Ấn phẩm và quyền lực: Các cuộc thảo luận ở Việt Nam xung quanh vấn đề vị trí của người phụ nữ trong xã hội, 1918-1934 (4)

 Shawn Mc Hale
Đặng Thị Vân Chi dịch từ:  Taylor KW  and Jonh. K.Whitmore(1995),  Editor. Essays in to Vietnamse pastsCornel University NewYork.
                                                                        
        4. Các trang báo của Phụ nữ Tân Văn 1929-1934
 Phụ nữ tân văn, một trong những báo thú vị nhất trong lịch sử xuất bản của Việt Nam, tiếp tục và bổ sung đầy đủ hơn mối quan tâm của  Nữ giới chung về quyền bình đẳng của phụ nữ. Tuy nhiên đã qua rồi những ngày mà các tác giả viết các bài báo về những chủ đề trong khuôn khổ hợp tác Việt Pháp. Với biểu hiện của một nhà hoạt động thay đổi hướng các cuộc thảo luận về phụ nữ, các nhà báo chuyên mục của Phụ nữ Tân văn chuyển từ cuộc thảo luận về sự bình đẳng giữa hai phaí sang các cuộc thảo luận triệt để hơn về sự giải phóng phụ nữ. Các nhà báo chuyên mục của Phụ nữ tân văn có cách nhìn thờ ơ hơn so với những người đi trước về các mục đích chính trị của Pháp, nghi ngờ hơn các đức tin vào Khổng giáo và Phật giáo, nhưng ít e ngại hơn đối với việc noi theo các tư tưởng và thói quen phương Tây. Những thái độ này thể hiện trong các bài xã luận và bài báo đầy khí thế làm cho Phụ nữ tân văn trở thành một trong những tờ báo tiếng Việt được nhiều người đọc nhất.(46)
 Mặc dù tên của nó cho thấy nó phục vụ cho đối tượng độc giả là phụ nữ, Phụ nữ tân văn trong thực tế hầu như không thể phân loại. Nói chung, tờ báo cố gắng đến được với  đông đảo bạn đọc. Nó được xuất bản để phục vụ những người phụ nữ tư sản mới- một chút về làm đẹp,  nhà cửa, việc nướng bánh và chăm sóc con cái. Nó in ra những bài xã luận đơn giản nhưng sống động. Nó là một diễn đàn của những bài báo có khuynh hướng khiêu khích về nhiều loại chủ đề và từ nhiều quan điểm khác nhau. Các tác giả nổi tiếng viết nhiều mục báo như thế này. Thêm nữa Phụ nữ tân văn đã đăng những bài báo có thể thu hút một vài người Việt Nam như những bài tiểu luận về triết học của Trôtskyist Phan Văn Hùm. Vào năm 1934, tờ báo đã thay đổi từ một tờ báo có nhiều ý kiến trở thành một tờ báo đấu tranh với chính mình: trong năm đó khi những người có đầu óc cấp tiến (cực đoan) đảm nhiệm trang xã luận của tờ báo, những thông điệp mạnh mẽ của họ về cuộc đấu tranh giai cấp bị phản đối ngầm bởi các bài báo về nấu nướng, chăm sóc trẻ em và các bản quảng cáo cho sữa trẻ em Nestle có mặt khắp nơi.
Tôi muốn bắt đầu kiểm định kĩ lưỡng hơn các bài viết trên báo Phụ nữ tân văn bằng việc bàn chi tiết về một cuộc thảo luận xung quanh sự giải phóng phụ nữ giữa Phan Khôi(47) và Nguyễn Thị Chính (48). Việc phân tích cuộc trao đổi quan điểm của họ sẽ dẫn dắt cho cuộc thảo luận sau này. Cuộc thảo luận của họ không tóm lược tất cả các cuộc thảo luận xuất hiện trên các trang báo- mà nó đề cập đến một số trong các vấn đề các tác giả của thời kì đó phải đối mặt, cho thấy họ dò dẫm tìm câu trả lời cho những câu hỏi của họ như thế nào và dàn xếp cho cuộc thảo luận sau đó về các vấn đề riêng hơn ( như là tình yêu và khiêu vũ), những vấn đề gây cảm hứng cho các tác giả viết về sự giải phóng phụ nữ.
Phan Khôi đưa ra lời tuyên bố đơn giản là: vấn đề giải phóng phụ nữ gắn liền với nhân sinh quan của con người, đến quan điểm về thế giới của họ và nếu chúng ta thay đổi quan niệm này, chúng ta có thể có sự giải phóng phụ nữ. (49)Liên hệ đến một cuộc tranh luận trước đó, ông nói rằng ông đồng ý với Nguyễn Thị Chính khi bà nói rằng các cuộc điều tra phải đi sâu vào gốc rễ của vấn đề về phụ nữ trong sự tiến hoá của xã hội và trong sự thiết lập xã hội trên cơ sở kinh tế. Nhưng Phan Khôi tranh luận rằng  hai cơ sở này chưa đủ, phải thêm một cơ sở nữa, đó là quan niệm của con người về cuộc sống. Trong phần còn lại của bài luận của ông, càng đọc càng thấy rõ là Phan Khôi gắn cho quan niệm này 1 tầm quan trọng lớn và các cơ sở thì có tầm quan trọng nhỏ hơn nhiều.
 Không có cơ sở nào mà Phan Khôi phát biểu một cách không mơ hồ  về ý nghĩa mà ông muốn nói qua cụm từ nhân sinh quan. ở một luận điểm, ông tranh luận rằng: “ chúng ta biết rằng một nhân sinh quan được gắn liền với nhân cách của cá nhân và mức độ văn hoá của xã hội”(50). Dù phụ nữ ở phương Đông hay phương Tây thì quan điểm về cuộc sống của họ cũng khác nam giới “ nam giới có vị trí xã hội của kẻ chinh phục, trong khi phụ nữ là người bị chinh phục, và do đó nam, nữ giới có quan điểm về thế giới khác nhau(51). vì lí do này, các phong trào của phụ nữ trên thế giới đã cố gắng thúc đẩy quyền bình đẳng và do đó là các quan niệm giống nhau về thế giới.
 Nguyễn Thị Chính đã chỉ trích Phan Khôi một cách sắc sảo. Bà đưa ra lời bình luận mang đậm tính Mác xít “ Nói một cách chủ quan , nhân sinh quan tạo nên một phần của cơ sở thượng tầng. Hay nói rõ hơn, nó nằm ở trên đỉnh và hạ tầng cơ sở là nền kinh tế và sự tiến hoá khách quan của xã hội”(52)
 Nguyễn Thị Chính tiếp tục giải thích rằng các quan điểm về thế giới thay đổi như những thay đổi trong mô hình sản xuất đã từng diễn ra. Giờ đây chúng ta đang trong thời kì của chủ nghĩa tư bản độc quyền, bà nói, các phương tiện riêng sẽ không giải quyết các vấn đề về sinh kế. “ Phụ nữ sẽ được giải phóng do sự tiến hoá khách quan của lịch sử và của nền kinh tế.” (53)
Cuộc thảo luạn này đã  xác định rõ ràng nhiều đường hướng rất khác nhau đối với vấn đề của phụ nữ. Trong bài luận này và các bài khác, Phan Khôi đưa ra nền tảng là việc học Khổng giáo và Tây phương, cố gắng tìm kiếm giải pháp cho vấn đề nan giải về việc giải phóng phụ nữ, trong phạm vi các tư tưởng và việc vun đắp mang tính cá nhân. Ông giả thiết rằng giải pháp cho các vấn đề mà phụ nữ Việt Nam phải đối mặt nằm ở chỗ kiểm tra tư tưởng của Rouseau, Liang Ch’i Ch’ao, các tấm gương của thời  kì khôi phục ( chế độ quân chủ) Meiji, và công việc của phong trào Thanh niên mới ( của Trung Quốc) (53). Ngược lại, Nguyễn Thị Chính nghĩ rằng việc giải phóng phụ nữ ít quan trọng hơn 1 cách khách quan so với quy luật tiến hoá của lịch  sử và sự thay đổi kinh tế. Cả hai tác giả đều không tập trung các bài phân tích của họ vào người phụ nữ Việt Nam và đời sống thường nhật của người Việt Nam. Cả hai tác giả đều không có ý kiến rõ ràng về việc phụ nữ làm thế nào có thể là những tác nhân của sự thay đổi xã hội của chính họ. Làm thế nào phụ nữ có thể thay đổi những quan điểm về thế giới của họ? Phụ nữ nên đóng góp cho cuộc tiến hoá khách quan của xã hội và nền kinh tế như thế nào? Những câu hỏi này vẫn chưa được trả lời.
Cuộc tranh luận của Phan Khôi và Nguyễn Thị Chính cho chúng ta 1 bức tranh rõ nét về tầm nhìn, về thế giới tri thức của họ. Dần dà, người Việt Nam thuộc tầng lớp thượng lưu ngày càng có cái nhìn mang tính phê phán quyết liệt về quan điểm về thế giới của họ và áp dụng ngày càng nhiều khái niệm Tây phương để phân tích xã hội. Họ thường xuyên sử dụng các khái niệm như “ giai cấp” ‘ chính trị” và “quyền bình đẳng”, dù không phải lúc nào cũng theo cách mà người phương Tây đã dùng chúng. (55) Tuy nhiên, không phaỉ luôn luôn thấy rõ được các tác giả hiểu rõ về xã hội quanh họ như thế nào.
Cuộc trao đổi giữa Phan Khôi và Nguyễn Thị Chính làm nền cho nhiều cuộc thảo luận đương thời về “ cô gái mới” và gia đình- hai chủ đề rất được phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ quan tâm. Phan Khôi đã xem xét cuộc giải phóng phụ nữ đương thời trong mối quan hệ với các di sản Khổng giáo. Các bài viết của ông thường là các bài bình luận về việc làm thế nào thách thức được di sản như thế. Ngược lại Nguyễn Thị Chính rất ít quan tâm đến quá khứ và quay sang các khái niệm hấp thu từ phương Tây để định nghĩa quan điểm của bà. Dù có những mâu thuẫn sâu sắc, cả bà Chính và Phan Khôi đều cố gắng tìm ra câu trả lơì cho vấn đề giải phóng phụ nữ bằng việc viện dẫn các thuyết siêu việt.
Các cuộc xung đột thực tế nảy sinh từ  “cô gái mới” rơi vào khe hở của các đường hướng đối lập- và có thể là không hoà hợp với nhau. Nhưng vấn đề “cô gái mới” cũng đưa ra một kiểu thử thách khác: trong khi bà Chính và Phan Khôi tranh luận về những ý kiến, “ cô gái mới” khẳng định một lối sống đe doạ đến sự tự nhận thức của phụ nữ tầng lớp thượng lưu qua các hành động mới.
Trong phần còn lại của bài luận chúng tôi sẽ kiểm tra một số điều không rõ ràng mà các tác giả nam và nữ đưa ra xung quanh chủ đề này, một sự không rành mạch mà thường nằm ở đâu đó giữa bài phân tích mang tính duy tâm cao của Phan Khôi và đường hướng luôn mang tính duy vật của Nguyễn Thị Chính.
Vậy ai là “ cô gái mới”? Độc giả của Phụ nữ tân văn hỏi các chủ bút một cách dứt khoát: “Cô gái mới” có cần vươn lên không? có phải cô ấy đã đem đến một hình mẫu về sự giải phóng phụ nữ không? Cô gây ấn tượng cho độc giả như là một bức tranh biếm hoạ hơn là một con người thực. Cô hiện đại, theo chủ nghĩa cá nhân, có thể yêu dễ dàng, thích rèn luyện thể chất, chơi ten nit, bóng bàn, cố gắng tránh né các trách nhiệm gia đình ( theo Khổng tgiáo), thúc đẩy quyền bìnhđẳng, tin vào quyền bầu cử, đọc những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, khiêu vũ với bạn trai, lái xe hơi, mặc đồ tắm khi ra biển, uống đồ uống có cồn trong quán cà phê, mặc quần áo loè loẹt và đôi khi tự tử.(56) Những phụ nữ như vậy thách thức cách hiểu  theo Khổng giáo về vị trí của họ trong xã hội bằng cách học theo lối sống Pháp hoặc phát triển những tập quán mới của Việt Nam ( ví dụ : mặc áo dài)
Quan nệm về “cô gái mới” gây ra nhiều tranh cãi trên các trang báo Phụ nữ tân văn và các tờ báo khác của Việt Nam. Mặt khác nhiều nam và nữ phóng viên ủng hộ các kiểu quần áo, đầu tóc làm tôn vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Ví dụ, đầu những năm 1930, áo dài được sáng chế và được mặc lần đầu tiên. Một nhà bình luận, viết trong báo An Nam mới đầu năm 1934 đã bình luận một cách hỗn xược về việc chiếc áo dài đã phô ra “ đôi gò nhỏ” mà trên đó có gắn hạt kim cương như thế nào.(57)  Thực ra rất nhiều tác giả lưu ý về sự phô trương để ám chỉ hình ảnh mang tính thẩm mỹ gợi cảm của thân hình người phụ nữ, một sự phô trương ủng hộ việc người phụ nữ khoe đặc điểm giới tính của họ. (58) “ Cô gái mới” không chỉ được định nghĩa bằng các thuật ngữ về giới tính mà những thái quá về tính dục / giới tính của một số phụ nữ trẻ này đã gây phiền toái cho nhiều người Việt Nam thuộc tầng lớp thượng lưu.
Theo thời gian, các chủ bút và tác giả đổi hướng tiếp cận với các tập tính phụ nữ đang ngày càng phát triển. Cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, các bài báo của Phụ nữ tân văn khuyến khích phụ nữ chơi thể thao, các môn như ten nít hay bóng đá, ăn mặc đẹp và chú ý đến sắc đẹp của họ. Nhưng những người phụ nữ mới xuất hiện trong những năm 1930 đã thách thức sự đáng tôn trọng này của giai cấp tư sản và đưa cái mới lên đỉnh điểm. Những phụ nữ ở tờ Phụ nữ tân văn rõ ràng là bị quấy rầy. Trong một bài xã luận, họ chỉ ra rằng chỉ một số ít phụ nữ hiện đại sống những cuộc sống phóng đãng như vậy. (Ví dụ: đến bãi biển và mặc đồ tắm, đến các sàn nhảy) và rằng dù sao thì những phụ nữ này là thuộc dòng dõi tư bản và những người thuộc tầng lớp thượng lưu. Hầu hết phụ nữ An Nam đều không có thời gian cũng như điều kiện để trang điểm và học nhảy. Thực ra phong trào theo mới này chẳng mấy dính dáng đến đa số phụ nữ. Các chủ bút không thể chấp nhận những “ đồi phong bại tục” như vậy.(59)
Các chủ bút của tờ Phụ nữ tân văn nhanh chóng hướng  ra khỏi bất cứ sự hiểu lầm nào có thể có về cái mà họ muốn nói qua việc tấn công vào những “đồi phong bại tục”. Không phải tất cả mọi việc mà những phụ nữ hiện đại đó làm đều phải bị lên án, và không phải tất cả những mối quan tâm của phụ nữ đó là phi lí. Ví dụ: phong trào “theo mới” nói chung và sự giải phóng phụ nữ nói riêng đã nhấn mạnh việc truyền thống thường ràng buộc người phụ nữ như thế nào. Nếu những phụ nữ hiện đại này đã phân tích một số tệ nạn của xã hội một cách đúng đắn thì họ sai lầm trong khi đưa ra bất cứ quyết định nào, các chủ bút báo lập luận như vậy
Hai ví dụ minh hoạ cho điểm này là các cuộc thảo luận về tình yêu và khiêu vũ. Tình yêu là một chủ đề được bàn đến nhiều và thực tế là:
Phụ nữ bàn chuyện tình yêu là dấu hiệu của sự tiến bộ. Những cuộc thảo luận này cho thấy phụ nữ có những cá tính riêng, rằng họ có quyền quan tâm đến bản ngã và hạnh phúc của riêng mình” (60)
Thật không may, nhiều phụ nữ thuộc giai cấp tiểu tư sản đã có thái độ lãng mạn thái quá đối với tình yêu, các nhà biên tập đã kết luận như vậy. Giống như văn học lãng mạn  kiểu phương Tây, được truyền “ một thứ thần bí chủ nghĩa lạ lùng” nó đã có ảnh hưởng xấu đối với phụ nữ. Một số phụ nữ cố sức kiếm tìm tình yêu bí ẩn như thế này, “ không thể tìm thấy nó, chán đời, chán bản thân họ. Đôi khi họ đi quá xa như đi tu hoặc  tự tử”. (61) Phụ nữ trẻ đơn giản là phải nhận ra rằng tình yêu lãng mạn được mô tả trong những quyển sách như vậy có thể là một ảo ảnh. Trong một bài báo sau đó, các nhà biên tập niêm phong một số quyển sách như là Truyện KiềuTố Tâm như một loại độc dược .(62)
Nếu tình yêu lãng mạn là một ảo ảnh thì việc khiêu vũ với đàn ông là một hành động nguy hiểm. Các chủ bút chỉ ra rằng việc khiêu vũ là một phong tục cổ xưa, không chỉ có ở Hi lạp cổ đại mà cả trên toàn thế giới( trong đó có Campuchia và Việt Nam). Nó thường có ý nghĩa tín ngưỡng. Tuy nhiên người châu á không thể chấp nhận việc nam và nữ nhảy với nhau trong khi ôm nhau, kiểu nhảy này ở Việt Nam là một loại hình mới, khiêu dâm của một bộ phận nhỏ phụ nữ và nam giới” và do đó không nên bỏ qua.
            Những cuộc thảo luận về tình yêu và việc khiêu vũ cho thấy các tác giả của Phụ nữ tân văn cảm thấy bị đe doạ bởi phong trào “ theo mới” như thế nào. Những bài báo sau đó, với cái nhìn bao quát hơn về tình trạng này, chỉ ra rằng phong trào này có ý nghĩa hạn chế. Nhưng các tác giả chưa bao giờ đi đến sự nhất trí về vấn đề này. để nhấn mạnh sự phong phú của các cuộc thảo luận về xã hội thời kì này, tôi muốn khép lại phần này bằng việc trình bày hai cách tiếp cận khá khác nhau về vấn đề giải phóng phụ nữ: Cách tiếp cận của các chủ bút của tờ Phụ nữ tân văn và cách tiếp cận của Phan Văn Hùm. Khi phân tích những lối tiếp cận này, việc ai đó có thể tranh luận rằng cuộc thảo luận về các vấn đề của phụ nữ đã phát triển dần từ sự quan tâm rắc rối về quyền của phương Tây trong thời kì “ hợp tác Việt Pháp” đến việc hấp thu có phê phán hơn những ý kiến của phương Tây trong những năm 1930 là có thể hiểu được. Chúng ta có thể ủng hộ cho sự tranh luận này bằng cách chỉ ra tính phức tạp ngày càng tăng của lời phân tích về xã hội, có dùng những khái niệm như “giai cấp”, “ xã hội”,  “hệ tư tưởng” và “ cách mạng”. Hướng tiếp cận đó không ngang bằng  với tính phong phú, không đoán trước được, hay bản chất chắp vá trong tư duy của người Việt Nam về thời kì này. Nó cũng không thấy được sự chuyển biến từ những năm 1910 đến những năm 1930 trong điều kiện đó là quá trình nhận thức gián đoạn.
            Theo các chủ bút của Phụ nữ tân văn, giải pháp cho vấn đề của phụ nữ không nằm ở chỗ sao chép phong tục phương Tây hay đánh giá cao cái mới về phương diện mới mẻ của nó. Sự giải phóng phụ nữ có thể xảy ra khi mọi người tấn công các nền tảng kinh tế của tính không bình đẳng của phụ nữ.
                            “ Các khái niệm về giai cấp đã tạo ra hai phe thuộc tầng lớp tư bản và tầng lớp lao động, và kết quả này vẫn ảnh hưởng đến phong trào của phụ nữ. ảnh hưởng này đang ngày càng dễ nhận ra, khi các lợi ích ( của hai bên) đang ngày càng cách xa nhau. Đối mặt với xung đột lợi ích này, phụ nữ tầng lớp trung lưu và bình dân đang tiến theo hai con đường khác nhau. (Nhưng) Nếu họ gặp các tình huống (thuận lợi), họ sẽ có thể nắm tay nhau trong cuộc đấu tranh- như trong các vấn đề về nghề nghiệp phụ nữ và nam nữ bình quyền”.(64)
           Lời trích dẫn trên đây cộng với lời bàn trước đó trong cuộc thảo luận giữa Phan Khôi và Nguyễn Thị Chính, cho thấy rõ rằng các tư tưởng Mác xít đã thấm sâu vào bài nói chuyện về sự giải phóng phụ nữ.  Sẽ là thẳng thắn khi kết luận rằng những lời phát biểu đó là bằng chứng của sự phát triển trong suy nghĩ của người Việt Nam về vị trí của người phụ nữ trong xã hội từ năm 1918-1934. Ví dụ, một số trí thức đã bỏ qua vấn đề vị trí của phụ nữ trong xã hội bằng cách đưa ra những giải pháp mang tính toàn cầu cho sự không bình dẳng trong xã hội. Do đó, đối mặt với một nhận thức của một số trí thức ( như Phan Khôi) rằng : Gia đình là nuồn gốc của nhiều vấn đề xã hội, Trôtkit Phan Văn Hùm đưa ra lập luận rằng:
                                   “Nếu chúng ta xem xét ( vấn đề này) một cách cẩn thận, chúng ta thấy rõ ràng rằng nếu không có gia đình thì sẽ không có trở ngại nào cho sự tiến hoá của xã hội. Ngược lại, nó sẽ đưa xã hội theo một con đường tiến hoá hoàn toàn tốt đẹp.
          Nếu không có gia đình, mọi người có thể sống với nhau trong tình yêu thương, không giai cấp, không có sự lợi dụng và không tranh chấp với nhau” (65)
 Phan Văn Hùm tranh luận rằng lập trường của ông rõ ràng là lấy cảm hứng từ chủ nghĩa Mac xít- không phải là không tưởng. Nhưng tôi thấy khó  có thể hiểu được ông ta mong đợi người Việt Nam đi từ một xã hội có các gia đình tới một xã hội không có mối ràng buộc xã hội đó như thế nào.
          Các quan điểm của các chủ bút tờ Phụ nữ nhân văn và Phan Văn Hùm đã đối chọi với các bài xã luận vạch ra các quan điểm về việc khiêu vũ và tình yêu. Các biên tập viên cố gắng vượt ra ngoài giai cấp tư sản mới và gửi thông điệp về sự giải phóng phụ nữ trong phạm vi một bài phân tích về giai cấp. Các bài xã luận và bài báo này được đặt bên nhau để đối chiếu giữa các bản quảng cáo cho các sản phẩm chăm sóc trẻ em, kem bôi mặt ( ví dụ: Kem Radium với một bức tranh có hình một gương mặt hồng hào) và các bài báo phục vụ cho bạn đọc thuộc tầng lớp tư sản.
         Các bản quảng cáo và bài báo cổ vũ cho lối sống tư sản dưới ách đô hộ của Pháp đã mâu thuẫn với thông điệp của bài phân tích về giai cấp.


Phần kết luận đọc ở đâyhttp://chuyencuachi.blogspot.com/2013/07/an-pham-va-quyen-luc-cac-cuoc-thao-luan_8335.html
Chú thích:
46. Trong một trong những cuốn tiểu thuyết có tầm cỡ nhỏ hơn của mình, “ Tân Phong nữ sĩ ( 1937?)” Hồ Biểu Chánh dường như cham biếm tờ báo. Hof Biểu Chánh , một tác giả viét khoẻ, là nhà viết tiểu thuyết miền Nam hàng đầu trong những năm 1920 và đầu những năm 1930. Trong cuốn sách này, một nữ nhân vật chính tên Tân Phong điều hành một tờ báo dành cho nữ giới ở Sài Gòn gọi là Tân phụ nữ”. Cuộc sống mà cô sống có thể độc giả đương thời cho là bê bối.
47. Phan Khôi (1887-1959) là một trí thức nổi tiếng cuối những năm 30, ông là 1 học giả và là người phê bình đạo Khổng, một nhà viét tiểu luận cho  nhiều tờ báo Sài Gòn, Huế hà Nội và là người tham gia phong trào thơ mới đàu những năm 1930
48. Nguyễn Thị Chính, như tôi đã giả định, là một người Trốt kit, cô đã lấy một người Trốt kít là Tạ Thu Thâu (1905-1945), người sáng lập ra tờ báo Sài Gòn La Lutte.
49.Phần này dựa trên cuốn Vấn đề phụ nữ giải phóng với nhân sinh quan của Phan Khôi.PNTV. 7-7-1932, tr5-7
“Khái niệm nhân sinh quan” có nhiều nghĩa. Nó có thể được dịch tốt nhất là “ quan niệm về cuộc sống của con người” hay thậm chí “ quan niệm về bản chất con người, đôi khi tôi sử dụng thuạt ngữ “ quan điểm về thế giới” để biểu đạt ya này. Tôi xin cám ơn giáo sư Vĩnh Sính đã thúc dẩy tôi giải thích rõ điểm này.
         50. Như trên.
         51. Cùng sách trang 7. Những ý nghiã của viẹc xem xét như thế này thật là hay, Nhưng Phan Khôi không phát triển điểm này.
        52. Nguyễn Thị Chính “ Trả lời bài: Vấn đề phụ nữ với nhân sinh quan” PNTV 4-8-1932 tr9.
        53. Cùng sách, tr11
        54. Ví dụ xem nửa sau của bài tiểu luận của Phan Khôi với nhan đề “ Vấn đề phụ nữ giải phóng với nhân sinh quan” PNTV, 21-7 1932, tr5-8
        55.Ví dụ, đôi khi các tác giả liên hệ đến phụ nữ như  giai cấp.
        56.Những đặc điểm này xuất hiện trong nhiều bài báo trong PNTV ( nhất là các bài xã luận trong “ PNTV” ( Nhất là các bài xã luận năm 1934) và trong cuốn tiểu thuyết trước kia được ca ngợi của Hồ Biểu Chánh là “ Tân phong nữ sĩ”
       57. An Nam mới.4-1-1934
       58. Tiểu thuyết “ Trống mái” của Khái Hưng mang lại 1 sự kết hợp đề tài này với hình thể tự nhiên. Một phụ nữ trẻ xuất thân từ gia đình giàu có tên Hiên nhận thấy 1 ngư dân, tên voi, có một cơ thể đẹp. lúc đầu cô chỉ nghĩ đến việc nói chuyện với anh ta và chụp ảnh cơ thể anh ta. Cô đần dần nghĩ rằng cơ thể anh ta rất tuyệt nếu cưới anh ta- không phải cô yêu anh ta mà vì anh ta đẹp trai.
       59. Phong trào “Theo mới”- PNTV, 22-3-1934
      60. “ Phụ nữ với ái tình”- PNTV, 7-6-1934
       61. Cùng sách. Thái độ phản tín ngưỡng này được thấy trong các bài báo khác nhau của tờ báo. Nó nhắc lại thái độ chống giáo sĩ của nhiều trí thức người Pháp- và không chú ý gì đến những cuộc thảo luận mang tính trí thức của các nhà sư đạo Phật Việt Nam và công kích những người đó vào cuối những năm 1920-1930.
    62. “ ảnh hưởng của tiểu thuyết trng nữ giới PNTV 30-8-1934
    63 “ Phụ nữ với khiêu vũ PNTV 29-7-1934, tr2
    64 Vạch con đường đi PNTV, 29-3-1934, tr1-2

    65. Phan Văn Hùm “ Xã hội  cần có gia đình không” PNTV, 30-8-1934,tr7. Bài này minh hoạ cho một vấn đề chủ chốt với các ảnh hưởng lên suy nghĩ của người Việt Nam. Có phải chủ  nghĩa không tưởng của Phan Văn Hùm bắt nguồn từ tư tưởng Mác xít, từ quan điểm của Khang Hữu Vi rằng xã hội sẽ tiến hoá đến 1 điểm mà nó không cần gia đình giai cấp hay nhiều thể  chế khác, hay từ thời đại hoàng kim của Việt Nam? Phan Văn Hùm, thường được xếp loại là một người theo chủ thuyết Trốtkít ( chủ thuyết xét lại) viết các bài báo và sách về rất nhiều chủ đề- Như là phép biện chứng Mác xít, Wang Yang mong và đạo Phật

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC: NHỮNG DẤU TÍCH VĂN HÓA VẬT CHẤT

MỘT VÀI NÉT VỀ BÁO CHÍ VIỆT NAM THỜI THUỘC ĐỊA (1865-1945)

TỘC NGƯỜI VÀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI *