hòn đảo ven bờ cùng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngoài biển Đông đã thuộc về quyền kiểm soát nhà nước Việt Nam thống nhất. 
Giống như các chúa Nguyễn trước đây nhà Tây Sơn vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa biển Đông. Đội Hoàng Sa thời kỳ chúa Nguyễn được ấn định số lượng 70 suất và hoàn toàn chỉ chọn lấy người xã An Vĩnh thuộc Quảng Ngãi. Hàng năm, cứ vào tháng 2, đội xuất hành bằng 5 chiếc thuyền câu ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hoá vật của tàu, tìm kiếm vật và ở lại đấy đến tháng 8 mới trở về báo cáo và nộp hoá vật cho triều đình Phú Xuân. Có lẽ vì đội Hoàng Sa không quản lý hết được vùng biển đảo rộng lớn nên chúa Nguyễn đã quyết định đặt thêm đội Bắc Hải. Đội này do đội Hoàng Sa kiêm quản và cũng có nhiệm vụ giống như đội Hoàng Sa nhưng chỉ hoạt động ở khu vực phía Nam, từ Bắc Hải, Côn Lôn cho đến các đảo ở vùng Hà Tiên. Đội Bắc Hải tuyển người ở thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương thuộc Bình Thuận và không cố định số suất như đội Hoàng Sa (Lê Quý Đôn: Toàn tập, Tập I (Phủ Biên tạp lục), Bản dịch Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977 tr 119, 120.).Tư liệu trên chủ yếu được khai thác và tập hợp từ sách Phủ Biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn. Lê Quý Đôn viết Phủ Biên tạp lục vừa bằng nguồn tư liệu lưu trữ của chúa Nguyễn, vừa bằng nguồn tư liệu mắt thấy, tai nghe. Nhiều nội dung hoạt động của đội Hoàng Sa được Lê Quý Đôn phản ánh là những câu chuyện mà ông sưu tập được trong 6 tháng làm Hiệp trấn tham tán quân cơ ở Thuận Hoá năm 1776. Lúc này cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã bùng nổ được 5 năm đang phát triển rất mạnh mà quân Trịnh sau gần 2 năm tiến vào Nam đang gặp nhiều khó khăn, Nguyễn Nhạc chủ trương tạm hoà với quân Trịnh để tập trung lực lượng đánh đổ chế độ chúa Nguyễn trước. Chủ trương của Nguyễn Nhạc đã được Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc chấp thuận dưới danh nghĩa “hàng phục”, trao cho chức hàm Tây Sơn trại trưởng hiệu Tráng tiết tướng quân và cử làm tiền khu của quân Trịnh để đánh quân Nguyễn ở Gia Định. Ngay sau đó quân Trịnh rút về Phú Xuân. Toàn bộ khu vực từ Quảng Nam trở vào Nam trên căn bản đã thuộc quyền kiểm soát của quân Tây Sơn.
Tương tự như Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Quýnh là người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là xã Song Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tỹnh), đỗ Tiến sĩ năm 1772, làm quan nhà Trịnh và năm 1775 cũng được điều vào Thuận Hoá đánh chúa Nguyễn. Từ năm 1783 cho đến năm 1785 ông được thăng chức Đốc thị Thuận Quảng và bị chết trận tại đây vào năm 1785. Trong khoảng thời gian hơn 10 năm ở Thuận Quảng, ông đã tập hợp các nguồn tư liệu và hoàn thành cuốn Quảng Thuận đạo sử tập. Trong sách có bản đồ tuy không trực tiếp vẽ quần đảo Hoàng Sa nhưng phần chú về Cù Lao Ré lại cho hay trên hòn đảo này “có dân xã An Vãng (đúng ra là phường An Vĩnh), sản dầu phụng, dệt vải, làm riêng đội Hoàng Sa Nhị, hàng năm cử đi 8 thuyền ra biển nhặt của quý về nộp tại Phú Xuân” Nguyễn Huy Quýnh: Quảng Thuận đạo sử tập, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv.1375. . Những hình ảnh thực tế của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải mà Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Quýnh phản ánh cũng chính là hình ảnh của các lực lượng khai thác và bảo vệ Biển Động trong thời Tây Sơn và của vương triều Tây Sơn. Phong trào Tây Sơn ngay sau khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh chóng và đến cuối năm 1773 đã giải phóng được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam ở phía Bắc cho đến tận Bình Thuận ở phía Nam. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải, từ rất sớm, đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn. Nguồn tư liệu thư tịch đương đại khai thác được ở Cù Lao Ré (huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) là minh chứng sinh động cho thực tế này.


Lễ Hội thề Thế lính Hoàng Sa, được tổ chức để đưa tiễn những người lính trong Đội Hoàng Sa trước khi họ lên


 đường làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa.
Vào ngày 15 tháng Giêng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775) Đây cũng là năm mà Nguyễn Huy Quýnh vào Thuận Hoá và một năm sau đó Lê Quý Đôn cũng được cử vào đây làm Hiệp trấn tham tán quân cơ và viết Phủ Biên tạp lục., Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn), xã An Vĩnh về kho Nội thuộc Hà Bạc huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi là Hà Liễu làm đơn trình bày rõ: “Nguyên xã chúng tôi xưa đã có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương. Vào năm Tân Mùi (1631), Đốc chiến là Võ Hệ đã đệ đơn tâu xin, được cho lập hai đội nữa là đội Đại Mạo Hải Ba và Quế Hương Hàm với nhân số 30 người. Hàng năm thường nạp thuế bằng 10 (thạch) đồi mồi, hải ba, 5 lượng quế hương. Đến năm Quý Mão (1723), vâng lệnh truyền rằng: Dân trong thuộc Hà Bạc ai có bằng son, đơn son thì nạp thuế biệt nạp và mang theo sổ sách. Thế là dân số phải bổ sung, dân binh cũng bắt đầu. Đến đó quân nhân xã chúng tôi còn 23 người, phải bổ sung người và chi tiền đi đường như trước, nên cai đội mới đốc suất được công việc từ đó đến nay. Bây giờ (năm 1775), chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng, thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu xin dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm nhặt báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp. Xin dốc lòng làm theo sở nguyện chẳng dám kêu ca. Chúng tôi cúi đầu mong ơn”. Từ đơn đã được chính quyền Tây Sơn (Thái Đức – Nguyễn Nhạc) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Tờ đơn này là tài liệu chính thức, xác thực khẳng định các đội Hoàng Sa và Quế Hương chí ít đã xuất hiện từ cuối những năm 20 hay đầu những năm 30 của thế kỷ XVII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên) và liên tục hoạt động trong suốt XVII cho đến năm 1775 khi Cai hợp Hà Liễu đưa lá đơn này, nó vẫn tiếp tục hoạt động. Đặc biệt, lá đơn còn cho biết cụ thể hơn về tổ chức, vai trò, chức năng và hoạt động bảo vệ chủ quyền, hoạt động khai thác báu vật của các đội Hoàng Sa và Quế Hương dưới danh nghĩa chính thức thực thi các nhiệm vụ được vương triều Tây Sơn (Thái Đức) giao phó và quản lý.
Lễ hội kỷ niệm những người lính Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ thực thi chủ quyền biển đảo
Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được bản Chỉ thị ngày 14 tháng 2 năm thứ 9 niên hiệu Thái Đức (1786) của Thái phó Tổng lý Quản bình dân chư vụ Thượng tướng công “Sai Hội Đức hầu, Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thuỷ quân, cưỡi 4 chiếc thuyền câu vượt biển thẳng đến Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, cá quý ... đều chở về kinh, tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý, hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội”. Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê “Chuẩn cho”. Văn bản chép rõ: “Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)” và “niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801)”. Tờ đơn của phường An Vĩnh trên đảo Cù Lao Ré xin được tách ra khỏi xã An Vĩnh trong đất liền đề ngày 11 tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804) cho biết dưới thời Tây Sơn cũng như thời các chúa Nguyễn trước đó, việc tổ chức các đội Hoàng Sa Đại Mạo là công việc chung của cả phường An Vĩnh lẫn xã An Vĩnh. Đến đây phường An Vĩnh mới được chính thức tách ra khỏi xã An Vĩnh trong đất liền, được miễn các nghĩa vụ đắp đê hay đền bù phần sưu thuế thiếu hụt do dân xã An Vĩnh phiêu tán không đảm đương hết và được phép tuyển lập các đội khai thác và bảo vệ các vùng biển đảo không phụ thuộc vào xã An Vĩnh nữa.Trong một chuyến đi quy mô lớn của phái bộ của Bá tước Macartney từ Anh sang Trung Quốc có ghé qua khu vực Đà Nẵng vào tháng 6 năm 1793 (lúc đó đang dưới triều vua Quang Toản), thư ký phái bộ là Staunton khi về nước có viết cuốn du ký An authentic account of an Embassy from the King of Great Britain to the Emperor of China xuất bản ở London năm 1797, trong đó có tấm bản đồ về Biển Đông. Đây là tấm bản đồ được vẽ chuẩn xác hơn các bản đồ trước đó. Cụm đảo Hoàng Sa được ghi tên là Paracels, có vị trí ngắn và dịch cao hơn về phía Bắc, quá mũi Varella và tách riêng với nhóm đảo Maccelesfield. Đặc biệt phái viên của phái bộ là J. Barrow lại tập trung vào chuyến viếng thăm xứ Đàng Trong, kể lại tỷ mỉ trong cuốn A voyage to Cochinchina, in the years 1792-1793 (Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793): “Các tàu thuyền xứ Đàng Trong dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa), thuộc nhiều kiểu dáng khác nhau…”. Như thế những thông tin về quần đảo Hoàng Sa của phái bộ Anh Macartney năm 1793 đã chứng tỏ những mối liên quan mật thiết và chủ quyền lãnh thổ quần đảo thuộc về chính quyền Đàng Trong lúc đó (tức là chính quyền Quang Toản), cũng như sự có mặt thường xuyên của tầu thuyền Tây Sơn tại vùng quần đảo này.


Các nguồn tư liệu ở Trung ương, địa phương, ở trong nước và ngoài nước tương đều thống nhất góp phần xác nhận một thực tế là vương triều Tây Sơn tiếp nối thành tựu của chúa Nguyễn trước đây, triển khai các hoạt động thực thi chủ quyền trên các quần đảo ngoài Biển Đông không chỉ dừng lại ở các chủ trương của nhà nước, mà trong thực tế đã được chính quyền và nhân dân địa phương thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh với các hình thức phong phú, đa dạng. Chiến thắng triều Tây Sơn, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách tiến ra biển, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị ... đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như vãng thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các hoá vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết... Tất cả các hoạt động này đều đặt dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của nhà nước, thông qua bộ Công. Những đóng góp quan trọng của triều Nguyễn thế kỷ XIX vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông là sự tiếp nối chính sách của chúa Nguyễn cũng như của vương triều Tây Sơn.  Triều Tây Sơn chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn, lại trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp, nhưng đã sớm triển khai và thực thi một chiến lược bảo vệ và khai thác biển. Đây là một trong những trang sử thật ấn tượng, góp phần làm nên tầm vóc của phong trào và vương triều Tây Sơn hồi cuối thế kỷ XVIII.

Bài đã đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự.

Nhận xét

  1. Sao ảnh không xem được thế?

    Trả lờiXóa
  2. Nói anh Ngọc cho đăng ảnh cái bản đồ trong tập du ký của Stauton đi.

    Trả lờiXóa

Đăng nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC: NHỮNG DẤU TÍCH VĂN HÓA VẬT CHẤT

MỘT VÀI NÉT VỀ BÁO CHÍ VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA (1865-1945)

TỘC NGƯỜI VÀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI *