Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

Ấn phẩm và quyền lực: Các cuộc thảo luận ở Việt Nam xung quanh vấn đề vị trí của người phụ nữ trong xã hội, 1918-1934 (2)

 Shawn Mc Hale

Đặng Thị Vân Chi dịch từ:  Taylor KW  and Jonh. K.Whitmore(1995),  Editor. Essays in to Vietnamse pastsCornel University NewYork.
                                                                        
                                     2. Thế giới  độc giả
          Độc giả Việt Nam đã mang lại cho các bài viết các câu chuyện lịch sử về đời sống cá biệt, các kiểu đọc, các kĩ năng diễn giải và các quan niệm về quyền lực của chữ viết và chữ in. Thật không may là các học giả khi phân tích các bài viết tiếng Việt đã không thảo luận về mối quan hệ giữa việc đọc- hay người đọc với các bài viết. Họ cho là người Việt Nam thời đó đọc các bài viết theo cùng một cách như người Việt Nam, người Âu, người Mỹ ngày nay đọc. Phần này sẽ bàn về vấn đề đọc hay cụ thể hơn là về cách mà phụ nữ Việt Nam tiếp cận các bài viết.
          Trong 20 năm qua, nhiều nhà lý luận văn học và một số ít các nhà sử học đã chuyển sự quan tâm của họ từ việc chỉ tập trung vào các bài viết như một điểm để hiêủ nghĩa sang cách tiếp cận nhấn mạnh mối quan hệ giữa độc giả và bài viết.(13) Chartier, người tôi đã nhắc đến lập luận rằng: “ lịch sử của các kiểu đọc hẳn phải chỉ ra những thiên hướng đặc trưng ghi dấu các cộng đồng độc giả và và truyền thống đọc của họ” và điều đó - bằng cách mở rộng -cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thích ý nghĩa của văn bản.(14)
          Trong bối cảnh thực dân, việc chuyển hướng chú ý về phía người đọc góp phần tạo nên mối quan tâm lớn hơn đến cách mà khán thính giả (dù là người đọc, người nghe hay người xem cũng vậy) hiểu các bài viết và các buổi diễn. (15). Trong trường hợp người Việt Nam, nó tập trung sự chú ý vào vai trò tích cực mà  người Việt Nam có được  những ảnh hưởng  thích đáng từ bên ngoài.
Việc hiểu được các ảnh hưởng về văn học và lý luận trong khuynh hướng ban đầu của chúng không giúp chúng ta hiểu được cách người Việt Nam tái tạo ý nghĩa của chúng trong một ngữ cảnh khác. Chúng ta cần hiểu một cách không đơn giản  chỉ những ý nghĩa gắn với các bài viết khác nhau mà cả những tác động trong “phạm vi mong đợi” khác nhau, ví dụ như: một thời đại lịch sử và các quy ước về ý thức hệ khác nhau vẫn có cách để hiểu tác phẩm. (Ví dụ: Liệu chúng ta có thể nói một cách trung thực rằng sự đề cao  của trường phái lãng mạn đối với cá nhân được hiểu theo cùng một cách như   ở Pa ri thế kỉ XIX và ở Sài Gòn thế kỉ XX không? ý tưởng này nghe có vẻ ngớ ngẩn). Mặc dù chúng ta không thể tranh luận một cách máy móc rằng những chia rẽ về xã hội  quyết định việc hiểu các bài viết và một điều không kém phần đúng đắn là giới tính và địa vị xã hội có ảnh hưởng đến việc đọc và tiếp nhận các ấn phẩm in ra. Mặc dù trong nhiều trường hợp, độc giả đọc to lên cho những người khác trong nhóm nghe, các nhận xét của tôi trong các đoạn văn sau là xoay quanh độc giả. ( Kinh nghiệm nghe trong nhóm- dù trong bối cảnh theo nghi thức hay trong bối cảnh mà người nghe có thể đặt các câu hỏi với người đọc- đã giúp truyền đạt các ý kiến vượt ra ngoài phạm vi số ít những người có học.)
           Giữa những năm từ năm 1918 đến1930, giới độc giả Việt Nam đã có những thay đổi sâu sắc. Sự đi lên của nền văn hoá in ấn có ảnh hưởng lớn nhất- nhưng không giới hạn  trong giới thượng lưu ở các đô thị. Tôi đặc biệt muốn tìm hiểu về các độc giả nữ, những người tạo nên lực lượng bạn đọc chính của cả hai tờ báo mà tôi sẽ thảo luận chi tiết sau. Đối với những người phụ nữ có thể đọc và đủ khả năng mua các xuất bản phẩm, sách báo là những cửa sổ mở ra một thế giới rộng lớn hơn. Kiến thức và những kĩ năng diễn giải mà họ thể hiện cho các bài viết đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên những hiểu biết của họ về chữ in.
           Trước hết, để hiểu phụ nữ với tư cách  là độc giả và tác giả, chúng ta cần quán triệt một số đặc điểm mấu chốt về vị trí của họ trong xã hội. Những vai trò giới tính phát triển một cách tự nhiên từ năm 1918 đến năm 1934, nhưng ở cả hai thời điểm này phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu nắm quyền hành trong nhà nhiều hơn so với trong các lĩnh vực xã hội. Năm 1918, bà Sương Nguyệt Anh bình luận rằng: “ Phụ nữ như một ngọn đèn: ở trong nhà thì họ toả sáng rực rỡ, còn ra ngoài đường thì họ nhạt nhoà...(17). Sự đối lập mang tính biểu trưng phụ nữ/ việc nhà và đàn ông/ việc công đã định hình sự phát triển quá trình đọc và viết của phụ nữ. Nó có ảnh hưởng đến mọi thứ từ các loại sách mà tác giả viết về phụ nữ cho tới những chủ đề mà phụ nữ nghĩ rằng họ có thể thảo luận. Ví dụ Sương Nguyệt Anh đã tuyên bố rằng : tờ báo của bà trong khi đặt vấn đề về giáo dục phụ nữ “ sẽ không dám can thiệp vào chính trị, và cũng không dám mạo hiểm tranh đua với đàn ông” (18). Đến những năm 1930, phụ nữ đã bớt dè dặt trong việc đề cập đến các chủ đề chính trị và tham gia thảo luận về các vấn đề xã hội. Tuy nhiên nhiều đàn ông coi họ như những kẻ xâm  phạm  thế giới báo chí mà đàn ông cai trị. Thậm chí vào những năm 1930, các biên tập viên của của Phụ nữ tân văn đôi lúc đã phải tự vệ chống lại những nhà báo nam, những người có có khuynh hướng chế nhạo phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ của họ. Khi một nhà báo chuyên mục của tờ Phụ nữ tân văn thực hiện một chuyến đi diễn thuyết để cổ vũ cho phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ năm 1934 ( và cả tờ báo mà bà cộng tác ), một số phóng viên đã đặt câu hỏi về đạo đức của bà. Rõ ràng là phụ nữ đã tiến xa kể từ năm 1918, nhưng họ vẫn bị coi như những ngọn đèn chỉ  toả sáng nhất trong nhà. Nói tóm lại phạm vi công chúng  bị phân chia trong khoảng 1918 và 1934, và tình trạng này chỉ thay đổi một cách chậm chạp.
           Nghề làm báo của phụ nữ cũng phải đối mặt với một trở ngại chủ yếu nữa: Có ít phụ nữ Việt Nam có thể đọc được. Những người này thường thuộc giới thượng lưu- mặc dù một số phụ nữ nghèo cũng học được kĩ năng đọc.(19) Việc học đọc quả là hứng thú cũng như đôi khi nhầm lẫn. Bà Tuyết Mai bày tỏ những cảm giác này khi bà chia sẻ những kinh nghiệm đọc sách đầu tiên với một bạn đọc trong số những độc giả của báo Nam Phong:
          “ Tôi đã học từ lâu , nhưng chỉ mới bắt đầu học chữ quốc ngữ... Cho tới lúc đó tôi chỉ học tiếng Pháp. Mặc dù chữ quốc ngữ đã được dạy ở trường, người ta chỉ học nó một tuần một buổi và một trong những buổi đó cũng là giờ chơi của chúng tôi.
          Tôi nghĩ về việc chữ quốc ngữ có giá trị như thế nào đối với chúng ta, nó cần thiết như thế nào, tuy nhiên chúng tôi chỉ có một giờ mỗi tuần để học nó. giờ học đó lại bị coi thường, khinh thị. tôi vẫn không hiểu tại sao. Trước tình hình đó, tôi cảm thấy chán ngán và mệt mỏi. tôi thấy dạ dày rỗng tuếch. Tôi vẫn không hiểu tại sao chữ tây ( tiếng Pháp) lại được coi trọng đến vậy trong khi tiếng mẹ đẻ lại bị coi khinh như vậy.
          Tôi thật may mắn khi thầy của tôi với lối nghĩ sâu xa, đầy lo lắng đã nhất quyết dạy chúng tôi chữ quốc ngữ. giờ học chữ quốc ngữ giờ đây trở nên quan trọng và quý giá, và không còn bị thờ ơ như trước đây. tôi hoàn toàn  rất vui sướng và cảm động. Do đó tôi bắt đầu học chữ quốc ngữ.”(20)
           Tôi muốn nêu bật một vài điểm về đoạn viết này. Người đọc hẳn phải ngạc nhiên về việc chữ quốc ngữ có giá trị như thế nào đối với Tuyết Mai. Trong khi đó người viết đoạn văn này cảm thấy người Pháp coi chữ quốc ngữ thấp kém hơn ngôn ngữ của mình. Thực ra nhiều người Việt Nam cảm thấy ngôn ngữ của họ thấp kém hơn so với tiếng Pháp. Trong một bài báo năm 1934, nhà báo Nguyễn Thị Kiêm nhắc đến việc bà có hỏi một số phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu tại sao họ không bao giờ dùng tiếng An nam, hay đọc sách chữ quốc ngữ, họ trả lời rằng “tiếng An nam khó hiểu và chẳng rõ ràng chút nào.” (21). Quan niệm về tính thấp kém của ngôn ngữ có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đối với cách mà người Việt Nam thuộc tầng lớp thượng lưu liên hệ việc đọc với sự đô hộ của thực dân.
           Các độc giả nữ không có một kiến thức nền hay lịch sử để áp dụng khi đọc các bài viết  như nam giới. Tình trạng này đã dẫn đến việc các bài báo giải thích việc đọc là gì và nó làm gì : một điều tức cười trong những điều tức cười, bởi vì các bài báo này sẽ được hiểu chủ yếu thông qua việc đọc! Năm 1931, một tác giả kí dưới bài báo của bà ( hay ông) là “T .V” đã chỉ ra rằng:
 “ Việc đọc không chỉ đơn thuần là mở bất kì quyển sách nào, nhìn vào nó và nghĩ về nó. Việc đọc cũng đòi hỏi có phương pháp...
           Tất cả các quyển sách đều có một hệ thống, có nghĩa là có phần mở đầu và phần kết luận. Mọi người nên đọc từ chương đầu tiên cho đến chương cuối cùng. Đừng có nhảy cóc khi đọc. Và đừng có đọc từ giữa chương sau đó quay lại từ đầu.
          Còn đối với những quyển sách không có hệ thống thì mọi người chắc chắn không  được đọc theo kiểu như vậy. Việc bạn đọc từ giữa hay giữa một đoạn văn cũng chẳng khác gì nhau. Ví dụ trong một tuyển tập thơ, bút kí hay chuyện ngắn, chẳng có lí do gì để đọc từ đầu đến cuối cả” (22)
           Lời khuyên này có lẽ rất rõ ràng đối với chúng ta- nhưng nó cho thấy nhiều độc giả chưa nắm được những gì chúng ta coi là bước thực hành cơ bản. tác giả tiếp tục chỉ ra rằng các loại tài liệu khác nhau thì cần các phương pháp đọc khác nhau. Thơ và bài hát cần được học thuộc, ngược lại triết  và khoa học cần được đọc để nắm được ý chính. Khi đọc các quyển sách cũ, mọi người cần cố gắng hiểu chúng bằng đôi mắt của một người thời đó.(23)
           Từ những lời trích dẫn trên, chúng ta thấy rằng việc đọc sách cần được nuôi dưỡng và thực hiện có phương pháp. Người đọc cũng nhận thấy rằng nó có một khía cạnh về đạo đức. Trong một bài báo trên Nam phong năm 1930, một nữ tác giả nổi tiếng từ Hà Tiên là Mộng Tuyết khẳng định rằng:
          “ Thông qua việc đọc sách, ta có thể mở mang trí tuệ, thấu hiểu quá khứ và hiện tại, thấy những điều đáng quan tâm và học chúng và được cảnh báo về các điều tầm thường. Thông qua việc đọc sách một con người ngu ngốc có thể trở nên khôn ngoan. Sự  thông thái đó là đạo đức và thành thực khác với sự xảo quyệt và lừa lọc  của những kẻ  vô học.”(24)
           Lời trích dẫn trên chứa đầy tính thượng lưu và chủ nghĩa đạo đức . Mặc dù nó do một phụ nữ viết, nó cũng có thể được viết bởi một người đàn ông. nhưng phụ nữ thực sự đã thấy rằng việc đọc và học có những chức năng khác nhau đối với nam giới và phụ nữ. Thay vì đóng vai trò của những người đọc thụ động đối với chữ viết và chữ in, phụ nữ ngày càng coi việc đọc là quyền lợi của riêng họ. Năm 1933, một chủ bút của Phụ nữ tân văn hô hào cổ vũ phụ nữ đọc từ một quan điểm của phụ nữ.: “ Khi bạn đọc một quyển sách hay đọc  một tờ báo, hãy tự hỏi liệu nó ủng hộ hay làm phương hại đến lợi ích của chúng ta ( các lợi ích về) phong trào phụ nữ” (25).Thái độ này có thể là phản ứng trước thực tế là hầu hết các tài liệu in ấn đều nhằm vào phái nam.
           Từ năm 1918 đến những năm 1930, việc đọc nói chung đã hoàn thành các chức năng giáo dục và mang lại phẩm giá. Các bài viết thường tự cho nó là một hoạt động của nam giới. Tuy nhiên các tác giả nam thỉnh thoảng cũng cổ vũ phụ nữ đọc, hẳn là do những ảnh hưởng tốt có thể có, nhưng họ cũng gửi đến bức thông điệp úp mở bằng cách cảnh báo về những nguy hiểm của việc đọc. Ví dụ một nhà bình luận là nam giới đã tranh luận một cách dè dặt rằng: giáo dục nói chung  giúp phụ nữ kiềm chế dục tình, trong khi một nhà bình luận khác nhắc nhở người đọc rằng một số phụ nữ trẻ đã tự tử ở Hà Nội sau khi đọc sách .(26) Cách hiểu mang tính đạo đức về việc đọc này, với thông điệp mơ hồ, thay đổi một cách chậm chạp. Các bài viết của Sương Nguyệt Anh và Mộng Tuyết chỉ ra rằng việc đọc sách có thể nang cao giá trị và trí tuệ của phụ nữ. Trong những năm 1920 và những năm 1930, việc kêu gọi phụ nữ học hành và học đọc rất phổ biến, ngay cả khi kết quả vẫn còn khiêm tốn.
           Trong các trang báo của tờ  Nữ giới chungPhụ nữ tân văn cũng như các tờ báo khác, vai trò về đạo đức của việc đọc và viết thường được nhấn mạnh đồng thời rằng việc đọc ngày càng ít được coi là một hoạt động thuộc giới tính. hơn nữa, trong khi dường như có thoả thuận về yêu cầu đạo đức  thì lại không có sự nhất trí nào việc tính đạo đức đó là gì. Kết quả thật lộn xộn, vì người viết cố gắng cảm nhận về ảnh hưởng của phương Tây, Trung Quốc và Việt nam đối với xã hội Việt Nam và xác định 1 đường lối hiện đại, nhưng mang chất Việt Nam.

Phần tiếp theo: " Các trang báo của Nữ giới chung năm 1918" đọc ở đây:
 http://chuyencuachi.blogspot.com/2013/07/an-pham-va-quyen-luc-cac-cuoc-thao-luan_779.html

Chú thích:
13. Ba người ủng hộ hàng đầu lời bình phẩm nghiêng về phía khán giả hơn” là Wolggang Iser, Hans Robert Jauss và Stanley Fish. đối với những lời giới thiệu cho đường hướng đáng chú ý của Iser, nghệ thuật tiếp nhận mang tính lịch sử của Jaus và sự phát triển khái niệm “ cộng đồng diễn giải ( hay cộng đồng chia sẻ những quy tắc đọc của Fish, xem Wolggang Iser” Quá trình đọc: một đường hướng đáng chú ý” trong lời bình phẩm hồi đáp độc giả: từ chủ nghĩa hình thức đến hậu chủ nghĩa kết cấu” Jame Tompkins ( Batimore Johns Hopkin University Press, 1980) các trang50-69, bài tiểu luận trích dẫn của Hans Robert Jauss, ‘ lịch sử văn học như một thác thức đối với học thuyết văn học” trong cuốn “Hướng  về nghệ thuật tiếp thu” của ông ( Minneapolis: University ò Minnesota Press, 1982) các trang 2-45, Standley Fish, “ có bài viết nào trong giai cấp nào không? - “ quyền lực của các cộng đồng diễn giải ( Cambridge: Havard University Press, 1980)
14. Roger Chartier  “ Le monde representation” tr1510
15. lối tiếp cận đó gây tiếng vang với những nghiên cứu lịch sử gần đây của Vicênt Rafael và Takaski Shiraishi, nhấn mạnh cách mà mọi người dân bản sứ  hấp thu những ảnh hưởng từ bên ngoài qua ‘ cách dịch”. Xem Vicent Rafael “ Chủ nghĩa thực dân gò bó”: Việc dịch và việc cải đạo Cơ đốc giáo trong xã hội Ta ga log dưới ách thống trị của Tây ban nha” ( Ithâc: Cornell University Press, 1988) và Takashi Shiraishi “ một thời đại chuyển động” ( Ithaca Cornell University press. 1990
16. Trong hai thập kỉ trước Hans Robert Jauss đã đề cập đến vấn đề thay đổi những ước vọng từ phía độc giả và họ có ảnh hưởng thế nào đối với việc tiếp thu 1 tác phẩm. nghệ thuật tiếp thu của Jaus cố gắng cung cấp cơ sở lí thuyết cho các cách hiểu lich sử khác nhau về tác phẩm nhất định, tranh luận rằng những lối tiếp cận khác nhau phụ thuộc vào điều kiện “ các phạm vi ước vọng” khác nhau từ phía độc giả. xem các bài tiểu luận được thu thập trong cuốn Toward an Aesthetic of  Reception của Hans Jauss
17. Sương Nguyệt Anh, ‘ lời tựa đầu .Nữ giới chung 1-2-1918 tr2
18 Như trên
19 Một ví dụ thú vị là Nguyễn Thị Thập, sinh năm 1908, sau đã trở thành chủ tịch Hội phụ nữ Việt Nam. trong hồi kí bà viết lúc còn bé.
“ Tôi thích đọc sách một cách điên cuồng. mỗi khi tôi mang những rổ chuối hay cây cọ đến chợ để bán, tôi không dám ăn quá  nhiều bánh. Tôi muốn tiết kiệm tiền để mua sách đọc. Những quyển sách này nhỏ mỏng như  Vỏ Đống Sổ, Bách Thủ Hạ, vì nước hoà rôi, Giọt máu chung tình... tôi đọc đi đọc lại chúng. tôi không bao giờ chán chúng.
Nguyễn Thị Thập : Từ đất Tiền Giang (Đoàn Giỏi viết lại). TP Hồ Chí minh, NXB Văn Nghệ 1986
20 Tuyết Mai, Bông hoa đầu mùa. nam Phong, 118- 7/1927, tr526
21. Nguyễn Thị Kiêm. “ Sự học và việc làm của phụ nữ. PNTV. 15-3-1934, tr5.
22 TV. Câu truyện đọc sách. PNTV 21-12-1933 tr5
23 Như trên
24. Mộng Tuyết “ Bông hoa đua nở, nam Phong.146-1/1930
25 Bài xã luận: thái độ của ta đối với báo chí và sách vở pNTV 22-1-1933 tr6.

 26. Thiếu Sơn “ Sự học và đàn bà” PNTV 7-9-1933, tr8, Tv  Câu truyện đọc sách...


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét